phát triển tư duy độc lập cho học sinh thông qua bài tập trắc nghiệm khách quan định lượng môn hóa học phần hidrocacbon - Pdf 24

B GIO DC V O TO
I HC HU
TRNG I HC S PHM
NGUYN TH CC
PHAẽT TRIỉN Tặ DUY ĩC LP CHO
HOĩC SINH THNG QUA BAèI TP
TRếC NGHIM KHAẽCH QUAN
ậNH LặĩNG MN HOẽA HOĩC
PHệN HIROCACBON LẽP 11 NNG
CAO
Chuyờn ngnh: Lý lun v phng phỏp dy hc b mụn Húa hc
Mó s: 60140111
LUN VN THC S GIO DC HC
NGI HNG DN KHOA HC
TS. Lấ VN DNG
Hu, nm 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực,
được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác.
Huế, tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
ii
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng và nỗ
lực của bản thân còn có sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, các học sinh và của
người thân.
Bằng tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc của
mình tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Lê Văn Dũng, thầy hướng

Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH 6
BẢNG 6
HÌNH 6
MỞ ĐẦU 8
1.Lí do chọn đề tài 8
2.Mục tiêu của đề tài 8
3.Nhiệm vụ của đề tài 9
4.Phạm vi nghiên cứu 9
5.Lịch sử nghiên cứu 9
6.Phương pháp nghiên cứu 9
7.Giả thuyết khoa học 10
8.Những điểm mới của đề tài 10
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1. Tư duy và các kiểu tư duy trong dạy học hóa học 11
1.1.1.Tư duy [3], [10], [11], [17] 11
1.1.2.Các kiểu tư duy thường dùng trong dạy học hóa học 14
1.2. Bài tập hóa học [5], [7] 19
1.2.1. Khái niệm bài tập hóa học 19
1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của bài tập hóa học trong dạy học hóa học [5],[6] 20
1.2.3. Phân loại bài tập hóa học 21
1.2.4.Bài tập trắc nghiệm hóa học 23
1.2.4.2. Bài tập trắc nghiệm khách quan định lượng 24
1
1.2.5. Mối quan hệ qua lại giữa bài tập TNKQ định lượng hóa học và việc phát triển tư duy
độc lập cho học sinh 25
1.3. Thực trạng việc sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan định lượng để phát triển tư duy

sinh 65
2.3.1. Bài tập về phản ứng cháy 65
2.3.2. Bài tập về phản ứng thế halogen 69
2.3.3. Bài tập về phản ứng tách hiđro, phản ứng crăckinh của ankan 72
2.3.4. Bài tập về phản ứng cộng hiđro của hiđrocacbon không no 75
2.3.5. Bài tập về phản ứng cộng brom của hiđrocacbon không no 77
2.3.6. Bài tập về phản ứng ion kim loại của hiđrocacbon có liên kết ba đầu mạch 80
2.3.7. Bài tập về phản ứng trùng hợp 83
2.4. Sử dụng bài tập TNKQ định lượng hóa học trong các kiểu bài lên lớp 84
2.4.1. Sử dụng bài tập khi hình thành kiến thức mới 84
2.4.2. Sử dụng bài tập khi ôn tập, luyện tập 86
Tiểu kết chương 2 88
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90
3.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm 90
3.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 90
3.3. Đối tượng và địa bàn của thực nghiệm sư phạm 90
3.4. Nội dung và tiến trình thực nghiệm sư phạm 91
3.4.1. Nội dung thực nghiệm sư phạm 91
3.4.2. Tiến trình thực nghiệm sư phạm 91
3.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm 92
3.6. Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 92
3.7. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 97
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
1. Kết luận chung 100
2. Kiến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
3
PHỤ LỤC
4

Bảng 3.8. Tổng hợp các tham số đặc trưng 97
HÌNH
Hình 3.1. Đồ thị đường luỹ tích (Bài kiểm tra lần 1) 95
Hình 3.2. Biểu đồ kết quả bài kiểm tra lần 1 95
Hình 3.3. Đồ thị đường luỹ tích (Bài kiểm tra lần 2) 96
Hình 3.4. Biểu đồ kết quả bài kiểm tra lần 2 97
6
7
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào thời kì hội nhập và phát triển, trong thời kì này
yếu tố tri thức và kĩ năng của con người là yếu tố quyết định sự phát triển của xã
hội. Đào tạo con người mới phù hợp với thời đại mới là nhiệm vụ của toàn xã hội,
trong đó ngành giáo dục đóng vai trò quyết định nhất.
Tuy nhiên trong giáo dục hiện nay, tình trạng học sinh yếu kém xuất hiện
ngày càng nhiều ở các cấp học, ở nhiều bộ môn trong đó có bộ môn hóa học. Đặc
biệt ở các vùng ven, nông thôn, những vùng có kinh tế kém phát triển, xa xôi thì
tình trạng này lại càng phổ biến. Trong khi đó nhu cầu thi cử ngày càng lớn, đặc
biệt là các kì thi Cao đẳng, Đại học. Số học sinh đáp ứng được trong các cuộc thi đó
còn hạn chế. Một phần nguyên nhân là do khả năng tư duy độc lập trong học tập
còn yếu, người học chưa tự mình biết khám phá và chiếm lĩnh kiến thức mà còn dựa
dẫm, phụ thuộc nhiều vào giáo viên.
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn hóa học, tôi luôn trăn trở để tìm các
phương pháp để nâng cao chất lượng dạy học. Một trong những phương pháp dạy
học quan trọng để hoàn thiện kiến thức và kỹ năng là bài tập hóa học. Bài tập hóa
học cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường để giành lấy kiến thức, và cả niềm
vui sướng của sự phát hiện ra kiến thức. Chính vì vậy, việc giải bài tập hóa học là
một trong những yêu cầu cơ bản không thể thiếu. Và khi học sinh có kỹ năng giải
bài tập tốt thường sẽ đạt kết quả cao trong những kỳ thi.Trước hết, cần phải trang bị
cho học sinh kĩ năng giải bài tập toán hóa học thông qua đó rèn luyện và phát triển

- GS Nguyễn Ngọc Quang nghiên cứu lý luận về bài toán hóa học.
- PGS.TS Nguyễn Xuân Trường nghiên cứu phương pháp giải nhanh bài
toán hóa học, các bài toán phát triển tư duy, bài toán hóa học có nhiều cách giải.
- GS.TSKH Nguyễn Cương nghiên cứu lý luận về giảng dạy hóa học và bài
tập hóa học ở trường THPT.
- PGS.TS Trịnh Văn Biều nghiên cứu về lí luận dạy học hóa học.
- ThS Nguyễn Văn Linh nghiên cứu về sử dụng bài tập hóa học để phát triển
tư duy, rèn trí thông minh cho học sinh THPT.
Nhìn chung các tác giả đã đưa ra nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả của
việc dạy và học hóa học. Tuy nhiên đưa ra biện pháp cụ thể để phát triển tư duy độc
lập cho học sinh thông qua bài tập hóa học thì hầu như chưa có.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
9
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học và phương pháp dạy học Hóa học.
- Nghiên cứu lý thuyết về kiểm tra đánh giá.
- Nghiên cứu lý luận về bài tập và phát triển tư duy độc lập cho học sinh.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thống kê toán học.
7. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học, nếu giáo viên tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài
tập Hóa học có chất lượng tốt, sử dụng bài tập có hiệu quả với từng đối tượng học
sinh thì sẽ giúp rèn luyện và phát triển tư duy độc lập cho học sinh, từ đó nâng cao
chất lượng dạy học môn Hóa học ở trường THPT.
8. Những điểm mới của đề tài

cho, từ đó mới giải được.
b. Tổng hợp
Là hoạt động nhận thức phản ánh của tư duy biểu hiện trong việc xác lập
tính thống nhất của các phẩm chất, thuộc tính của các yếu tố trong một sự vật
nguyên vẹn có thể có được trong việc xác định phương hướng thống nhất và xác
định các mối liên hệ, các mối quan hệ giữa các yếu tố của sự vật nguyên vẹn đó,
11
trong việc liên kết và liên hệ giữa chúng và chính vì vậy đã thu được một sự vật và
hiện tượng nguyên vẹn mới.
Ví dụ: Sau khi học xong phần phản ứng cộng, phản ứng trùng hợp và phản
ứng oxi hóa của anken thì học sinh tổng hợp được rằng: hiđrocacbon có liên kết pi
thì kém bền, dễ bị bẻ gãy.
Như vậy tư duy tổng hợp cũng được phát triển từ sơ đẳng đến phức tạp với
khối lượng lớn.
Phân tích và tổng hợp không phải là hai phạm trù riêng rẽ của tư duy. Đây
là hai quá trình có liên hệ biện chứng. Phân tích để tổng hợp có cơ sở và tổng hợp
để phân tích đạt được chiều sâu bản chất hiện tượng sự vật. Sự phát triển của phân
tích và tổng hợp là đảm bảo hình thành của toàn bộ tư duy và các hình thức tư duy
của học sinh.
c. So sánh
Là xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng của hiện
thực. Trong hoạt động tư duy của học sinh thì so sánh giữ vai trò tích cực.Việc nhận
thức bản chất của sự vật hiện tuợng không thể có nếu không có sự tìm ra sự khác
biệt sâu sắc, sự giống nhau của các sự vật, hiện tượng.
Việc tìm ra những dấu hiệu giống nhau cũng như khác nhau giữa hai sự vật
hiện tượng là nội dung chủ yếu của tư duy so sánh. Cũng như tư duy phân tích, tư
duy tổng hợp thì tư duy so sánh có thể ở mức độ đơn giản (tìm tòi, thống kê, nhận
xét) cũng có thể thực hiện trong quá trình biến đổi và phát triển.
Trong dạy học nói chung và dạy học hoá học nói riêng thực tế trên sẽ đưa tới
nhiều hoạt động tư duy đầy hứng thú. Nhờ so sánh người ta có thể tìm thấy các dấu

chóng, chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mục đích cần đạt được và con đường tối ưu
đạt được mục đích đó. Khi có kĩ năng tư duy thì người học có thể vận dụng để
nghiên cứu các đối tượng khác. Điều cần thiết trong tư duy là nắm được bản chất
của sự vật, hiện tượng từ đó vận dụng vào các tình huống khác nhau một cách sáng
tạo. Thông qua hoạt động tư duy người học có thể phát hiện ra vấn đề và đề xuất
hướng giải quyết cũng như biết phân tích, đánh giá các quan điểm, các phương
pháp, lí thuyết của người khác, đưa ra ý kiến chủ quan, nêu ra lí do, nội dung để bảo
vệ ý kiến của mình.
13
Tư duy càng phát triển thì khả năng lĩnh hội tri thức càng nhanh và sâu sắc, khả
năng vận dụng tri thức càng linh hoạt và có hiệu quả. Vì trong thực tế, không phải bất cứ một
sự vật hiện tượng nào đều được phản ánh rõ ràng để chúng ta có thể nhận biết chúng bằng cảm giác, tri
giác. Có những sự vật, hiện tượng chúng ta phải nhận biết bằng khả năng tư duy, khả năng suy đoán tưởng
tượng.
Ví dụ: Giác quan của con người không thể nhận thấy sự tồn tại của các ion trong dung dịch,
hay sự chuyển động của các electron trong nguyên tử, nhưng dựa vào những dấu hiệu phản ứng mà
chúng ta có thể nhận biết được nó.
Phát triển năng lực tư duy có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học
sinh, bằng cách tư duy, người học có thể nắm bắt được kiến thúc một cách dễ dàng
hơn, vận dụng kiến thức vào thực tế linh hoạt và mềm dẻo hơn. Tư duy giúp con người có thể tự rèn
luyện được những đức tính tốt như rèn luyện tính độc lập, tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc giải
quyết những tình huống có vấn đề.
1.1.2.Các kiểu tư duy thường dùng trong dạy học hóa học
1.1.2.1. Tư duy hóa học [10],[11].
Tư duy hóa học được đặc trưng bởi phương pháp nhận thức hóa học nghiên
cứu các chất và các quy luật chi phối quá trình biến đổi các chất. Khi tương tác với
nhau, xảy ra sự biến đổi nội tại của mỗi chất để tạo thành các chất mới. Sự biến đổi
này tuân theo những nguyên lý, quy luật, những mối quan hệ định tính và định
lượng của hóa học. Việc sử dụng các thao tác tư duy, sự suy luận đều phải tuân theo
quy luật này.

trong của vật chất. Quy luật này phải được kiểm chứng bằng thực nghiệm và được
sử dụng để tiên đoán các phản ứng hoá học tương tự khác. Các khái niệm, quy luật
hoá học không phải bất biến mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát triển của khoa
học và cần được bổ sung, phát triển liên tục. Chính vì vậy cần tránh thái độ tuyệt
đối hoá các khái niệm, quy luật, định luật.
Ví dụ: Khi dạy học phần phản ứng cộng brom của anken, giáo viên cho học
sinh quan sát thí nghiệm sục etilen vào dung dịch brom, học sinh nhận xét hiện
tượng và giải thích, sau đó rút ra anken có liên kết pi kém bền, dễ tham gia phản
ứng cộng với dung dịch brom làm dung dịch brom mất màu. Nếu dạy học từ trực
quan sinh động như trên, tư duy hóa học của học sinh sẽ được phát triển.
Như vậy tư duy hóa học đã bao hàm tư duy logic, tư duy trừu tượng và tư
duy biện chứng.
1.1.2.2. Tư duy phê phán
15
Trong quá trình học, học sinh được tiếp xúc với rất nhiều kênh thông tin, từ
thầy cô, bạn bè, sách báo, internet… nhưng không phải tất cả các thông tin đó đều
hữu ích. Vì thế học sinh phải biết cách chọn lọc những kiến thức để biến nó thành
tri thức của bản thân. Lúc đó học sinh phải dùng tư duy phê phán.
Tư duy phê phán là quá trình vận dụng tích cực trí tuệ và lập luận logic vào
việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, xu hướng, ý tưởng, xây dựng giả thuyết
từ sự quan sát, kinh nghiệm, chứng cứ, thông tin, và lý lẽ nhằm mục đích xác định
đúng - sai, tốt - xấu, hay - dở, hợp lý - không hợp lý, nên - không nên, và rút ra
quyết định, cách ứng xử của mình. Phê phán khách quan giúp ta có một cái nhìn
tích cực hướng đến cái mới tốt hơn, hoàn hảo hơn, có ích hơn trên con đường không
ngừng sáng tạo. Tư duy phê phán là nền tảng để phát triển tư duy độc lập, yếu tố
không thể thiếu của con người tự chủ và sự thành đạt, khi thường xuyên đối diện
với những vấn đề đa dạng phải giải quyết trong cuộc sống. Tư duy phê phán là bước
đi thiết yếu dẫn đến tư duy sáng tạo.
Tư duy phê phán giúp những suy nghĩ, quan điểm và kiến thức của học sinh
trở nên hợp lí và chính xác hơn bằng cách tự khám phá, đặt ra hàng loạt câu hỏi và

Theo chúng tôi, tư duy độc lập là khả năng tự mình suy nghĩ để tìm ra con
đường giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả nhất, mà đỉnh cao là không có sự trợ
giúp trực tiếp từ bên ngoài. Tư duy độc lập để chỉ tư duy của những người có chính kiến riêng trong
một lĩnh vực nào đó, dù đó là chính kiến khác, thậm chí là đối lập.
Trong hóa học, khi tư duy độc lập phát triển, học sinh có thể tự học, tự suy
xét và giải quyết một nhiệm vụ theo cách của họ do giáo viên đặt ra. Học sinh có
thể học một cách chủ động, không bị lệ thuộc vào bất kì ai. Ghi nhớ giải pháp cho
một vấn đề chỉ giúp giải quyết một vấn đề đó, còn tư duy độc lập sẽ giúp học sinh
có giải pháp để giải quyết rất nhiều vấn đề khác nhau.
Ví dụ: Học sinh đưa ra cách giải mới cho kết quả nhanh hơn cách truyền
thống cho bài toán: Đốt cháy hoàn toàn V lít (đktc) ankan X thu được 8,8 gam CO
2.
và 5,4 gam H
2
O. Tính V?
Cách giải thông thường:
Đặt CTPT của ankan là: C
n
H
2n+2
Phản ứng cháy:
n 2n+2 2 2 2
3n+1
C H + O nCO + (n+1)H O
2
0,2 0,3 (mol)

17
ankan
n n+1 0,2 0,2

- Sử dụng thành thạo các kỹ năng, phương pháp tư duy và biết phối hợp các
kỹ năng, phương pháp đó một cách hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh
chóng và thuyết phục. Ứng dụng những phương pháp giải đã có vào các bài tập
mới; Giải bài tập hóa học bằng nhiều cách khác nhau; Phát hiện phương pháp giải
18
mới để giải bài toán một cách nhanh chóng, chính xác;
- Không nản chí với những vấn đề khó của chương trình học, trình độ học
của bản thân, cố gắng vượt qua rào cản bằng khả năng và năng lực của mình.
- Có năng lực áp dụng kiến thức hóa học vào thực tế.
1.2. Bài tập hóa học [5], [7]
1.2.1. Khái niệm bài tập hóa học
Về mặt lí luận dạy học hóa học, bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán mà
khi hoàn thành chúng học sinh nắm được hay hoàn thiện một tri thức hay một kĩ
năng nào đó, bằng cách trả lời miệng hay trả lời viết kèm theo thực nghiệm.
Câu hỏi - đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiến
hành một loạt hoạt động tái hiện, bất luận là trả lời miệng, trả lời viết hay có kèm
thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm.
Thường trong các câu hỏi, giáo viên yêu cầu học sinh phải nhớ lại nội dung
các định luật, các quy tắc, định nghĩa, các khái niệm, trình bày lại một mục trong
sách giáo khoa…
Bài toán - đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiến
hành một hoạt động sáng tạo. Bất luận hình thức hoàn thành bài toán - nói miệng,
hay viết, hay thực hành (thí nghiệm).
Người ta thường lựa chọn những bài toán và câu hỏi đưa vào một bài tập có tính
toán đến một mục đích dạy học nhất định, là nắm hay hoàn thiện một dạng tri thức hay
kĩ năng. Chẳng hạn, có thể ra bài tập nhằm mục đích hình thành kĩ năng lập công thức
muối, viết phương trình phản ứng, nêu các chất đồng phân, giải những bài toán hóa học
thuộc một kiểu nào đó, nêu đặc điểm của một nguyên tố theo vị trí của nó trong hệ
thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học…Tùy theo tính chất của hoạt động cần tiến
hành (tái hiện hay sáng tạo) mà bài tập có thể chỉ gồm toàn những câu hỏi, hay toàn

Theo chúng tôi, ngoài các tác dụng như trên, bài tập hóa học còn có tác dụng
về mặt phát triển toàn diện con người và ý nghĩa đức dục như sau:
Ý nghĩa phát triển
Phát triển ở học sinh các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc
lập, thông minh và sáng tạo.
Ý nghĩa đức dục
Rèn đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học. Bài
tập thực nghiệm còn rèn luyện văn hoá lao động.
Bản thân một bài tập hóa học chưa có tác dụng gì cả, không phải một bài tập
hóa học hay thì luôn có tác dụng tích cực, mà điều quan trọng là bài tập được sử
20
dụng như thế nào để phát huy hết tác dụng của nó. Bài tập phải được trao cho đúng
đối tượng, đúng lúc và đúng phương pháp thì mới khai thác triệt để mọi khía cạnh
của nó, để học sinh tìm được kiến thức, rèn luyện được kĩ năng và phát triển tư duy,
lúc đó bài tập hóa học mới thực sự có ý nghĩa.
1.2.3. Phân loại bài tập hóa học
Bài tập Hóa học được sử dụng ở trường phổ thông chủ yếu gồm các loại sau đây:
1. Bài tập định tính
a. Bài tập lí thuyết.
b. Bài tập thực nghiệm.
2. Bài tập định lượng
a. Bài toán hóa học.
b. Bài tập thực nghiệm định lượng.
3. Bài tập tổng hợp (có nội dung chứa các loại bài tập trên).
1.2.3.1.Bài tập định tính
a. Bài tập lí thuyết
Bài tập lí thuyết được sử dụng là những câu hỏi lí thuyết, thường được nêu
lên dưới dạng bài tập sau:
- Viết các phương trình phản ứng, thực hiện các biến hóa.
- Xét các khả năng phản ứng có thể có.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status