1/ Đặt vấn đề :
Trong các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản của con người, vô sinh
không chỉ là lĩnh vực đang được quan tâm ở nước ta mà còn là một trong những
vấn đề hàng đầu trong chiến lược sức khỏe sinh sản trên tồn cầu.
Chẩn đốn và điều trị hiếm muộn là một nội dung mang ý nghĩa nhân văn,
đầy tính nhân đạo và khoa học. Trong nhiều thập kỷ qua ngành phụ sản Việt Nam
đã khám và điều trị vô sinh cho nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn, song kết quả còn
nhiều hạn chế.
Nguyên nhân của vô sinh vô cùng phức tạp. Việc chẩn đốn nguyên nhân đòi
hỏi một quá trình thăm khám tỉ mỉ, kết hợp với những xét nghiệm thăm dò phong
phú, chính xác.
Năm 1935, Stein và Leventhal là những người đầu tiên mô tả các triệu
chứng phức tạp có liên quan đến không rụng trứng, do đó, trước đây, còn được gọi
là hội chứng Stein- Leventhal. Hiện nay, hội chứng buồng trứng đa nang là tên gọi
được sử dụng rộng rãi nhằm mô tả đặc điểm chính của hội chứng này là hình ảnh
buồng trứng đa nang thấy trên hình ảnh siêu âm.
Trong suốt 60 năm qua, rất nhiều nghiên cứu của các nhà phụ khoa và nội
tiết học đã được tiến hành để khảo sát buồng trứng đa nang. Nhiều giả thuyết về
nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh và hướng điều trị của hội chứng buồng trứng đa
nang đã được đưa ra, tuy nhiên, các vấn đề này vẫn còn đang được bàn cãi rất
nhiều. Đến năm 1985, Adams là người đưa ra các tiêu chuẩn chẩn đốn hội chứng
buồng trứng đa nang một cách hồn chỉnh nhất.
Đề tài “Hội chứng buồng trứng đa nang” giúp người viết hiểu thêm về
một bệnh lý nội tiết thường gặp nhất ở phụ nữ và là một nguyên nhân phổ biến nhất
của vô sinh do không rụng trứng.
2/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu: Cơ quan sinh sản nữ.
Phạm vi nghiên cứu: Chỉ đề cập đến sinh lý sinh sản nữ và tập trung nghiên
cứu hội chứng buồng trứng đa nang- một trong những nguyên nhân gây vô sinh ở
nữ.
3/ Phương pháp nghiên cứu:
1. Liệu pháp gen chữa bệnh rối loạn chức năng gen 8
2. Liệu pháp gen chữa bệnh ung thư…………………………………………….8
3. Liệu pháp gen chữa bệnh do sự thay đổi chức năng
protein……………… 10
4. Liệu pháp gen chữa bệnh rối loạn chuyển hóa ion
Chlo…………………….11
5.Liệu pháp gen chữa bệnh HIV/AIDS……………………………………… 11
6.Liệu pháp gen chữa các bệnh khác………………………………………… 13
VI.VẤN ĐỀ AN TỒN VÀ TRIỂN VỌNG CỦA LIỆU PHÁP GEN………… 14
1. Vấn đề về an tồn của liệu pháp gen……………………………………… 14
2. Triển vọng của liệu pháp gen ở Việt Nam………………………………… 14
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………… 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………… 16
2
PHẦN NỘI DUNG
SINH LÝ SINH SẢN NỮ.
I. ĐẠI CƯƠNG.
Chức năng sinh sản nữ có thể chia làm hai giai đoạn chính:
* Giai đoạn chuẩn bị cơ thể người phụ nữ cho sự thụ thai và mang thai.
* Giai đoạn mang thai.
II. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC BỘ MÁY SINH SẢN NỮ:
1. Buồng trứng:
Kích thước buồng trứng trưởng thành 2,5- 5 x 2 x 1cm, nặng khoảng từ 4
đến 8 gam. Trọng lượng của chúng thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt. Ở tuần 30 của
thay nhi có 2 buồng trứng với 6 triệu nang trứng nguyên thủy, sau đó phần lớn
chúng bị thối hóa, chỉ còn lại 2 triệu nang vào lúc mới sinh, dậy thì chỉ còn 300.000
đến 400.000 nang. Trong suốt thời kỳ sinh sản của nữ khoảng 30 năm chỉ còn
khoảng 400 nang có thể phát triển đạt tới độ chín và xung nỗn hàng tháng, số còn
lại bị thối hóa.
Hình 1.4 tr 9 SEANG
Môi trường âm đạo vốn có tính acid (pH 5,7), không thuận lợi cho tinh
trùng, sẽ được trung hòa bởi tinh dịch có tính kiềm. Đến 99% tinh trùng bị giữ lại ở
đây và chỉ một phần thốt ra khỏi tinh tương đang đông lại một cách nhanh chóng để
tiến xa hơn.
5. Cơ quan sinh dục ngồi:
Âm đạo thông ra ngồi qua lỗ sinh dục. Hai nếp da, có tên là môi nhỏ, viền
hai bên lỗ sinh dục. Hai mào dày, các môi lớn, bảo vệ tồn bộ vùng này. Nằm sát lỗ
sinh dục là hai tuyến Bartholin tiết dịch nhờn, có tác dụng bội trơn trong quá trình
giao phối. Phía bụng của vùng sinh dục là âm vật, gồm thân, đầu và bao âm vật.
Thể hang của âm vật ứng với thể hang dương vật. Còn thể xốp ở phần gốc các môi
nhỏ thì tương ứng với thể xốp bao quanh niệu đạo ở nam. Ở trạng thái kích thích,
thể hang nhận đầy máu, âm đạo nở rộng và kéo dài.
III. ĐIỀU HÒA HOẠT ĐỘNG CỦA BUỒNG TRỨNG :
(3)
Vùng dưới đồi
(2) Gn- RH
Tuyến yên
FSH LH (1) Buồng trứng
Estrogen
Progesteron
Máu
Sơ đồ điều hòa tuyến sinh dục nữ
(1): Điều hòa ngược vòng dài
gái trước tuổi dậy thì.
Khoảng 9- 10 tuổi, FSH và LH bắt đầu được tiền yên tiết ra. FSH và LH gắn
lên các receptors chuyên biệt ở màng tế bào buồng trứng. Các receptors được hoạt
hóa, kích thích sự tạo lập AMP vòng, gây sự tổng hợp các men xúc tác các hoạt
động trong tế bào.
Nang trứng nguyên thủy (primordial follicle) bị FSH và LH kích thích, làm
cho trứng lớn lên gấp 2- 3 lần, số lớp tế bào hạt cũng tăng, nang trứng ở giai đoạn
này được gọi là nang trứng sơ cấp (primari follicle).
FSH làm tăng trưởng khoảng 6- 12 nang trứng sơ cấp mỗi tháng. Tế bào mô
kẽ buồng trứng bao bọc nang tạo nên lớp vỏ nang có 2 lớp.
* Vỏ trong: có khả năng tiết các kích thích tố estrogen.
* Vỏ ngồi: mô liên kết có nhiều mạch máu.
Sau đó các tế bào hạt kề lớp vỏ trong bắt đầu tiết dịch nang có nồng độ
estrogen cao, nang trứng phát triển thành nang hốc (antral or vesicular follicle). Sự
tăng trưởng này là do:
* Estrogen được tiết vào nang bởi tế bào hạt, làm gia tăng số lượng FSH
receptor, tức là một cơ chế điều hòa ngược dương, làm nang trứng càng nhạy cảm
với FSH.
* FSH và estrogen kích thích LH- receptor của tế bào hạt, làm cho tế bào
này cũng chịu sự kích thích của LH và tăng tiết.
* Estrogen và LH kích thích sự tăng trưởng của tế bào vỏ và sự bài tiết của
chúng.
Do đó nang phát triển rất mạnh. Sau một tuần phát triển, có một nang hốc
vụt phát triển hơn các nang khác, các nang kém phát triển bắt đầu thối hóa và teo
lại, nang phát triển lúc này gọi là nang hốc trưởng thành (mature vesicular follicle)
hay nang de Graaf trưởng thành (mature graafian follicle).
6
H 16.1 tr191 Mai
Cấu trúc một nang nỗn trưởng thành
H 16.4 193 Mai
Tế bào vỏ tiết ra androgen nhưng bị tế bào hạt chuyển thành kích thích tố
nữ.
Hồng thể phát triển đến mức tối đa vào ngày thứ 21- 22 của chu kỳ, rồi bắt
đầu thối hóa. Lý do là estrogen và nhất là progesterone do hồng thể tiết ra, ức chế
ngược lại sự tiết FSH và LH. Các tế bào hồng thể cũng tiết inhibin (như tế bào
sertoli của tinh hồn), ức chế chủ yếu FSH. Do đó FSH và LH giảm xuống, thiếu
FSH, LH, hồng thể thối hóa đúng vào ngày thứ 26 của một chu kỳ 28 ngày. Lúc đó,
hồng thể mất khả năng bài tiết kích thích tố nữ và lipid, hóa thành thể trắng,
estrogen và progesterone giảm. Hồng thể được tạo ra bởi LH nhưng chỉ sau khi
trứng rụng.
Không còn có sự ức chế của estrogen, progesterone và inhibin, FSH và LH
bắt đầu được tiết ra. Một chu kỳ mới bắt đầu, với sự thấy kinh do nội mạc tử cung
bị tróc.
Trong trường hợp thụ thai, lá nuôi hợp bào (syncytial trophoblast) tiết ra
human chorionic gonadotrophin (HCG). HCG có tác dụng giống LH, làm hồng thể
tiếp tục phát triển và tiết estrogen, progesterone để giữ gìn nội mạc tử cung, để duy
trì bào thai. Hồng thể thối hóa vào khoảng tuần lễ từ 13 đến 17 sau khi thụ thai, lúc
mà rau thai đã tự tiết đủ estrogen và progecterone để duy trì thai. Do đó nếu lấy
hồng thể ra trước tuần lễ thứ 7, có khi đến tuần lễ thứ 12 sau khi thụ thai, thai sẽ bị
sẩy.
9
Tóm lại:
Vào nhưng ngày đầu của một chu kỳ kinh nguyệt 28 ngày, do tác dụng của
GnRH, và kích thích tố gonadotropin của tiền yên FSH, LH được tiết ra, làm cho
các nang trứng lớn lên. Chỉ có một nang trứng chín và rụng trứng vào ổ bụng, vào
ngày thứ 14. Trong giai đoạn này chủ yếu estrogen được tiết ra từ nang trứng.Sau
khi rụng trứng, các tế bào hạt trong nang biến đổi thành hồng thể, tiết ra một lượng
lớn estrogen và progesterone, làm ức chế FSH và LH. Do đó, vào ngày thứ 26 của
chu kỳ, hồng thể thối hóa, estrogen và progesterone giảm theo, gây ra kinh nguyệt.
Một chu kỳ khác được bắt đầu.
trơn tử cung tăng co bóp.
Estrogen làm niêm mạc lòng ống dẫn trứng tăng tuyến, tăng tế bào tiêm mao
của ống, cũng như hoạt động của chúng, để đẩy trứng vào tử cung.
+ Trên tuyến vú:
Estrogen làm tăng mô cơ bản của tuyến vú, làm phát triển hệ thống ống dẫn
sữa và làm tích tụ mỡ ở tuyến vú, làm cho vú nở.
+ Trên xương:
Estrogen làm tăng hoạt động của các tế bào xương. Do đó bé gái dậy thì phát
triển chiều cao nhanh trong vài năm. Nhưng estrogen cũng làm đầu xương gắn vào
thân xương mạnh hơn testosterone, nên sự chấm dứt phát triển chiều cao xảy ra
sớm hơn nam. Sau khi mãn kinh, estrogen không được tiết nữa làm:
- Giảm hoạt động sinh xương của các cốt bào.
- Giảm sự tích tụ calcium và phosphate lên xương.
Nếu nặng sẽ gây lỗng xương (osteoporosis), đưa đến gãy xương, nhất là các
đốt sống.
+ Trên chuyển hóa protein:
Estrogen làm tăng tổng hợp protein nhẹ và chỉ ở các mô đích. Khả năng tổng
hợp protein của testosterone mạnh hơn rất nhiều so với estrogen và có tác dụng trên
tồn cơ thể.
+ Trên chuyển hóa và phân phối mỡ :
Estrogen làm tăng chuyển hóa, nhưng chỉ bằng một phần ba testosterone.
Estrogen làm tích tụ mỡ ở dưới da, đặc biệt ở ngực, mông và đùi, tạo nên
hình dáng của phụ nữ.
+ Trên lông và tóc :
Estrogen không ảnh hưởng nhiều trên sự phân phối lông. Lông nách và lông
mu xuất hiện nhiều lúc dậy thì, có lẽ còn do tác dụng của androgen của vỏ thượng
thận.
11
+ Trên da :
V. CHU KỲ KINH NGUYỆT .
Dưới tác dụng của estrogen và progesterone tiết ra theo chu kỳ từ buồng
trứng nội mạc tử cung cũng thay đổi theo chu kỳ; gồm 3 giai đoạn. Thứ nhất là giai
đoạn tăng sinh nội mạc tử cung, thứ hai nội mạc tử cung bắt đầu xuất tiết, và cuối
cùng là tróc nội mạc tử cung, tức là thấy kinh.
1. Giai đoạn tăng sinh của nội mạc tử cung:
Đầu chu kỳ (ngày thấy kinh đầu tiên) nội mạc tử cung bị tróc. Sau đó chỉ
còn một lớp mỏng tế bào nền của nội mạc tử cung ở vùng đáy. Các biểu bì chỉ còn
sót lại trong lòng tuyến và các nếp gấp của nội mạc. Dưới tác dụng của estrogen do
nang trứng tiết ra, trong nửa đầu của chu kỳ, các tế bào nền và biểu bì tái tạo nhanh
chóng. Các tuyến nội mạc và mạch máu cũng phát triển. Vào thời điểm rụng trứng.
nội mạc tử cung dầy khoảng 3- 4 mm. Thêm vào đó, các tuyến nội mạc, nhất là ở
vùng cổ tử cung tiết ra chất nhầy trong và lỗng, có dạng sợi xếp dọc ở vùng cổ tử
cung, giúp cho tinh trùng đi theo đúng hướng, từ cổ vào trong tử cung.
2. Giai đoạn xuất tiết của nội mạc tử cung.
Ở nửa sau của chu kỳ, hồng thể tiết nhiều estrogen và progesterone.
Estrogen làm nội mạc tử cung tăng sinh thêm, nhưng progesterone làm cho nội
12
mạc tử cung phồng lên và xuất tiết. Các tuyến trở nên ngoằn ngoèo, tiết nhiều
chất tiết. Lipid và glycogen tích trữ trong tế bào nền (stroma cell). Các mạch máu
cũng gia tăng và ngoằn ngoèo.
H. tr 9 tập hình
Chu kì kinh nguyệt bình thường
1. Nồng độ hormon tính theo đơn vị tự chọn; 2.Các hiện tượng trong buồng
trứng;
3. Các hiện tượng trong tử cung.
13
Tất cả sự biến đổi này là làm cho nội mạc tử cung có nhiều chất dinh dưỡng
dự trữ, để nuôi trứng thụ tinh và tạo điều kiện thuận lợi cho trứng làm tổ. Trong
thời gian trứng chưa xâm nhập nội mạc tử cung, chất tiết “sữa tử cung” sẽ nuôi
thai gái hay trai sẽ hình thành.
Khi trứng rụng, trứng cùng với hàng trăm tế bào hạt bao quanh, tạo thành
vòng tia (corona radiata), rơi thẳng vào ổ bụng. Các tua vòi vủa ống dẫn trứng
Fallope thường phủ quanh buồng trứng, các tiêm mao mặt trong các tua vòi liên tục
quét về phía lổ của vòi, tạo nên một luồng nước hút về lổ vòi (abdominal ostium).
Nhờ vậy mà trứng được đưa vào ống dẫn trứng trong 98% trường hợp.
Sau khi phóng tinh, chỉ có một vài tinh trùng đi đến bầu (ampula) của ống
dẫn trứng sau 5- 10 phút. Sự thụ tinh thường xảy ra ngay sau khi trứng đến bầu ống
dẫn trứng khoảng một phần ba ngồi của vòi trứng.
Tinh trùng phải xuyên qua được một lớp vòng tia (corona radiata) và màng
trong suốt (zona pellucida) mới vào được trứng. Khi vào được trứng, đầu tinh trùng
phồng lên tạo “tiền- nhân- nam”. Tiền nhân nam và “tiền nhân nữ”(male
pronucleus) sẽ kết hợp để tạo nên 46 nhiễm sắc thể (23 cặp) của trứng thụ tinh.
14
Sau khi thụ tinh, trứng phải mất 3- 4 ngày nữa mới đến được lòng tử cung.
Lúc vào đến tử cung, trứng đã phân chia ra khoảng 100 tế bào, gọi là phôi nang
(blastocyst).
Khi đến tử cung, phôi nang còn ở trong lòng tử cung 2- 4 ngày mới xâm
nhập vào nội mạc tử cung: tức khoảng ngày thứ 7 sau khi rụng trứng: ngày 21 của
chu kỳ. Trước đó phôi nang được nuôi bởi chất sữa tử cung.
Phôi nang xâm nhập vào nội mạc tử cung được là nhờ các tế bào lá nuôi
(trophoblast) ở trên bề mặt tiết ra các men tiêu hủy protein, làm tan các tế bào nội
mạc.
Các chất dinh dưỡng được lá nuôi hấp thụ tích cực rồi đem đến nuôi phôi
nang. Sau khi đã xâm nhập vào tử cung, lá nuôi và các tế bào con phía dưới tăng
sinh nhanh chóng, tạo rau thai và các màng khác.
Progesterone tiếp tục tiết ra làm cho tế bào nội mạc tử cung tiếp tục phồng
lớn và tích chứa nhiều chất dinh dưỡng. Các tế bào này có tên là tế bào rụng
(decidual cells) và tồn bộ nội mạc tử cung được gọi là màng rụng (decidua). Phôi
lấy chất dinh dưỡng từ màng rụng cho đến tuần lễ thứ 8, mặc dầu nhau đã bắt đầu
hóa đi.
Lý luận để bảo vệ giả thuyết này là: mô đệm vỏ buồng trứng đa nang tăng
sinh là một biểu hiện của quá trình thối hóa; dịch nang có chứa nồng độ cao
androgen, nồng độ estrogen thấp, biểu hiện của việc giảm hoạt động thơm hóa tại
nang, đây cũng là một dấu hiệu của quá trình thối hóa của nang nỗn.
Tuy nhiên, trên thực tế, khi cấy mô buồng trứng đa nang, các nhà nghiên
cứu thấy rằng không có hiện tượng thối hóa của nang nỗn nhiều hơn các mô buồng
trứng bình thường.
2. Tác động của FSH và hoạt động thơm hóa.
FSH có tác dụng kích thích sự phát triển nang nỗn và kích thích sự tổng hợp
estrogen. Để các hoạt động này bình thường, cần có FSH hoạt hóa bên trong dịch
nang, có đầy đủ thụ thể của FSH ở tế bào hạt, có đầy đủ tiền chất để tổng hợp
estrogen và có men thơm hóa hoạt động bình thường. Một số tác giả cho rằng trong
hội chứng buồng trứng đa nang, có sự giảm nồng độ estrogen trong dịch nang do
giảm nồng độ FSH hoạt hóa trong nang, hoặc có hiện tượng tăng ngưỡng đáp ứng
với kích thích FSH của thụ thể FSH. Hơn nữa, khi sử dụng FSH ngoại sinh, có sự
tăng đáp ứng với FSH ngoại sinh và tăng hoạt động thơm hóa để tổng hợp estrogen.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu thử nghiệm sự sản xuất estrogen của mô buồng
trứng đa nang invitro, kết quả cho thấy có sự hoạt động bình thường của thụ thể
FSH, men thơm hóa và quá trình tổng hợp estrogen từ FSH.
16
3. Tác động LH và cường androgen máu:
Trong hội chứng buồng trứng đa nang, mô đệm buồng trứng dày và có tình
trạng tăng LH và androgen trong máu. Các yếu tố này dẫn đến tình trạng thối hóa
của nang dưới tác dụng có hại của androgen trên nang nỗn. Cường androgen do
tình trạng cường chức năng mạn tính của LH. Béo phì và tăng insulin máu cũng
đóng vai trò trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng buồng trứng đa nang. Insulin
điều hòa hoạt động của LH tại các tế bào buồng trứng, đặc biệt là gia tăng sự sản
xuất androgen. Tuy nhiên cường độ androgen máu có luôn là nguyên nhân nguyên
phát của hội chứng buồng trứng đa nang hay chỉ là hậu quả của một bất thường
Hội chứng buồng trứng đa nang được biểu hiện dưới nhiều triệu chứng lâm
sàng khác nhau, tuy nhiên bệnh nhân thường đến khám vì rậm râu, thiểu kinh và vô
sinh. Ngồi ra, cao huyết áp, tiểu đường, đề kháng insulin và béo phì thường xảy ra
trong các gia đình của bện nhân có hội chứng buồng trứng đa nang cùng với các bất
thường về nội tiết và các rối loạn chức năng tinh hồn ở các thành viên nam trong
gia đình.
17
1.2. Béo phì.
Béo phì được xem như là một tiêu chuẩn chẩn đốn quan trọng bởi vì nó đặc
trưng cho khả năng chuyển hóa androgen thành estrogen ở mô mỡ ngoại biên.
Trọng lượng cơ thể thường được tính bằng chỉ số BMI (body mass index-
được tính bằng trọng lượng chia cho chiều cao), và thường béo phì được chẩn đốn
khi BMI > 25.
Có trên 80% các bệnh nhân bị hội chứng buồng trứng đa nang bị béo phì
trước tuổi dậy thì. Ngồi ra nhiều nghiên cứu cho thấy béo phì có liên quan với việc
gia tăng sản xuất androgen và gia tăng tần suất vô kinh. Tuy nhiên, béo phì chỉ xảy
ra ở 35- 60% các bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang, và ngược lại, tất cả
các phụ nữ béo phì không phải ai cũng có những rối loạn về nội tiết.
1.3. Rậm râu, lông.
Rậm râu là một biểu hiện lâm sàng của cường androgen vàcũng là một tiêu
chuẩn chẩn đốn chính của hội chứng buồng trứng đa nang. Tuy nhiên sự phát triển
của lông ở một vài vĩ trí trên cơ thể có thể do các yếu tố di truyền hay là đặc điểm
của một số chủng tộc.
1.4. Thiểu kinh/ Vô kinh.
1.5.Vô sinh.
Bệnh nhân đến khán vì vô sinh. Sau các khám xét về lâm sàng và nội tiết,
bệnh nhân được chẩn đốn hội chứng buồng trứng đa nang.
2.Các rối loạn nội tiết của hội chứng buồng trứng đa nang.
2.1. Nồng độ hormon trong máu ngoại biên.
- Nồng độ androgen cao (testeron, androstenedion, “chỉ số androgen” tự do
- 51% LH/FSH > 3
- 58% LH/FSH > 2,5
- 70% LH/FSH > 2
2.2. Nồng độ hormon trong dịch nang.
Tỉ số androstenedion estradiol trong dịch nang là một chỉ số biểu hiện chức
năng tế bào hạt và nồng độ FSH trong dịch nang là một biểu hiện của sự kích thích
tế bào hạt, và nồng độ của các yếu tố nội tại buồng trứng (như insulin- like growth
factor) biểu hiện khả năng điều hòa nội tiết tại buồng trứng.
Nồng độ estrogen trong dịch nang của hội chứng buồng trứng đa nang thấp,
tương đương với nồng độ estrogen trong dịch nang của một nang có kích thước
tương đương ở một buồng trứng bình thuờng. Nang trước rụng trứng của hội chứng
buồng trứng đa nang có hoạt động chế tiết estrogen rất thấp.
Nồng độ androgen trong dịch nang tăng trong nang bình thường hay nang
thối hóa của buồng trứng.
Chức năng của tế bào hạt có thể được đánh giá bằng cách cấy tế bào hay mô
buồng trứng.
3. Các biểu hiện bất thường của buồng trứng.
3.1. Đặc điểm mô học.
Các đặc điểm mô học của hội chứng buồng trứng đa nang khi so sánh với
buồng trứng bình thường:
- Tăng thể tích
- Có cùng số lượng các nang nỗn nguyên thủy
- Gấp đôi các nang trưởng thành và nang thối hóa
- Tăng rất nhiều mô đệm ở vùng dưới vỏ buồng trứng và gia tăng sự tưới
máu.
3.2. Hình thái buồng trứng qua nội soi.
Nội soi để chẩn đốn hình thái của hội chứng buồng trứng đa nang rất hiếm
khi được sử dụng. Hơn nữa, chẩn đốn bằng nội soi mang tính chủ quan rất nhiều
tùy theo cách đánh giá của nhà lâm sàng, ngoại trừ có sinh thiết buồng trứng để
chẩn đốn.
không có sự chế tiết estrogen). Trên siêu âm, buồng trứng nhiều nang chỉ có 6- 10
nangg cho mỗi buồng trứng, các nang có đường kính 10mm và phân bố bất kỳ nơi
nào trong buồng trứng, thường là ở xa bề mặt buồng trứng. Mô đệm buồng trứng
thường ít và không tăng sáng. Các nang ở giai đoạn kém phát triển và thối hóa.
4. Các biến chứng muộn của hội chứng buồng trứng đa nang.
- Cao huyết áp
- Bệnh lý tim mạch
- Tiểu đường
- Ung thư nội mạc tử cung
V. ĐIỀU TRỊ.
Hội chứng buồng trứng đa nang được điều trị bằng cách kích thích buồng
trứng. Clomiphen citrat vẫn là chọn lựa đầu tiên để kích thích buồng trứng đa nang.
Có thể sử dụng phát đồ dài (down- regulation) hay FSH đơn thuần, tỉ lệ có thai
khoảng 24% (Famelos và cộng sự, 1999). Trong một số trường hợp, testosteron
trong máu cao, có thể kết hợp sử dụng corticoid liều thấp với các thuốc kích thích
thích buồng trứng để làm tăng đáp ứng của buồng trứng.
Cắt góc buồng trứng đa nang (wedge resection) hay đốt điện buồng trứng
(electrocautery) nhằm làm thay đổi môi trường ội tại của buồng trứng. Tuy nhiên
các phương pháp này cũng chỉ có thể có tác dụng tạm thời, buồng trứng đa nang sẽ
tái lập lại sau một thời gian.
Các vấn đề có thể gặp trong điều trị vô sinh cho những bệnh nhân có hội
chứng buồng trứng đa nang: (1) không có nang vượt trội do phác đồ kích thích
buồng trứng được sử dụng không thích hợp; (2) quá kích buồng trứng; (3) đa thai.
*Tai biến trong quá trình điều trị.
Hai nguy cơ thường gặp nhất trong điều trị vô sinh ở những người có buồng
trứng đa nang là không có nang nỗn trưởng thành và nguy cơ bị quá kích buồng
trứng. Quá kích buồng trứng là tình trạng đáp ứng quá mức của buồng trứng với
thuốc kích thích, xuất hiện nhiều nhất trong các chu kỳ có sử dụng thuốc chích
(Puregon, Gonal F). trong kích thích buồng trứng ở người buồng trứng đa nang, rất
khó xác định liều thuốc có hiệu quả (tạo được nang trưởng thành) mà không gây
thể gặp một số tai biến nhất định. Tuy nhiên, nếu được theo dõi và xử trí kịp thời,
những tai biến này ảnh hưởng không đáng kể đến sức khỏe của người mẹ và trẻ sơ
sinh.
22
Hội chứng buồng trứng đa nang là một hội chứng phức tạp, thường gặp trong
khám và điều trị vô sinh. Hiện nay vẫn chưa có một phương pháp điều trị tối ưu
cho hội chứng buồng trứng đa nang vì cơ chế bệnh sinh và nguyên nhân chưa được
hiểu rõ. Trong tương lai, những kiến thức hiện tại về hội chứng bu6ồng trứng đa
nang có thể sẽ thay đổi và được bổ sung do ngày càng có nhiều nghiên cứu về vấn
đề này.
23
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GS. Nguyễn Thị Xiêm, Lê Thị Phương Lan, 2002: Vô sinh, NXB Y học.
2. GS. TS Phạm Đình Lựu, 2000: Sinh lý h ọc y khoa, trường Đại học Y dược
TP.HCM.
3. GS. TS Trần Thị Phương Mai, 2007 : Hiếm muộn- Vô sinh và kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản, NXB Y học.
4. Phan Thị Sang, 2000: Sinh lý sinh sản ở gia súc và người, tài liệu Bồi dưỡng
thường xuyên giáo viên chu kỳ 1997- 2000, Huế.
5. PGS. TS Lê Văn Điển, 1998 : Sản phụ khoa, NXB TP.HCM.
6. Phan Kim Ngọc- Hồ Huỳnh Thùy Dương, 2001: Sinh học của sự sinh sản, NXB
Giáo dục.
7. Seang Lin Tan ( GS. TS Trần Thị Phương Mai dịch), 2001: Hỏi đáp về vô sinh,
NXB Y học.
8. Tạ Thúy Lan, 2002: Một số vấn đề về sinh lý sinh dục và sinh sản, NXB ĐHQG
Hà Nội.
9. Trần Duy Nga, 1997: Sinh lý người và động vật, NXB Giáo dục.
10.http://hanoi.vnn.vn/yduoc/detail.asp ? Articles/Archive/assets/images/2004/Mar-
24/Engineering_terpenoids.pdf