vận dụng kỹ thuật webquest trong dạy học chương virut và bệnh truyền nhiễm - phần sinh học vi sinh vật, sinh học 10 - Pdf 24

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Bảng chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng, hình và sơ đồ 4
Phần 1: MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Mục đích nghiên cứu 6
3. Giả thuyết khoa học 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 6
6. Phương pháp nghiên cứu 7
7. Cấu trúc luận văn 8
8. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8
9. Những đóng góp mới của luận văn 9
Phần 2: NỘI DUNG 10
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 10
1.1. Cơ sở lý luận 10
1.1.1. Khái niệm webquest 10
1.1.2. Cấu trúc của một webquest 11
1.1.3. Các dạng webquest 15
1.1.4. Lợi ích sử dụng webquest 15
1.1.5. Đặc điểm của học tập với webquest 16
1.1.6. Quy trình thiết kế với webquest 18
1.1.7. Công cụ thiết kế webquest 22
1.2. Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1. Thực trạng sử dụng webquest vào dạy học sinh học ở trường THPT 23
1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
BGH Ban giám hiệu
CNTT Công nghệ thông tin
DH Dạy học
GD – ĐT Giáo dục – Đào tạo
GV Giáo viên
HS Học sinh
KT Kiểm tra
KN Kỹ năng
KTNN Kỹ thuật nông nghiệp
ND Nội dung
PP Phương pháp
PPCT Phân phối chương trình
PPDH Phương pháp dạy học
QTDH Quá trình dạy học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TN Thực nghiệm
TNSP Thực nghiệm sư phạm
VR Virut
VSV Vi sinh vật
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Bảng Nội dung
Bảng 1.1. Thống kê ý kiến về câu 1 ở phiếu thăm dò GV 24
Bảng 1.2. Thống kê ý kiến về câu 3 ở phiếu thăm dò GV 24
Bảng 1.3. Thống kê ý kiến về câu 2 ở phiếu thăm dò GV 25
Bảng 1.4. Thống kê ý kiến về câu 5 ở phiếu thăm dò GV 26
Bảng 1.5. Thống kê ý kiến về câu 7 ở phiếu thăm dò GV 26
3

- Dễ bị chệch hướng khỏi bản thân đề tài.
- Nhiều tài liệu được tìm ra với nội dung chuyên môn không chính xác, có thể dẫn đến “nhiễu thông tin”.
- Chi phí thời gian quá lớn cho việc đánh giá và xử lý các thông tin trong dạy học.
- Việc tiếp thu kiến thức qua truy cập thông tin trên mạng có thể chỉ mang tính thụ động mà thiếu sự đánh giá, phê phán của người học.
Xây dựng Webquest trong dạy học sẽ khắc phục được nhược điểm của việc học qua mạng. Với webquest, học sinh được tiếp cận với kho tàng tri thức trên mạng có định hướng, rèn luyện kỹ năng khai thác thông tin trên mạng, giúp cho việc tự học của học sinh. Webquest giúp tiết kiệm thời gian lên lớp của giáo viên, giúp quá trình hướng dẫn học sinh lĩnh hội tri thức được dễ dàng hơn, dành nhiều thời gian cho hoạt động của học sinh nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động nhận thức của học sinh.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu:
“ Vận dụng kỹ thuật Webquest trong dạy học chương Virut và bệnh truyền nhiễm - phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10”
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng kỹ thuật Webquest trong dạy học chương Virut và bệnh truyền nhiễm, phần Sinh học Vi sinh vật, sinh học 10
3. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và sử dụng Webquest trong dạy học chương Virut và bệnh truyền nhiễm, phần Sinh học Vi sinh vật, sinh học 10
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của kỹ thuật Webquest.
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng Webquest trong dạy học ở một số trường THPT.
- Thiết kế và sử dụng Webquest để dạy chương chương Virut và bệnh truyền nhiễm, phần Sinh học Vi sinh vật, sinh học 10
- Xây dựng tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học tập của HS
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra - đánh giá hiệu quả của đề tài, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm.
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đi tưng nghiên cứu: Hoạt động dạy học chương Virut và bệnh truyền nhiễm, phần Sinh học Vi sinh vật, sinh học 10
- Khch thể nghiên cứu: Học sinh trường THPT Đặng Trần Côn, TP Huế
- Phạm vi nghiên cứu: sử dụng Google sites để thiết kế Webquest trong dạy học chương Virut và bệnh truyền nhiễm – phần sinh học vi sinh vật, sinh học 10.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các công trình có liên quan đến cải tiến phương pháp giảng dạy, các tư liệu, sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án để nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
6.2. Phương pháp điều tra cơ bản
- Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến và trao đổi với giáo viên về việc sử dụng Webquest trong dạy học ở một số trường THPT.
- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu thực trạng học sinh sử dụng internet, phần mềm MS Power point trong học tập ở trường THPT Đặng Trần Côn.
5
- Sử dụng phiếu góp ý để học sinh đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng Webquest trong dạy học chương Virut và bệnh truyền nhiễm sinh học 10.
6.3. Phương pháp chuyên gia

Tài liệu tham khảo và phụ lục
8. Lược sử vấn đề
8.1.Trên thế giới
Webquest là một phương pháp dạy học mới, được xây dựng trên cơ sở phương
Một số trang Web trên thế giới đã giới thiệu về sự phát triển của webquest ở các nước và đưa ra quy trình chung để thiết kế webquest. Webquest được sử dụng như là các bài dạy trực tuyến giúp người học tìm hiểu kiến thức mới hay dưới dạng như một bài tập lớn (dự án học tập) [25], [26], [27].
8.2. Trong nước
Gần đây trong nước đã có một số tác giả nghiên cứu và vận dụng webquest vào dạy học ở các trường phổ thông. Nguyễn Văn Cường với “
Tổ chức Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ Kỹ thuật vùng Fla-măng, Vương quốc Bỉ (VVOB) (2010) đã đề xuất việc ứng dụng webquest trong giảng dạy môn Giáo dục môi trường ở Việt Nam và đưa ra một số đề xuất về việc sử dụng webquest trong dạy học [24].
Nguyễn Thị Thanh Thủy (2009), Nguyễn Chí Hiến (2012), Trương Thị Hương (2012) đã bước đầu vận dụng webquest vào giảng dạy môn vật lý ở phổ thông [10], [13], [20].
Trên trang tìm kiếm google.com.vn chủ yếu có webquest mẫu môn vật lý, địa lý, giáo dục môi trường Gần như không có thông tin gì về việc sử dụng webquest vào dạy học sinh học. Còn các website, blog sinh học thì mới chỉ dừng lại ở mức hỗ trợ người học tự do trong việc ôn luyện, củng cố kiến thức, kiểm tra đánh giá, luyện tập cho các kỳ thi hay cung cấp các kiến thức mới chứ chưa thực sự áp dụng trong nhà trường phổ thông để dạy chính khóa.
Tóm lại, hiện nay vẫn chưa có đề tài nào đề cập đến việc xây dựng và sử dụng webquest trong dạy học sinh học.
9. Những đóng góp mới của luận văn
6
- Thiết kế được Webquest để dạy chương Virut và bệnh truyền nhiễm
- Thiết kế được hệ thống các tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh.
Phần 2: NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1.Khái niệm webquest
Webquest (thuật ngữ tiếng Anh) là một hình thức dạy học mới và được sử
dụng rộng rãi trên thế giới, trong giáo dục phổ thông cũng như đại học. Có hiều
định nghĩa cũng như cách mô tả khác nhau về webquest.
Theo nghĩa hẹp, webquest được hiểu như một phương pháp dạy học
(Webquest-Method), theo nghĩa rộng webquest được hiểu như một mô hình, một
quan điểm về dạy học có sử dụng mạng Internet. Webquest cũng là nội dung dạy
học được xây dựng để sử dụng phương pháp này, và là trang webquest được
đưa lên mạng. Khi gọi webquest là một phương pháp dạy học, cần hiểu đó là một
phương pháp phức hợp, trong đó có thể sử dụng những phương pháp cụ thể khác
nhau. [5]
Theo ông Bernie Dodge, thì WebQuest là phương pháp hoạt động dạy học

i

m
vụ tìm
k
iếm

,
thường là để
giải
quyết một giả thuyết hay một vấn
đề thực tế”
[24]
.
Như vậy, webquest là một phương pháp dạy học mới, được xây dựng trên
cơ sở phương tiện dạy học mới là công nghệ thông tin và internet. Trong tiếng
Việt chưa có cách dịch hoặc dùng thuật ngữ thống nhất cho khái niệm này. Trong
tiếng Anh, web đây nghĩa là mạng, quest nghĩa là tìm kiếm, khám phá. Dựa trên
thuật ngữ và bản chất của khái niệm có thể gọi webquest là phương pháp
“khám phá trên mạng”. Webquest là một dạng đặc biệt của dạy học sử dụng truy
cập mạng Internet.
1.1.2. Cấu trúc của một webquest
Theo Bernie Dodge, cấu trúc của một WebQuest thường gồm 5 phần: giới
thiệu (Introduction), nhiệm vụ (Task), tiến trình (Process), đánh giá (Evaluation),
kết luận (Conclusion). [3], [5], [24], [28]
a. Giới thiệu (Introduction)
Phần này cung cấp thông tin cơ bản và các tình huống có vấn đề. Phần này
cũng cung cấp một cái nhìn tổng quan về mục tiêu học tập cho học sinh.
8
Mục tiêu của phần này là gây hứng thú, niềm vui cho học sinh. Khi một bài

tin (bài tập
biên soạn)
Học sinh có nhiệm vụ lấy thông tin từ nhiều nguồn khác
nhau và liên kết, tổng hợp chúng trong một sản phẩm chung. Kết
quả có thể được công bố trong internet, nhưng cũng có thể là
một sản phẩm không phải thuộc dạng kỹ thuật số. Các thông tin
được tập hợp phải được xử lý.
Giải điều
bí ấn
Việc đưa vào một điều bí ẩn có thể là phương pháp thích
hợp làm cho người học quan tâm đến đề tài. Trong khi đó vấn đề
sẽ là thiết kế một bí ẩn mà người ta không thể tìm thấy lời giải
của nó trên internet, để giải nó sẽ phải thu thập thông tin từ
những nguồn khác nhau, lập ra các mối liên kết và rút ra các kết
luận.
Bài tập
báo chí
Học sinh được giao nhiệm vụ, với tư cách nhà báo tiến
hành lập báo cáo về những hiện tượng hoặc những cuộc tranh
luận hiện tại cùng với những bối cảnh nền và tác động của
chúng. Để thực hiện nhiệm vụ này họ phải thu thập thông tin và
xử lý chúng thành một bản tin, một bài phóng sự, một bài bình
luận hoặc một dạng bài viết báo kiểu khác.
Lập kế hoạch
Học sinh phải tạo ra một sản phẩm hoặc phác thảo kế
10
c. Tiến trình (Process)
Nêu các bước cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ ở trên.
Phần này viết dành cho học sinh đọc. Tuy nhiên nên viết rõ ràng, chi tiết phần
này để giáo viên khác có thể đọc, theo dõi được tiến trình của bài học và vận dụng

- Giải quyết vấn đề trong thế giới thực: có thể tìm hiểu một cách chính xác và
nhanh chóng về các vấn đề liên quan đến cuộc sống hằng ngày, kiến thức liên
quan đến thực tiễn, giúp tìm ra những giải pháp thích hợp cho từng tình huống cụ
thể.
- Hợp tác làm việc nhóm: dựa vào WebQuest có thể tiến hành thảo luận theo
từng nhóm đã được phân công nhằm tìm hiểu về cùng một chủ đề nào đó, giúp
cho người học có thể rèn luyện được kĩ năng làm việc nhóm. Để công việc
hoàn thành được nhanh chóng và chính xác thì đòi hỏi các thành viên trong
nhóm phải biết cách hợp tác làm việc với nhau.
- Phát triển tư duy phê phán: với tài liệu tìm được qua xử lí và báo cáo, các
nhóm còn lại sẽ tìm cách khai thác vấn đề được trình bày, tìm ra cái cần lĩnh hội
đồng thời đóng góp ý kiến cho nhóm trình bày về những ưu và nhược điểm mà họ
đạt được.
- Phát triển tư duy sáng tạo: việc thu thập thông tin rất cần thiết nhưng việc
chọn lọc thông tin để đưa ra thảo luận còn cần thiết hơn. Trong quá trình báo cáo,
báo cáo viên phải biết cách dẫn dắt sao cho người nghe nhận thức được trọng
tâm phần mình trình bày.
- Học tập liên môn: giúp cho người muốn tìm kiếm thông tin học hỏi thêm
được nhiều kiến thức, không chỉ kiến thức cần tìm mà còn có nhiều kiến thức về
các nội dung khác như đời sống, lịch sử
- Gây hứng thú cho người học: WebQuest giúp tìm kiếm thông tin một cách
chính xác và nhanh nhất, không làm nhiễu thông tin. Do đó, người học có thể
tìm được ngay thông tin cần thiết, giúp người học không nản lòng, kích thích
được hứng thú tìm tòi cái mới
- Hướng đến việc đa dạng hóa học tập và trình bày: WebQuest yêu cầu người
học không chỉ biết và hiểu về kiến thức tìm được mà còn yêu cầu người học phải
12
tìm cách trình bày sao cho những người khác nghe cũng phải hiểu.
1.1.5. Đặc điểm của học tập với webquest
Theo Nguyễn Văn Cường thì webquest có những đặc điểm như sau:[5]

+ Kết luận: Từ những nguyên lý cơ bản và các tổng quát hóa đã có mà suy
ra những kết luận và điều kiện được biết nêu ra.
+ Phân tích sai lầm: Nhận biết và nêu ra những sai lầm trong các quá trình
tư duy của chính mình hoặc của những người khác.
+ Chứng minh:
X
ây dựng chuỗi lập luận để hỗ trợ hoặc chứng minh
một giả thiết.
Webquest có thể được sử dụng ở tất cả các loại hình trường học. Điều kiện
cơ bản là người học phải có kỹ năng đọc và có thể tiếp thu, xử lý các thông tin
dạng văn bản. Bên cạnh đó, người học cũng phải có những kiến thức cơ bản
trong thao tác với máy tính và internet. Webquest có thể sử dụng cho mọi môn
học. Ngoài ra, webquest rất thích hợp cho việc dạy liên môn. [24]
1.1.6. Quy trình thiết kế webquest
1.1.6.1. Nguyên tắc thiết kế
Về bản chất webquest cũng là một trang web hỗ trợ cho hoạt động dạy của
GV và hoạt động học của HS. Vì thế nó phải đảm bảo yêu cầu của một phần
mềm hỗ trợ dạy học (hàm chứa những tri thức chuyên gia của hai lĩnh vực giáo dục
và tin học). Do đó nguyên tắc thiết kế webquest phải thoả mãn các yêu cầu sau:
- Về mặt khoa học, được thể hiện ở tính chính xác. Các nội dung được
đưa vào webquest phải rõ ràng, chính xác, có nguồn gốc từ những tài liệu khoa học
được công nhận, đáp ứng tính đa dạng phong phú, phù hợp với chương trình đào
tạo, kiến thức và khả năng tiếp thu của HS. Các thuật ngữ khoa học, định nghĩa,
khái niệm phải chính xác và nhất quán với SGK hiện hành; các nội dung trong
webquest phải nhằm thực hiện mục tiêu DH đề ra.
- Về mặt lí luận DH, phải thực hiện được các chức năng lí luận DH mà
webquest đảm nhận; phải thực hiện đầy đủ các khâu của QTDH, từ củng cố trình
độ xuất phát cho HS; hình thành kiến thức và kỹ năng mới; ôn luyện và vận dụng
tri thức; tổng kết hệ thống hoá kiến thức đến kiểm tra, đánh giá trình độ kiến thức
và kỹ năng của HS. Có sự phối hợp giữa lí thuyết, thực tiễn và các PPDH có sự hỗ

thể hiện được tính mở. Webquest cho phép truy cập trực tiếp nhằm cung cấp thông
tin cho người sử dụng càng ít bước càng tốt.
Cuối cùng là vấn đề bảo mật thông tin và phát triển webquest. Xây dựng
15
webquest hình thức dạy học và việc ứng dụng nó vào trong QTDH cần phải được
xác định rõ các loại thông tin, mức độ quan trọng để phân quyền truy cập sử dụng,
bảo vệ và bảo mật. Đặc điểm của Khoa học tin học là phát triển rất nhanh chóng,
sự phát triển của phần mềm luôn đi kèm với sự phát triển của phần cứng và ngược
lại. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển của webquest cần phải lựa chọn phần
mềm thiết kế ổn định và có khả năng thích ứng cao đối với các thế hệ máy tính và
các hệ điều hành.
Để thiết kế được webquest hỗ trợ DH, ngoài khả năng về trình độ tin học,
người thiết kế cần có kiến thức, trình độ lí luận sư phạm nhất định về lĩnh vực mà
webquest đề cập tới. [5], [24], [28]
1.1.6.2. Quy trình thiết kế: WebQuest được thiết kế theo các bước cơ bản sau:
Sơ đồ 1.1. Quy trình thiết kế webquest [5]
a. Chọn và giới thiệu chủ đề
Chủ đề cần phải có mối liên kết rõ ràng với những nội dung được xác định
trong chương trình dạy học. Chủ đề có thể là một vấn đề quan trọng trong xã hội,
đòi hỏi học sinh phải tỏ rõ quan điểm. Quan điểm đó không thể được thể hiện bằng
16
những câu trả lời như “đúng” hoặc “sai” một cách đơn giản mà cần phải lập luận
quan điểm trên cơ sở hiểu biết về chủ đề. Những câu hỏi sau đây cần trả lời khi
quyết định chủ đề:
- Chủ đề có phù hợp với chương trình đào tạo không?
- Học sinh có hứng thú với chủ đề không?
- Chủ đề có gắn với tình huống, vấn đề thực tiễn không?
- Chủ đề có đủ lớn để tìm được tài liệu trên Internet không?
- Sau khi quyết định chọn chủ đề, cần mô tả chủ đề để giới thiệu với học sinh.
- Đề tài cần được giới thiệu ngắn gọn, dễ hiểu để học sinh có thể làm quen với

nhau.
f. Thiết kế tiến trình
Sau khi đã xác định nhiệm vụ của các nhóm học sinh, cần thiết kế tiến trình
thực hiện WebQuest. Trong đó đưa ra những chỉ dẫn, hỗ trợ cho quá trình làm việc
của học sinh. Tiến trình thực hiện WebQuest gồm các giai đoạn chính là: nhập đề,
xác định nhiệm vụ, hướng dẫn nguồn thông tin, thực hiện, trình bày, đánh giá.
g. Trình bày trang Web
Các nội dung đã được chuẩn bị trên đây, bây giờ cần sử dụng để trình bày
WebQuest. Để lập ra trang WebQuest, không đòi hỏi những kiến thức về lập trình
và cũng không cần các công cụ phức tạp để thiết lập các trang HTML. Về cơ bản
chỉ cần lập luận WebQuest, ví dụ trong chương trình Word và nhớ trong thư mục
HTML, không phải như thư mục DOC. Có thể sử dụng các chương trình điều hành
Web, ví dụ như FrontPage, tham khảo các mẫu WebQuest trên Internet hiện có.
Trang WebQuest được đưa lên mạng nội bộ để sử dụng.
h. Thực hiện WebQuest
Sau khi đã đưa WebQuest lên mạng nội bộ, tiến hành thử với học sinh để
đánh giá và sửa chữa.
18
i. Đánh giá, sửa chữa
Việc đánh giá WebQuest để rút ra kinh nghiệm và sửa chữa cần có sự tham
gia của học sinh, đặc biệt là những thông tin phản hồi của học sinh về việc trình bày
cũng như quá trình thực hiện WebQuest. Có thể hỏi học sinh những câu hỏi sau:
- Các em đã học được những gì?
- Các em thích và không thích những gì?
- Có những vấn đề kỹ thuật nào trong WebQuest?

1.1.7. Công cụ thiết kế webquest
Có thể tạo Webquest trên nền Web bằng các công cụ xây dựng web.
Webquest cũng có thể được xây dựng và vận hành bằng các công cụ và công nghệ
ứng dụng đơn giản nhất như các giải pháp phần mềm trình chiếu hay soạn thảo văn

c. Phương pháp:
- Trao đổi ý kiến, dự giờ, tham khảo giáo án của một số giáo viên bộ môn sinh cũng
như một số bộ môn khác.
- Phát phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên dạy sinh (xem phụ lục 4) ở 7 trường thuộc
tỉnh Thừa Thiên Huế bao gồm THPT Đặng Trần Côn, THPT Gia Hội, THPT Hương
Lâm, THPT Phan Đăng Lưu, THCS Nguyễn Tri Phương, THPT Đặng Huy Trứ,
THPT Phú Lộc với tổng số 39 giáo viên. Ngoài ra, tôi có phát thêm phiếu thăm dò cho
3 giáo viên dạy sinh ở trường THPT Triệu Phong, Quảng Trị.
d. Kết quả
Qua điều tra, tôi rút ra được một số nhận xét sau:
(1) Điều quan trọng trong dạy học là phát huy được tính tích cực, tự lực của học
sinh. Tuy nhiên, nhiều giáo viên vẫn còn chú trọng dạy kiến thức hơn rèn luyện
năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. Điều này được thể hiện rõ
qua bảng 1.1.
Bảng 1.1. Thng kê ý kiến về câu 1 ở phiếu thăm dò GV
Điều quan trọng khi dạy học (có thể đánh nhiều ô) Số ý kiến
A. làm cho HS nắm được kiến thức cơ bản 38
B. kích thích được hứng thú học tập của HS 36
C. phát huy tính tự học của học sinh 33
D. làm cho HS vận dụng được kiến thức vào thực tế 22
20
(2) Chưa đa dạng hóa các phương pháp và hình thức dạy học tích cực; phương pháp
thuyết trình, thông báo tri thức của GV vẫn là phương pháp chủ yếu. Việc sử dụng
các phương pháp và hình thức dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
còn ở mức độ hạn chế. Chưa quan tâm sử dụng phương tiện dạy học mới, công nghệ
thông tin trong dạy học. Điều này được thể hiện rõ qua bảng 1.2 và bảng 1.3
Bảng 1.2. Thng kê ý kiến về câu 3 ở phiếu thăm dò GV
ST
T
Tên PPDH hoặc hình thức tổ chức do GV tự liệt kê Số ý kiến

Trung (6/42 GV có phát phiếu thăm dò)
- Gặp sự cố về máy tính đột xuất (1/42 GV có phát phiếu thăm dò)
- Thói quen học tập thụ động lâu nay của HS (2/42 GV có phát phiếu thăm dò)
- Cơ sở trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm còn hạn chế :
Bảng 1.4. Thng kê ý kiến về câu 5 ở phiếu thăm dò GV
A. Đầy đủ 8/42 GV có phát phiếu thăm dò
B. Không có
C. Có nhưng chưa đầy đủ 34/42 GV có phát phiếu thăm dò

(4) Đa số các GV chưa biết đến phương pháp dạy học có vận dụng kỹ thuật
Webquest. Và chưa có GV dạy sinh nào áp dụng kỹ thuật này trong giảng dạy.
Bảng 1.5. Thng kê ý kiến về câu 7 ở phiếu thăm dò GV
A. Chưa bao giờ 28/42 GV có phát phiếu thăm dò
B. Có nhưng chưa áp dụng 11/42 GV có phát phiếu thăm dò
C. Đã từng áp dụng 2/42 GV có phát phiếu thăm dò
(GV dạy toán, dạy sinh)
(5) Những GV có biết về kỹ thuật webquest thì vẫn chưa nắm được bản chất và đầy
đủ về hình thức dạy học có vận dụng webquest. Sau đây là ý kiến của 6 giáo
viên về “Hình thức dạy học có vận dụng kỹ thuật webquest”:
- Là hình thức tương tác giữa dạy và học qua internet
- Là thiết kế câu hỏi trên web
- Sử dụng truy cập internet để tìm kiếm thông tin, kiến thức
- Là một hình thức dạy học sử dụng blog, website để hỗ trợ (hệ thống kiến
thức, ra bài tập, giải đáp thắc mắc của học sinh; tương tác trực tiếp hoặc gián
tiếp giữa giáo viên và học sinh qua phản hồi hoặc trò chuyện trực tuyến.
- GV giao bài tập cho HS về nhà nghiên cứu thông qua các kênh thông tin
trên Internet
- Dạy học có sử dụng webquest để kiểm tra kiến thức HS
22
- Kiến thức, thông tin được sử dụng từ internet

cáo trước lớp.
Bảng 1.6. Thng kê ý kiến của HS về hình thức
học tập theo nhóm, có sử dụng internet và bo co trước lớp
Lớp Sĩ số Thích Lý do thích Không Lý do không
10B9 33
23 Tự tin trước đám đông,
dễ hiểu, học nhanh, tiện
lợi, thoải mái, bổ sung
kiến thức, tránh nhàm
chán, dễ trao đổi ý kiến,
hòa đồng hơn, có trách
nhiệm hơn, tập tính
đoàn kết, có nhiều tài
liệu hình ảnh minh họa,
học mọi nơi, giảm bớt
áp lực khi chép bài và
nghe giảng, đem lại kết
quả tốt
8
Không giỏi về vi
tính, có nhiều bạn
không hợp tác,
không thống nhất ý
kiến khi làm việc
nhóm, mất nhiều
thời gian để soạn,
chép bài không đầy
đủ, khó học bài, để
thời gian chú tâm
môn thi đại học

Số phiếu
phát và nhận
Ghi chú
10B9 33 HS mới vào trường
10A 11B10 40
11A 12B9 39
(Những lớp này có nề nếp và chất lượng đứng đầu khối)
Qua điều tra tôi rút ra được một số nhận xét sau:
(1) Số HS có máy vi tính hoặc laptop ở nhà còn hạn chế. Nhà các em có nối ADSL
chưa nhiều. Số HS có di động có khả năng truy cập wifi ít.
Bảng 1.8. Thng kê ý kiến của HS về trang thiết bị cho học tập
Lớp Có máy tính Có internet Di động có truy cập wifi
10B9 12/33=36,4% 12/33=36,4% 5/33= 15,15%
11B1
0
27/40 = 67,5% 26/40 = 65% 6=15%
12B9 26/39 = 66,7% 25/39 = 64,1% 8=20,51%
Tổng 65/112 = 58,04% 63/112 = 56,3% 19/112=16,96%
(2) Đa số HS ít khi sử dụng internet vào mục đích học tập
Bảng 1.9. Thng kê ý kiến của HS về mục đích sử dụng internet trong học tập
Lớp Sĩ số Chưa bao giờ Ít khi Thỉnh Thoảng Thường xuyên
10B9 33 4 12 13 4
11B1
0
40 2 8 27 3
12B9 39 8 26 5
Tổng 112 5,36% 25% 58,93% 10,71%
25

Trích đoạn Thiết kế tiến trình dạy học Kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status