Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được coi như là những tế bào
của xã hội mà sự tồn tại và phát triển của chúng đóng vai trò quan trọng đối với
nền kinh tế quốc dân. Đối với các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần xây
dựng số 9_Vinaconex nói riêng thì sự phát triển của nó phụ thuộc rất lớn vào hoạt
động tài chính của bản thân doanh nghiệp hay nói cách khác là phụ thuộc vào hiệu
quả quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp mình. Bởi vậy, trên cơ sở thực hiện
các biện pháp chủ yếu về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước, đảm bảo
quyền tự chủ và độc lập về mặt tài chính đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp phải có
các biện pháp hợp lý sử dụng nguồn vốn của mình một cách có hiệu quả nhất. Hiệu
quả sử dụng vốn cao hay thấp sẽ quyết định đến sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp trong môt trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay. Đặc biệt là sau khi
Việt Nam là thành viên thứ 150, của tổ chức thương mại quốc tế WTO, thì sự cạnh
tranh giữa các Doanh nghiệp trong nước với nhau, giữa các Doanh nghiệp trong
nước với các Doanh nghiệp nươc ngoài, cũng trở nên ngày càng quyết liệt và gay
gắt hơn. Điều này đã buộc các Doanh nghiệp phải có sự nhạy bén trong kinh
doanh, cũng như sử dụng nguồn vốn của Doanh nghiệp mình hợp lý hơn.
Vấn đề nâng cao tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh
nghiệp đang là một yếu tố khách quan cần thiết cho mỗi DN hiện nay.Đây là một
phương thức khó, đòi hỏi mỗi DN đều phải quan tâm đến.Cho nên vấn đề này có y
nghĩa rất quan trọng quyết định đến sự tồn tai và phát triển của mỗi DN.Các Dn
phải có sự nhạy bén trong quá trình kinh doanh của mình
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của các giải pháp nâng cao tổ chức,
quản lý và hiệu quả sử dụng vốn trong các DN nói chung và tại Công ty cổ phần
xây dựng số 9_Vinaconex nói riêng. Trong thời gian thực tập tại công ty cùng với
sự giúp đỡ chỉ bảo nhiệt tình chu đáo của các cô chú ,anh chị trong Công ty và sự
hướng dẫn tận tình của cô giáo Đoàn Thị Nga cùng các thầy cô giáo trong khoa Tài
chính- Ngân hàng, đã giúp em đi sâu vào đề tài:
“Một số giải pháp nâng cao tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng vốn tại
gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất dầu tiên đến chu kỳ
sản xuất cuối cùng.
Do có rất nhiều quan niệm về vốn nên rất khó đưa ra được một định nghĩa
chính xác và hoàn chỉnh về vốn. Tuy nhiên có thể hiểu một cách khái quát về vốn
như sau:
Vốn của doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu (đây là các
khoản được tích tụ bởi lao động trong quá khứ được biểu hiện bằng tiền), tham gia
liên tục vào quá trình sản xuất kinh doanh với mục đích đem lại giá trị thặng dư cho
chủ sở hữu.
Có rất nhiều loại vốn và cách phân loại vốn nhưng căn cứ vào vai trò và đặc
điểm chu trình giá trị của vốn khi tham gia vào quá trình kinh doanh
Khi căn cứ vào vai trò và đặc điểm chu trình giá trị của vốn khi tham gia vào
quá trình kinh doanh có thể chia vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thành 2
bộ phận: vốn cố định và vốn lưu động.
A>VỐN CỐ ĐỊNH (VCĐ)
I) TÀI SẢN CỐ ĐỊNH (TSCĐ) VÀ VỐN CỐ ĐỊNH (VCĐ) CỦA DOANH
NGHIỆP (DN)
1 Tài sản cố định (TSCĐ ) của Doanh nghiệp
1.1 Các khái niệm
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các DN phải có các yếu tố : sức
lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động.Khác với đối tượng lao động
( Nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…), các tư liệulao
động ( máy móc, thiết bị, nhà xưởng… ) là những phương tiện vật chất mà cong
người sư dụng để tác động vào đối tượng lao động biến đổi nó theo mục đích của
mình.Bộ phận quan trọng nhất của tư liệu lao động là TSCĐ. Đó là những tư liệu
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lao động, chủ yếu sử dụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất-
kinh doanh.
thời cho ra những sản phẩm tốt có chất lượng cao, rút ngắn thời gian sản xuất làm
cho chi phí cá biệt thấp hơn mức trung bình của xã hội. Do đó lợi nhuận của công
ty sẽ tăng lên.
Từ những phân tích trên, ta càng thấy rõ được vai trò quan trọng của TSCĐ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh.Vì vậy cơ cấu TSCĐ hợp lý ,bảo quản sử
dụng tốt TSCĐ không chỉ có ý nghĩa quyết định đến việc tăng năng suất lao
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
động,mà còn cho phép huy động tối đa năng lực sản xuất của TSCĐ, góp phần bảo
toàn và phát triển vốn kinh doanh nói chung và vốn cố định nói riêng.
1.4 Phân loại TSCĐ (vốn cố định)
Phân loại TSCĐ là việc phân chi toàn bộ TSCĐ trong doanh nghiệp theo
những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Thông
thường có những cách phân loại sau:
a/ Căn cứ vào hình thái biểu hiện: TSCĐ được phân thành 2 loại:
- TSCĐ hữu hình: TSCĐ có hình thái vật chất như nhà cửa, vật kiến trúc,
phương tiện vận tải….
- TSCĐ vô hình: TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể như chi phí thành
lập doanh nghiệp, chi phí sử dụng đất…
Với cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư của
doanh nghiệp vào TSCĐ hữu hình và vô hình để từ đó đề ra các quy định đầu tư
hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư hợp lý nhất, hiệu quả nhất. Song với cách phân loại
này nó không phản ánh được toàn diện chi tiết các loại TSCĐ (vốn cố định) mà
doanh nghiệp đang sử dụng trong chu kỳ sản xuất- kinh doanh.
b/ Căn cứ theo công dụng kinh tế bao gồm 2 loại:
- TSCĐ dùng trong sản xuất- kinh doanh: Là những TSCĐ hữu hình và vô
hình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp, bao
gồm: nhà cửa, vật kiến trúc, thiết bị máy móc… và những tài sản cố định không có
hình thái vật chất khác.
những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các mục đích phúc lợi, sự
nghiệp an ninh, quốc phòng trong doanh nghiệp.
- TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ nhà nước là những TSCĐ doanh
nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị nhà nước có thẩm quyền.
Phương pháp phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu TSCĐ
theo mục đích sao cho có hiệu quả nhất.
e/ Căn cứ theo quyền sở hữu TSCĐ bao gồm 2 loai :
- TSCĐ tự có : là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp
- TSCĐ đi thuê : là nững TSCĐ thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp khác
bao gồm 2 loại TSCĐ đi thuê hoạt động và TSCĐ thuê tài chính
Phân loại theo cách này giúp cho người quản lý thấy kết cấu TSCĐ thuộc
quyền sở hữu của Doanh nghiệp và TSCĐ thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp
khác mà khai thác, sử dụng hợp lý TSCĐ của Doanh nghiệp nâng cao hiệu quả
đồng vốn.
f/ Căn cứ theo nguồn hình thành TSCĐ được chia thành 2 loại :
- TSCĐ hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu: Đây là những TSCĐ được đầu
tư từ nguồn vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- TSCĐ hình thành từ nguồn nợ phải trả: Đây là những TSCĐ được đầu tư
dựa trên sự vay vốn từ Ngân hàng, các tổ chức tín dụng… mà Doanh nghiệp đã
vay.
Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy được nguồn hình thành
TSCĐ của Doanh nghiệp mình, từ đó có biện pháp theo dõi quản lý và sử dụng
TSCĐ sao cho có hiệu quả nhất.
2 Vốn cố định (VCĐ) trong kinh doanh
2.1 Khái niệm và đặc điểm luân chuyển của vốn cố định (VCĐ )
2.1.1 Khái niệm
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường việc mua sắm xây dựng hay lắp đặt
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng."
Những đặc điểm luân chuyển trên của VCĐ đòi hỏi việc quản lý VCĐ phải
luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là TSCĐ của Doanh
nghiệp.
2.2 Nguồn hình thành TSCĐ
Đầu tư vào TSCĐ là một việc bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành bổ sung
những TSCĐ cần thiết, để thực hiện mục tiêu kinh doanh của Doanh nghiệp. Do đó
việc xây dựng các nguồn tài trợ cho những khoản mục đầu tư như vậy là rất quan
trọng. Bởi vì, nó có các yếu tố quyết định cho việc quản lý sử dụng VCĐ này.
Người ta có thể chia làm 2 nguồn tài trợ chính:
- Nguồn tài trợ bên trong: Vốn ban đầu, lợi nhuận để lại…. nói cách khác là
những nguồn vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp.
- Nguồn tài trợ bên ngoài: Vốn vay ngân hàng các tổ chức tín dụng, phát
hanh trái phiếu, thuê hoạt động….
Tuy nhiên Doanh nghiệp cần phải có đinh hướng cho việc khai thác và tạo
lập nguồn VCĐ đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, các Doanh nghiệp phải xác
định được nhu cầu vốn đầu tư và TSCĐ trong những năm trước mắt và lâu dài.
Căn cứ vào các dự án đầu tư TSCĐ đã được thẩm định, đồng thời phải đinh hướng
cơ bản cho việc khai thác, tạo lập nguồn vốn cố định cho Doanh nghiệp, đảm bảo
tính tự chủ của Doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
2.3 Công tác quản lý và sử dụng TSCĐ
Đây là nội dung quan trọng của công tác quản lý Doanh nghiệp. Trong quá
trình sản xuất kinh doanh sự vận động của VCĐ gắn liền với hình thái vật chất của
nó. Vì vậy để quản lý sử dụng VCĐ có hiệu quả có một số hình thái sau:
2.3.1 Hao mòn và khấu hao TSCĐ
a/ Hao mòn TSCĐ
Trong quá trình sử dụng TSCĐ có thể bị hao mòn dưới 2 hình thức: Hao
Doanh nghiệp phải chuyển dịch dần dần phần giá trị hao mòn đó vào giá trị sản
phâm sản xuất trong kỳ.
"Khấu hao TSCĐ là việc tính toán nhằm phân bổ một cách có hệ thống
nguyên giá của TSCĐ vào chi phí kinh doanh qua thời gia sử dụng của TSCĐ "
Mục đích của khấu hao TSCĐ là nhằm tích luỹ vốn để tái sản xuất giản
đơn hoặc tái sản xuất mở rộng TSCĐ. Bộ phận giá trị hao mòn được dịch chuyển
dần vào giá trị sản phẩm, được coi là một yếu tố chi phí sản xuất sản phẩm, được
biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao TSCĐ. Sau khi sản phẩm hàng
hoá được tiêu thụ, số tiền khấu hao được tích luỹ lại hình thành quỹ khấu hao
TSCĐ của Doanh nghiệp. Trên thực tế, khi chưa có nhu cầu đầu tư mua sắm
TSCĐ, các Doanh nghiệp có thể sử dụng linh hoạt quỹ này để đáp ứng các nhu cầu
kinh doanh của Doanh nghiệp mình.
Về nguyên tắc việc tính khấu hao TSCĐ phải phù hợp với mức độ hao mòn
của TSCĐ và đảm bảo thu hồi đầy đủ giá trị vốn đầu tư ban đầu.Thực hiện khấu
hao TSCĐ một cách hợp lý có ý nghĩa kinh tế lớn đối với Doanh nghiệp.
Tỷ lệ khấu hao: Là tỷ lệ (%) giữa trích khấu hao hàng năm so với nguyên giá
TSCĐ. Việc xác lập tỷ lệ khấu hao thấp thì Doanh nghiệp sẽ không bù đắp được
hao mòn thực tế của TSCĐ của Doanh nghiệp, không bảo toàn được vốn cố định.
Nhưng ngược lại nếu trích tỷ lệ khấu hao cao đáp ứng được yêu cầu bảo toàn
VCĐ, song sẽ làm tăng giá thành một cách giả tạo ảnh hưởng đến kết quả sản xuất
kinh doanh của Doanh nghiệp.
c/ Các phương pháp khấu hao TSCĐ
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong thực tế của Doanh nghiệp và tuỳ vào điều kiện của từng Doanh
nghiệp, mà mỗi Doanh nghiệp sẽ áp dụng một trong các phương pháp khấu hao
sau:
- Phương pháp 1: Khấu hao TSCĐ bình quân (khấu hao TSCĐ đều)
Mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm được xác định theo mức không
= T
kt
x NG
Trong đó: M
kt
: Số tiền trích khấu hao TSCĐ ở năm thứ t (t = 1,n )
T
kt
: Tỷ lệ khấu hao TSCĐ ở năm thứ t
NG: Nguyên giá TSCĐ
Số năm phục vụ còn lại của TSCĐ
+ Tỷ lệ khấu hao = x 100
mỗi năm (%) Tổng số thứ tự năm sử dụng
Việc nghiên cứu các phương pháp khấu hao TSCĐ là một căn cứ quan trọng
giúp cho Doanh nghiệp lựa chọn phương pháp khấu hao phù hợp với chiến lược
kinh doanh của Doanh nghiệp mình. Đảm bảo cho việc thu hồi, bảo toàn và nâng
cao hiệu quả sử dụng VCĐ. Đồng thời cũng là căn cứ cho việc lập kế hoạch khấu
hao TSCĐ của Doanh nghiệp.
2.3.2 Lập kế hoạch khấu hao TSCĐ
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lập kế hoạch khấu hao TSCĐ hàng năm là một nội dung quan trọng để
quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ của Doanh nghiệp. Thực hiện tốt kế
hoạch khấu hao có ý nghĩa quan trọng để Doanh nghiệp xem xét, lựa chọn các
quyết định đầu tư đổi mới TSCĐ trong tương lai. Để phát huy vị trí và tác dụng
của kế hoạch khấu hao, đòi hỏi việc lập kế hoạch khấu hao phải chính xác, kịp thời
và tuân thủ những trình tự nhất định.
Khi lập kế hoạch khấu hao TSCĐ, trước hết xác định tổng giá trị TSCĐ
hiện có vào đầu năm kế hoạch, cơ cấu nguồn hình thành giá trị đó và phạm vi cần
12
Trong đó: NG
t
, NG
g
: Nguyên giá bình quân TSCĐ phải trích khấu hao tăng,
giảm trong năm kế hoạch
NG
t
, NG
g
: Nguyên giá TSCĐ phải trích khấu hao tăng, giảm
trong năm kế hoạch.
T
sd
: Số tháng sử dụng của TSCĐ trong năm kế hoạch
Sau khi xác đinh được nguyên giá bình quân TSCĐ phải trích khấu hao tăng
hoặc giảm trong năm kế hoạch, ta có thể tính được tổng giá trị bình quân TSCĐ
phải trích khấu hao trong năm kế hoạch.
NG
kh
= NG
đ
+ NG
t
- NG
g
Trong đó: NG
kh
: Nguyên giá bình quân TSCĐ cần tính khấu hao trong năm
sử dụng số tiền trích khấu hao TSCĐ các Doanh nghiệp cần dự kiến phân phối và
sử dụng tiền trích khấu hao trong kỳ. Điều này tuỳ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn đầu
tư ban đầu, để hình thành TSCĐ của Doanh nghiệp bao gồm 2 nguồn chính:
Nguồn vốn chrủ sở hữu và nguồn vốn đi vay. Doanh nghiệp phải xác định được tỷ
trọng từng nguồn vốn đầu tư để phân phối sử dụng tiền trích khấu hao hợp lý.
2.3.3 Bảo toàn và phát triển VCĐ
Trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, việc bảo toàn vốn
sản xuất nói chung, VCĐ nói riêng là yêu cầu có tính sống còn đối với mỗi Doanh
nghiệp. Bởi vì VCĐ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh doanh của Doanh
nghiệp. VCĐ có chu kỳ vận động dài hơn gấp nhiều lần so với vốn lưu động.
Phương thức bảo toàn VCĐ có những nét khác so với vốn lưu động. Bảo toàn
VCĐ luôn bao gồm 2 mặt hiện vật và giá trị. Trong đó bảo toàn về mặt hiện vật là
tiền đề để đảm bảo về mặt giá trị.
Ngoài ra Doanh nghiệp còn phải có trách nhiệm phát triển VCĐ trên cơ sở
trích từ lợi nhuận, phần vốn khấu hao cơ bản thu hồi được, bổ sung vốn chủ sở
hữu… để đi đến tái đầu tư mở rộng TSCĐ.
Các biện pháp bảo toàn VCĐ :
- Đánh giá và đánh giá lại TSCĐ
- Lựa chọn phương pháp khấu hao và mức khấu hao thích hợp
- Sửa chữa và xác định hiệu quả của việc sửa chữa TSCĐ
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
II) SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN CỐ ĐỊNH (VCĐ)
1 Hiệu quả sử dụng VCĐ
Trong công tác Doanh nghiệp vốn là một bộ phận quan trọng của đầu tư
nói riêng và vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Quy mô của VCĐ càng lớn thì
đầu tư cho TSCĐ càng cao và tốt hơn. Đặc điểm của VCĐ là luôn vận động theo
quy luật riêng nên công tác quản lý VCĐ được coi là một trọng điểm của công tác
2
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-> ý nghĩa: Chỉ tiêu này nói lên cứ 1 đồng VCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu thuần.
3.1.2 Hiệu suất sử dụng TSCĐ:
Doanh thu thuần
+ Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Nguyên giá bình quân
Nguyên giá đầu năm + Nguyên giá cuối năm
+ Nguyên giá bình quân =
2
-> ý nghĩa: 1 đồng đầu tư vào TSCĐ thì thu được bao nhiêu doanh thu thuần.
3.1.3 Hàm lượng VCĐ.
Vốn cố định bình quân
+ Hàm lượng vốn cố định =
Doanh thu thuần
-> ý nghĩa: 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thu được cần đầu tư bao nhiêu
đồng VCĐ.
3.1.4 Tỷ suất lợi nhuận VCĐ (mức doanh lợi VCĐ).
Lợi nhuận trước (hoặc sau)thuế thu nhập
+ Tỷ suất lợi nhuận VCĐ = x100
Vốn cố định bình quân
->ý nghĩa: 1 đồng VCĐ bỏ ra thu được bao nhiêu lợi nhuận trước (hoặc sau)
thuế thu nhập.
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá chất lượng và hiệu quả đầu tư cũng
như chất lượng sử dụng VCĐ của Doanh nghiệp.
3.2. Các chỉ tiêu phân tích : gồm 3 chỉ tiêu:
3.2.1 Hệ số hao mòn TSCĐ.
Các nhân tố khách quan như: chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước, tác
động của thị trường, các nhân tố khác như thiên tai…
Các nhân tố chủ quan như: ngành nghề kinh doanh của Doanh nghiệp, đặc
điểm kỹ thuật sản xuất kinh doanh, trình độ tổ chức quản lý, trình độ lao động.
4.2.2 Một số giải pháp chủ yếu để quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ
của Doanh nghiệp.
Tùy theo điều kiện tình hình cụ thể mà Doanh nghiệp lựa chọn biện pháp
thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ của Doanh nghiệp, tuy nhiên cần chú
ý đến một số giải pháp sau:
- Lập và thực hiện tốt dự án đầu tư TSCĐ, đây là vấn đề qua trọng vì nó có
tính chất quyết định đến việc sử dụng hiệu quả VCĐ.
- Quản lý chặt chẽ, huy động tối đa VCĐ hiện có vào hoạt động sản xuất,
kinh doanh, cần có sổ theo dõi đối với từng loại TSCĐ. Thường xuyên tổ chức
kiểm tra tình hình TSCĐ, thanh lý các TSCĐ hư hỏng để thu hồi vốn, thực hiện
kiểm kê định kỳ TSCĐ.
- Thực hiện khấu hao TSCĐ một cách hợp lý, việc khấu hao này phải tính
đến cả hao mòn vô hình và hữu hình, đảm bảo thu hồi đủ vốn.
- Thực hiện tốt việc bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ, tránh tình trạng TSCĐ bị
hư hỏng trước thời hạn.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Chú trọng đổi mới TSCĐ một cách hợp lý, kịp thời và tăng cường sức
mạnh cạnh tranh của Doanh nghiệp.
- Chủ động thực hiện biện pháp phòng ngừa rủi ro, bảo toàn VCĐ, doanh
nghiệp có thể mua bảo hiểm TSCĐ, trích lập quỹ dự phòng tài chính.
- Xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố VCĐ- VLĐ- giá thành sản phẩm- kết
quả kinh doanh để thấy rõ hiệu quả của VCĐ trong Doanh nghiệp.
B> VỐN LƯU ĐỘNG (VLĐ) CỦA DOANH NGHIỆP
I) NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG (VLĐ):
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để quản lý VLĐ được tốt cần thiết phải tiến hành phân loại VLĐ của Doanh
nghiệp theo các tiêu thức sau:
2.1.1 Dựa theo vai trò của VLĐ trong quá trình tái sản xuất VLĐ bao gồm 3
loại:
a/ VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm 6 loại:
- Vốn nguyên vật liệu chính
- Vốn vật liệu phụ
- Vốn nhiên liệu
- Vốn phụ tùng thay thế
- Vốn vật liệu đóng gói
- Vốn công cụ, dụng cụ
b/ VLĐ trong khâu sản xuất bao gồm 3 loại:
- Vốn sản phẩm đang chế tạo
- Vốn bán thành phẩm tự chế
- Vốn chi phí trả trước
c/ VLĐ trong khâu lưu thông bao gồm:
- Vốn thành phẩm
- Vốn bằng tiền
- Các khoản đầu tư ngắn hạn: cho vay ngắn hạn, đầu tư chứng khoán ngắn
hạn….
- Các khoản vốn trong thanh toán: các khoản phải thu, tạm ứng….
Phân loại VLĐ hteo phương pháp này giúp cho việc xem xét đánh giá tình
hình phân bổ VLĐ trong từng khâu của quá trình chu chuyển VLĐ . Từ đó có các
biện pháp tổ chức, quản lý thích hợp tạo ra một kết cấu VLĐ hợp lý và tăng được
tốc độ chu chuyển VLĐ.
2.1.2 Dựa vào hình thái biểu hiện VLĐ bao gồm:
a/ Vốn vật tư hàng hoá là các khoản VLĐ có hình thái biểu hiện bằng hiện
- Vốn bằng tiền: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển…
Tiền là một loại tài sản của Doanh nghiệp mà nó có thể dễ dàn chuyển đổi thành
các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi
mỗi Doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định.
- Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, thể hiện
số tiền mà khách hàng nợ Doanh nghiệp, phát sinh trong quá trình bán hàng hoá,
dịch vụ dưới hình thức bán trước, trả sau.
c/ Vốn đầu tư tài chính dài hạn
Việc phân loại này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét đánh giá khả
năng thanh toán của Doanh nghiệp.
2.1.3 Dựa theo nguồn hình thành
a/ Nguồn vốn chủ sở hữu: Là số Vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của
Doanh nghiệp, Doanh nghiệp có đầy đủ quyền sử dụng quyền chi phối và định
đoạt.
b/ Nợ phải trả
- Nguồn vốn đi vay: Là khoản VLĐ được hình thành từ vốn vay của ngân
hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác.
- Nguồn vốn trong thanh toán: Các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán…
Với cách phân loại này cho thấy kết cấu VLĐ của Doanh nghiệp được hình
thành bằng vốn của bản thân Doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có các qui
định trong huy động và quản lý sử dụng VLĐ hợp lý hơn.
2.2 Vai trò của VLĐ trong sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vốn nói chung đặc biệt là VLĐ giữ vai trò quyết định trong sản xuất kinh
doanh. VLĐ không thể thiếu để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được
diễn ra đều đặn liên tục. VLĐ có thể có mặt ở tất cả các khâu trong quá trình sản
xuất kinh doanh từ mua sắm vật tư, sản xuất tiêu thụ sản phẩm Nếu không có
VLĐ thì Doanh nghiệp không thể sử dụng được TSCĐ (VCĐ), việc sử dụng hiệu
- Đầu tư thêm VLĐ có hiệu quả. Thêm VLĐ phải đảm bảo tốc độ tăng
trưởng và phải cao hơn tốc độ tăng trưởng của VLĐ trước đây.
1.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ
Trong nền kinh tế thị trường, trước sự cạnh tranh gay gắt của các Doanh
nghiệp, thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một điều kiện cơ bản để một
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Các Doanh nghiệp dùng VLĐ của mình để sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Quá trình vận động của VLĐ bắt đầu từ việcdùng tiền tệ
mua sắm vật tư dự trữ sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong Doanh
nghiệp tổ chức tiêu thụ sản phẩm để thu hồi về một số vốn dưới hình thaí tiền tệ
ban đầu.Mỗi lần vận động như vậy gọilà VLĐ tuần hoàn.Doanh nghiệp sử dụng
VLĐ đó càng hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
nhiều bấy nhiêu. Vì lợi ích kinh tế của Doanh nghiệp đòi hỏi Doanh nghiệp phải sử
dụng hợp lý, có hiệu quả hơn từng đồng VLĐ nhằm làm cho mỗi đồng VLĐ hàng
năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu được nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm
và tiêu thụ được nhiều hơn. Bên cạnh đó cũng cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng
VLĐ, trên nguyên tắc lợi nhuận thu được nhỏ hơn nhưng vẫn không phải đầu tư
thêm vốn, nhưng tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận.
1.3 Quản lý và bảo toàn VLĐ
1.3.1 Công tác quản lý sử dụng VLĐ
VLĐ trong cùng một lúc được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển
và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Quản lý sử dụng VLĐ trong
kinh doanh là một khâu có tầm quan trọng quyết đinh đến hiệu quả kinh doanh.
Quản lý VLĐ không những đamr bảo sử dụng VLĐ hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý
nghĩa đối với việc hạ thấp chi phí sản xuất. Do trước hết tiết kiệm được chi phí sử
dụng vốn, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và thanh toán các khoản
công nợ một cách kịp thời. Tuy nhiên việc sử dụng VLĐ có hiệu quả tổng hợp của
tất cả các khâu, các bộ phận kinh doanh, từ phương hướng kinh doanh,đến các biện
tại dưới dạng vật tư hàng hoá và tiền tệ. Sự luân chuyển trên thực tế luôn chịu tác
động của nhiều yếu tố khách quan, chủ quan, trong đó có những yếu tố làm cho
VLĐ trong Doanh nghiệp bị giảm sút đó là:
- Hàng hoá bị ứ đọng, kém phẩm chất, mất phẩm chất hoặc không phù hợp
với nhu cầu thị trường, không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ vơí giá thấp.
- Rủi ro bất thường xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Kinh doanh bị lỗ kéo dài nên sau một thời gian nhất định vốn bị thiếu hụt
dần vì doanh thu bán hàng không bù đắp được VLĐ.
- Nền kinh tế có lạm phát, giá cả tăng nhanh nên sau mỗi vòng luân chuyển,
VLĐ của Doanh nghiệp bị mất dần theo tốc độ trượt giá.
- VLĐ trong thanh toán bị chiếm dụng lẫn nhau kéo dài với số lượng lớn.
Vì lẽ đó đòi hỏi Doanh nghiệp phải bảo toàn VLĐ nhằm đảm bảo cho quá
trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi nghĩa là phải đảm bảo cho số vốn cuối kỳ
đủ mua một lượng vật tư hàng hoá tương đương với đầu kỳ giá cả tăng lên.
* Các biện pháp thực hiện việc bảo toàn VLĐ và phát triển VLĐ :
Định kỳ tiến hành kiểm kê, đánh giá lại toàn bộ vật tư, hàng hoá, vốn bằng
tiền, vốn trong thanh toán… để xác định số VLĐ hiện có của Doanh nghiệp theo
giá trị hiện tại. Trên cơ sở đánh giá vật tư, hàng hoá đó, đối chiếu vơí sổ sách kế
toán để điều chỉnh hợp lý.
2, Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ
2.1 Tốc độ chu chuyển VLĐ
Tốc độ lưu chuyển VLĐ nhanh hay chậm nói lên hiệu suất sử dụng VLĐ cao
hay thấp. Tốc độ chu chuyển VLĐ được thể hiện bằng 2 chỉ tiêu sau:
Doanh thu thuần trong kỳ
- Số vòng quay VLĐ = (vòng)
VLĐ bình quân trong kỳ
VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ
+ VLĐ bình quân trong kỳ =
2
20
+ Số ngày luân chuyển VLĐ bình quân trong khâu sản xuất:
V
sx
x 360
K
sx
=
M
sx
+ Số ngày luân chuyển VLĐ bình quân trong khâu lưu thông:
V
lt
x 360
K
lt
=
M
lt
Trong đó: V
dt
,V
sx
,V
lt
: Số VLĐ bình quân trong khâu dự trữ sản xuất, sản
xuất và lưu thông
K
dt
, K
sx
1
) - V
0bq
= V
1bq
- V
obq
Trong đó: V
TKTĐ
(
±
) : Số VLĐ tiết kiệm tuyệt đối
V
1bq
, V
obq :
VLĐ bình quân năm kế hoạch và năm báo cáo
M1: Tổng mức luân chuyển VLĐ năm kế hoạch
K
1
: Kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch
*Mức tiết kiệm tương đối
V
TKTGĐ
(
±
) =
360
1M
x (K
0
: Kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch, năm báo cáo.
L1, L0 : Số lần luân chuyển VLĐ năm kế hoạch, năm báo cáo.
V
1bq
: Số VLĐ bình quân năm kế hoạch.
* Hiệu suất sử dụng VLĐ :
Doanh thu thuần
- Hiệu suất sử dụng VLĐ =
Vốn lưu động bình quân
-> ý nghĩa: Cứ 1 đồng VLĐ đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
* Mức doanh lợi VLĐ (tỷ suất lợi nhuận VLĐ )
Lợi nhuận trước (hoặcsau) thuế thu nhập
- Mức doanh lợi của VLĐ =
Vốn lưu động bình quân
-> ý nghĩa: 1 đồng VLĐ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước (hoặc
sau) thuế thu nhập.
3, Hệ thống chỉ tiêu phân tích
3.1 Đánh giá khả năng thanh toán
Tổng vốn lưu động bình quân
* Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Tổng số nợ ngắn hạn
-> ý nghĩa: Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để
trang trải các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán. Hệ số này càng cao, thì khả
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
năng sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đến hạn càng cao, tuy nhiên trong 1 số
trường hợp hệ số này quá cao, thì phải xem xét thêm tình hình tài chính có liên
quan.
* Vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu
-> ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thu hồi nợ phải thu từ bán hàng đến
khi nhận tiền. Vòng quay này càng cao thì thể hiện rằng Doanh nghiệp thu hồi
càng nhanh các khoản nợ, vốn bị chiếm dụng giảm và ngược lại.
Số ngày của kỳ phân tích
* Kỳ thu tiền bình quân =
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vòng quay các khoản phải thu
-> ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết cho các khoản phải thu
được một vòng. Vòng quay các khoản phải thu càng nhỏ thì tốc độ thu hồi vốn
càng lớn hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại.
Hiệu quả sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp vào
trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích của chủ sở
hữu và tối thiểu hóa chi phí. Tuy nhiên, để sử dụng vốn một cách có hiệu quả
không phải doanh nghiệp nào cũng làm được, đặc biệt khi mà ở Việt Nam các
doanh nghiệp vẫn còn coi nhẹ vấn đề này. Khi bàn về vấn đề làm thế nào để sử
dụng vốn sao cho có hiệu quả rất nhiều doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ) cho rằng bây giờ là chưa thích hợp hoặc không mấy quan tâm tới vấn
đề này. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp hoạt động có lãi nhưng không hề biết doanh
nghiệp mình sử dụng vốn có hiệu quả không? Song khi mà nền kinh tế thị trường
ngày càng sôi động nhưng cũng không kém phần khắc nghiệt thì các doanh nghiệp
cần phải quan tâm tới vấn đề này nhiều hơn. Khi đó doanh nghiệp không chỉ quan
tâm làm sao có thể sử dụng vốn có hiệu quả mà còn phải tìm cách làm thế nào để
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp mình.
Mặt khác, để tiến hành hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có
các yếu tố lao động, vốn và công nghệ trong đó vốn đóng vai trò quan trọng nhất
xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam trên cơ sở tổ chức sắp xếp lại các đơn vị của
Bộ xây dựng, thì Công ty Cổ phần xây dựng số 9 trở thành đơn vị thành viên, đơn
vị hạch toán kinh tế độc lập thuộc Tổng Công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt
Nam.
Hiện nay, công ty xây dựng Vinaconex 9 đã cổ phần hoá theo Quyết định số
1731/QĐ-BXD ngày 04/11/2007, với vốn điều lệ là 21 tỷ đồng trong đó số vốn
Tổng công ty đã góp là 12,6 tỷ đồng (chiếm 60% vốn điều lệ của Vinaconex 9).
- Tên giao dịch của Công ty: VINACONEX - 9
- Trụ sở chính: Tầng 6 & 7- Nhà D9- Đường Khuất Duy Tiến- Quận Thanh
Xuân- Thành phố Hà Nội.
- Điện thoại: 04.5540606 - 04.5540612; Fax: 04.5540615;
- Email:
Chi nhánh tại tỉnh Ninh Bình:
Trụ sở: Phường Nam Thành- TX Ninh Bình- Tỉnh Ninh Bình
Điện thoại: 030.874.328 Fax: 030.873045
Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Trụ sở: 778/58 Nguyễn Kiệm- P.4- Q.Phú Nhuận- TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.8424717 Fax: 08.8479354
2 Chức năng, nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh của Công ty
Công ty Cổ phần xây dựng số 9 là một Doanh nghiệp Nhà nước, chuyên thi
công xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông trên khắp lãnh
thổ Việt Nam và đang hướng ra thị trường quốc tế với những chức năng, nhiệm vụ
chủ yếu là:
- Xây dựng công trình công nghiệp, công trình công cộng, xây dựng nhà ở và
xây dựng các công trình khác.
25