ĐỀ TÀI: Nghiên cứu ảnh hưởng của một sè nhân tố sinh thái tới năng suất và chất lượng của cây vải Thiều - Pdf 24


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Lục Ngạn trước đây là vùng trung du, miền núi nghèo của Bắc Giang,
người dân chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa, đến năm 1990 cây vải bắt
đầu được du nhập về đây. Do điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp mà
cây vải giúp nông dân ở vùng đồi đất trung du xoá đói, giảm nghèo, nhiều
gia đình còn làm giàu từ cây vải nhờ làm kinh tế trang trại. Trước năm
1990, người dân ở Lục Ngạn trồng cây công nghiệp ngắn ngày chỉ thu nhập
từ 3 - 4 triệu đồng/ha/năm. Nay nhờ trồng vải thiều thu nhập có thể đạt 20 -
30 triệu đồng/ha/năm. Từ việc phát triển kinh tế đồi vườn mà toàn huyện đã
có hàng trăm hộ có thu nhập từ 20 - 90 triệu đồng/ năm và hàng trăm hộ có
thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên. Với 19.212 ha cây ăn quả, bình quân mỗi
ha cây ăn quả đã tạo được việc làm ổn định cho Ýt nhất là 2 lao động chính
mỗi năm, hàng năm huyện đã tạo được việc làm ổn định cho 38.424 lao
động tại chỗ [34]. Không những thế, hàng năm Lục Ngạn còn thu hút và
giải quyết cho hàng ngàn lao động, hàng vạn nhân công từ các tỉnh đồng
bằng lên làm thuê cho các gia đình có trang trại. Với 19.212 hecta cây ăn
quả, bình quân mỗi héc ta cây ăn quả đẫ tạo được việc làm ổn định cho
38.424 lao động tại chỗ [34].
Vải thiều là loài cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao (trong 100g
nước Ðp cùi vải có chứa 11 - 14g đường; 0,4 - 0,9g axit hữu cơ, 34mg lân,
36mg vitamin C, ngoài ra còn có canxi, sắt, vitamin B
1
, B
2
,PP) [14]. Quả
vải ngoài việc dùng để ăn tươi còn được chế biến thành đồ hộp và nhiều sản
phẩm có giá trị khác như vải khô, nước vải Hoa vải là nguồn cung cấp
mật và phấn hoa cho ong với chất lượng cao. Gỗ vải chắc có vân mịn, chịu

Sonn)".
2. Mục đích nghiên cứu.

3
- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái tới năng
suất và chất lượng của giống vải thiều. Trên cơ sở đó xác định nhân tố sinh
thái chính ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng của sản phẩm.
- Giúp người nông dân hiểu được sự ảnh hưởng của một số nhân tố
sinh thái tới năng suất và chất lượng quả từ đó có biện pháp chăm sóc cây
phù hợp để nâng cao năng suất và chất lượng của cây vải thiều.
3. Nội dung nghiên cứu.
- Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái tới hình thái cây vải.
- Sự ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái tới năng suất, chất lượng quả.
- Thu thập số liệu về năng suất quả trong nhiều năm của khu vực
nghiên cứu và kết hợp với kết quả nghiên cứu, trên cơ sở đó so sánh năng
suất và chất lượng giống vải thiều Thanh Hà trồng ở huyện Lục Ngạn, tỉnh
Bắc Giang và huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. 4
Chương 1

Tripara, Oissa, Punjab, Himachal Pradesh, Assam và Nilgiri ở miền Nam.
Hàng năm, Ên Độ cho sản lượng vải khoảng 429.000 tấn / 56.200 ha [42].
Thái Lan, đất nước thuộc vùng cận nhiệt đới, là nơi có khí hậu khá lý
tưởng cho cây vải sinh trưởng, phát triển. Vải Thái Lan chủ yếu được trồng
ở Chiang Mai, Chiang Rai, Samut Songkhran. Mỗi năm Thái Lan đạt sản
lượng khoảng 85.000 tấn/22.200 ha [42].
Ở Băngladesh, cây vải được trồng ở các huyện: Dinajpur, Rangpur và
Ragshahi. Năm 1998 với tổng diện tích trồng 4.750 ha, cây vải đã đem về
cho đất nước tổng sản lượng quả là 12.755 tấn.
Cây vải được đưa đến trồng ở Australia cách đây khoảng 60 năm.
Nhưng đến năm 1975 thì cây vải thực được quan tâm và trồng chủ yếu để
phục vụ thương mại. Hiện tại, có khoảng 350 hé trồng, với sản lượng hàng
năm đạt khoảng 3.000 tấn. [42].
1.3. Tình hình trồng vải ở Việt Nam.
Theo các tài liệu và thư tịch cũ, ở Việt Nam cây vải được trồng cách
đây khoảng 2000 năm [44]. Năm 1942, các nhà khoa học người Pháp đã tìm
thấy giống vải hoang dại mọc dưới chân núi Ba Vì. Năm 1970, giáo sư Vũ
Công và cộng sự của ông đã phát hiện nhiều cây vải mọc hoang dại ở Tam
Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) và trong rõng Tuyên Hoá (tỉnh Quảng Bình) [45]. Khi
điều tra cây ăn quả trong rừng một số tỉnh miền Bắc, miền Trung ông cũng
gặp cây vải rừng. Khí hậu miền Bắc Việt Nam, với mùa đông ngắn, khô và
hơi lạnh và mùa hè kéo dài, nóng với lượng mưa lớn và độ Èm cao, rất
thÝch hợp cho sự phát triển của cây vải. Vì vậy, rất có thể miền Bắc nước
ta cũng là quê hương của một số giống vải.
Theo một số tài liệu ghi chép lại, giống vải thiều ở Việt Nam có
nguồn gốc ở thôn Thuý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải

6
Dương. Cây vải này đã gần 200 tuổi, hiện đang sống khoẻ mạnh bình
thường. Ngày 10 tháng 10 năm 1992 cây vải đó đã được Trung tâm hội làm

Hà có 11 giống vải khác nhau như u trứng, u hồng, tàu lai, vải nhỡ, vải
chua, vải thiều, trong đó, giống vải thiều được trồng ở Thanh Hà chiếm
90% tổng diện tích toàn huyện [44]. Còn ở Lục Ngạn hiện nay có khoảng
hơn 10 giống vải đang được trồng, chủ yếu là 4 giống vải (vải chua, vải U
hồng, vải nhỡ, vải thiều) được đưa từ Thanh Hà lên. [6].
*Giống vải chua là giống chín sớm (từ ngày 5/5 - 25/5). Quả hình trái tim,
khi chín quả màu đỏ tươi, vỏ máng và phần cuống quả màu xanh, kích
thước quả to trung bình 30 - 35 quả/kg. Quả còn xanh có vị chua, nhưng khi
chín thì ngọt hơi chua. Hạt quả to, tỷ lệ cùi từ 50 - 55%. Lá xanh đậm, cây
sinh trưởng khoẻ, chống chịu sâu bệnh tốt. Thân cây vặn rãnh múi khế, cây
phân cành thưa. Lá non và chùm hoa từ cuống đến nụ hoa và quả có phủ
một lớp lông màu nâu sẫm. Hoa mọc thành chùm ở đầu cành, thưa, dài và
khoẻ.
* Giống vải U hồng cũng là giống chín sớm, cùng thời gian với giống vải
chua. Quả hình trái tim, cuống quả sâu, vai quả nhô cao nên khi bổ theo
chiều dọc quả thì mép trên có hình chữ U (nên có tên gọi là giống u hồng).
Cây sinh trưởng mạnh, cành thưa, lá to, dài và có màu xanh sáng. Cuống
hoa dài và từ cuống hoa đến nụ hoa có phủ một lớp lông màu nâu. Số lượng
quả trên một chùm Ýt, kích thước quả trung bình từ 30 - 35 quả/kg. Khi
chín, vỏ quả mỏng, vai quả màu hồng đỏ, phần cuống quả màu xanh sáng.
Tỷ lệ cùi ăn được chiếm từ 55 - 60%, hạt quả nhỏ. Năng suất trung bình
bằng 2/3 năng suất của giống vải chính vụ có cùng độ tuổi [14].
* Giống vải nhì được trồng nhiều và cung cấp cho người tiêu dùng từ giữa
tháng 5 đến đầu tháng 6. Vải nhỡ là giống vải lai của vải chua và vải thiều,
nên năng suất giống vải chua còn chất lượng thì gần bằng vải thiều. Lá vải
màu xanh đậm, thuôn dài, nhỏ hơi vặn. Từ cuống hoa đến nụ hoa có phủ lớp

8
lông màu xanh sáng. Hoa cái màu trắng, quả to tròn, khối lượng quả trung
bình 35 - 40 quả/kg, tỷ lệ cùi ăn được chiếm 60 - 65%. Khi chín vỏ quả có

Thương. Bắc Giang có địa hình trung du và là vùng chuyển tiếp giữa vùng
núi phía Bắc với châu thổ sông Hồng ở phía Nam. Tuy phần lớn diện tích tự

9
nhiên của tỉnh là đồi núi, nhưng nhìn chung địa hình không bị chia cắt nhiều.
Bắc Giang có diện tích tự nhiên là 3.823km
2
, gồm 10 đơn vị hành chính cấp
huyện: 1 thành phố, 9 huyện và 229 xã, phường, thị trấn. [38].
Lục Ngạn là huyện miền núi tỉnh Bắc Giang, nằm trên trục quốc lộ
31, cách thị xã Bắc Giang 40km về phía Đông Bắc. Phía Bắc giáp huyện
Chi Lăng và Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn, phía Đông giáp huyện Sơn Động
(Bắc Giang) và huyện Lộc Bình (Lạng Sơn). Phía Nam và phía Tây giáp
huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang [39].
Diện tích huyện Lục Ngạn là 101.223 ha với 30 đơn vị hành chính,
được chia làm 2 vùng rõ rệt. Vùng cao gồm 12 xã đặc biệt khó khăn, vùng
thấp có 17 xã và 1 thị trấn. Trên địa bàn huyện có các tuyến quốc lộ 31, 279
và tỉnh lộ 285, 290 đi qua.[34]
Nhìn chung, Lục Ngạn tuy là huyện miền núi nhưng có vị trí địa lý
tương đối thuận lợi để giao lưu với các trung tâm kinh tế - xã hội quan trọng
của vùng, qua đó có thể tiếp cận nhanh chóng với thị trường khu vực phía
Bắc, Đông Bắc Bộ và các địa phương khác trong cả nước.
1.5.2. Thanh Hà - Hải Dương.
Tỉnh Hải Dương có tọa độ địa lý 20
0
36' - 21
0
15' vĩ độ Bắc và từ 106
0
06' - 106

biển trung bình 0,60m) [41].

11
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu cây vải (Litchi chinensis Sonn), có cùng
độ tuổi (vườn 15 tuổi) và cùng một giống vải thiều ThanhHà.
Cây vải thuộc:
+ Giới: Thực vật (Plantae).
+ Ngành: Hạt kín
(Magnoliophyta).
+ Líp: Hai lá mầm
(Magnoliopsida)
+ Bộ: Bồ hòn (Sapindales).
+ Họ: Bồ hòn (Sapindaceae)
2.2. Thời gian nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành nghiên
cứu từ tháng 12/2008 - tháng
11/2009
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp lấy mẫu: Hình 1: Cây vải tổ ở Thanh Hà
* Phương pháp lấy mẫu đất (Theo phương pháp hỗn hợp).
Các mẫu nông hoá được lấy theo 2 tầng: tầng mặt từ 0 - 20cm, tầng
thứ hai từ 20 - 60 cm. Chúng tôi tiến hành lấy mẫu tại 5 điểm phân bố đều
trên toàn diện tích vườn, theo quy tắc đường chéo (Hình 1). Các mẫu đất ở
dưới cây vải có lấy mẫu quả được lấy theo 2 tầng như trên tại 5 điểm phân
bố đều dưới mép tán cây (Hình 2). Sau đó các mẫu được đem trộn đều, rồi
đưa vào túi bóng đen bịt kín và đem đến ngay phòng thí nghiệm của viện
Thổ nhưỡng - Nông hoá để phân tích [33].

- Về hình thái cây, chúng tôi tiến hành quan sát hình thái rễ, thân, lá,
thông thường. Kết quả ghi chép lại và chụp ảnh.
- Về hình thái quả, chúng tôi tiến hành quan sát, ghi hình về màu sắc
quả cũng như hình dạng của quả.
- Phân tích các chỉ tiêu hình thái quả bao gồm: cân trọng lượng quả,
đo đường kính quả và chiều cao quả bằng thước kẹp palme, đo độ dày của
cùi quả, cân trọng lượng phần ăn được (cùi) và cân trọng lượng hạt.
* Mỗi chỉ tiêu được tiến hành đo từ 30 - 50 quả trên một cây và tiến
hành đo ngẫu nhiên 10 cây trong vườn: đối với trọng lượng, chúng tôi tiến
hành cân 1kg quả bằng cân đĩa đồng hồ, sau đó tách vỏ, tách cùi và hạt
riêng từng loại, rồi đem cân cùi riêng, cân hạt riêng và dùng thước đo độ
dày cùi chính xác đến từng mm.
* Xác định tỉ lệ vỏ, cùi và hạt bằng công thức:
Khối lượng vỏ
% Vá = X 100%
Khối lượng quả
Khối lượng cùi
% Cùi = X 100%
Khối lượng quả
% Hạt = 100% - (% Vỏ + % Cùi).
2.3.3. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu thổ nhưỡng[33].
* Ni tơ: Xác định ni tơ tổng số theo phương pháp Kjendhal.
Nguyên lý: Phương pháp Kjendhal dựa trên nguyên lý chuyển toàn
bộ N trong hợp chất hữu cơ thành muối amon bằng cách phá công thức
H
2
SO
4
đậm đặc (có K
2

- Phương pháp xác định kali tổng số.
Nguyên lý: Hoà tan mẫu bằng hỗn hợp HF và HClO
4
xác định hàm lượng
kali trong dung dịch bằng quang kế ngọn lửa. HF hoà tan các tinh thể silic
SiF
4
bay hơi và giải phóng K nằm trong cấu trúc:
SiO
2
+ 4HF
4
SiF
4
+ H
2
O
HClO
4
oxihoá các chất hữu cơ và hoà tan các chất vô cơ khác.
- Phương pháp xác định K dễ tiêu.
Chiết rút từ đất với dung dịch amonaxetat 1M (pH = 7,0) bằng
phương pháp lọc hoặc chiết tỉ lệ đất: dung dịch = 1: 10 theo thủ tục xác
định CEC trên phễu hoặc ống chiết. Xác định trực tiếp K trong dung dịch
chiết rút bằng quang kế ngọn lửa tại bước sóng 768nm, dãy tiêu chuẩn pha
bằng dung dịch amon axetat 1M có nồng độ 0 - 60ppm K. Mọt thể tích
dung dịch chuẩn và dung dịch xác định có pha thêm một thể tích dung dịch
chứa CsCl (0,2%) Cs và (Al (NO
3
)

Chuẩn độ lượng dư K
2
Cr
2
O
7
bằng dung dịch muối Fe
2+
.
+ Chất hữu cơ có thể biểu thị bằng % C hữu cơ (% OC).
+ Cách tính: xác định đồ thị tiêu chuẩn và trên cơ sở số đo trên máy xác
định hàm lượng mg C trong mẫu thử từ đó suy ra %OC trong đất.
Công thức tính % OC:
%OC =
ma
Kba
.
4).( 

Trong đó : m: khối lượng mẫu (g).
K: hệ số khô kiệt của mẫu.
a : sè mg muối Fe
2+
chuẩn độ mẫu trắng.
b : sè ml muối Fe
2+
chuẩn độ mẫu.
OC : sè mg hữu cơ có trong mẫu.
* Phân tích cấp hạt (phân tích thành phần cơ giới).
Nguyên lý chung: phân tích thành phần cơ giới đất là quá trình tách và xác

- Nguyên lý xác định Limon và sét bằng phương pháp pipet (phương pháp
ống hút Robinson).
Theo định luật Stokes tại một thời điểm để lắng, ở một nhiệt độ xác
định các cấp hạt sẽ phân bố ở các độ sâu nhất định. Dùng pipet hút một thể
tích xác định cấp hạt ở độ sâu phân bố và sau đó sấy khô để xác định khối
lượng cặn rắn. Phương pháp pipet còn được gọi là phương pháp ống hút
Robinson (do Robinson cải tiến ống hút là một pipet có các lỗ hút theo
chiều ngang không làm xáo trộn dung dịch) [33].
+ Khối lượng Sét và Limon được tính theo công thức:
% Khối lượng sét =
M
X.100

% Limon =
M
Y.100

Trong đó:
M: khối lượng đất khô tuyệt đối không hữu cơ và cacbonat.
x : khối lượng sét của mẫu.

17
y: khối lượng limon của mẫu.
+ Khối lượng cát thô, cát mịn được tính theo công thức:
% Cát thô =
M
X.100

% Cát mịn = 100% - (% Cát thô + % Limon + % Sét)
Trong đó:

4
0,1N chuẩn độ.
6,36: sè mg Cu ứng với 1ml KMnO
4
0,1N.
Từ g
1
tra bảng, tính được khối lượng đường khử (mg) trong dung dịch
mẫu phân tích (V
P
), đổi mg thành gam (g
2
).
- Hàm lượng đường khử có trong nguyên liệu được tính theo công thức:
g
2
.V.100
X% =
V
p
. g
Trong đó:

18
V: Sè ml dung dịch mẫu pha loãng
V
P
: Sè ml dung dịch mẫu đem phân tích
g : Sè gam mẫu đem phân tích.
* Định lượng axit tổng s è (theo Ermacov) [1].

f
. g
Trong đó:
X: Hàm lượng vitamin C có trong nguyên liệu (%).
V
C
: Sè ml dung dịch I
2
0,01N chuẩn độ.

19
V
f
: Sè ml dịch màu đem phân tích.
g : Sè gam nguyên liệu đem phân tích.
0,00088 : Sè gam vitamin C tương đương với 1 ml I 0,01N.
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu.
Số liệu được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel theo các phương pháp
thống kê toán học [ 15].
+ Giá trị trung bình :
n
X
X
n
i
i



Trong đó :

i



2
)(
n ≥ 30
+ Sai sè : m =
n
S

20 Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái tới năng suất và chất
lượng quả
Giới thực vật nói chung và các loài cây ăn quả nói riêng trong quá trình
sinh trưởng, phát triển phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố sinh thái như: nhiệt độ
môi trường, nhiệt độ đất, độ Èm, lượng mưa, số giờ chiếu sáng, hàm lượng các
nguyên tố đa lượng, vi lượng có trong đất, chế độ bón phân, tưới nước
3.1.1. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng của khu vực nghiên cứu.
Bắc Giang là tỉnh có phần lớn diện tích tự nhiên là đồi núi (3/4)

0
). Trên dải
địa hình này có những đỉnh núi cao chót vót như: đỉnh Dây Dìu, Đèo Tạo,
Đèo Trê Vùng có địa hình cao trung bình là huyện Kinh Môn và một phần
nhỏ huyện Chí Linh với độ cao từ 100 - 290m, sườn đồi dốc 15 - 30
0
. Vùng
đồng bằng có dạng địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao chênh lệch từ
phía Bắc, Đông Bắc Xuống phía Nam từ 5 - 6m.[35]
Thanh Hà là huyện đồng bằng nằm cách trung tâm thành phố Hải
Dương 15km, đất Thanh Hà được hình thành chủ yếu do phù sa hệ thống
sông Thái Bình và một phần hệ thống sông Hồng bồi lấp. Đất phù sa sông
Hồng thường có màu tươi, kết cấu tơi xốp. Đất phù sa sông Thái Bình có
màu nâu nhạt hoặc hơi xám, địa hình lồi lõm phức tạp [35]. Nét đặc thù nhất
là các xã trung tâm Thanh Xá, Thanh Khê, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Thanh
Xuân là điểm hội tụ của nhiều dòng sông đổ về: Phía Bắc là sông Rạng đổ
về, phía Nam là sông Văn Óc ngược nước triều từ biển lên, phía Tây là sông
Thái Bình đổ về; 3 con sông này cùng đổ về sông Hương. Dòng sông Hương
lại đem nước và phù sa bồi đắp cho cả khu vực này. Chính bởi vậy mà các

22
vườn vải thiều ở các xã trên cứ vài năm lại được bà con đưa phù sa vào. Nhờ
đó mà năng suất cây vải tăng lên mà lại Ýt tốn kém về mặt kinh tế.

3.1.2. Mét số nhân tố nhân tố sinh thái đất
3.1.2.1. Ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng đa lượng tới năng suất
và chất lượng quả.
Các nguyên tố khoáng đa lượng có vai trò rất lớn tới sự sinh trưởng,
phát triển của cây trồng, là thành phần quyết định tới năng suất và phẩm
chất của cây (trong đó có cây vải thiều). Đất trồng luôn chứa hàm lượng các

O
5

K
2
O
1
Thanh Hà
0,73
0,08
0,042
0,612
6,83
6,55
2
Lục Ngạn
0,63
0,08
0,022
0,680
0,85
7,17

Kết quả phân tích ở bảng cho thấy, hàm lượng phốt pho (lân) trong
đất ở Thanh Hà cao hơn so với ở Lục Ngạn, vì thế rễ vải ở Lục Ngạn phát

23
triển chậm, hàm lượng đường trong quả thấp hơn so với ở Thanh Hà (hàm
lượng đường trong quả vải Lục Ngạn thấp hơn so với vải Thanh Hà 85,5g/l
nước Ðp đối với đường khử và 24,5g/l nước Ðp đối với đường tổng số). Kết

suất cao, phẩm chất tốt. Cho nên biện pháp kỹ thuật bón phân để kích thích
lộc thu ra nhiều, phát triển tốt là rất quan trọng để quyết định đến năng suất
vải. Điều này rất phù hợp với nghiên cứu của Lê Đức Diên và cộng sự "vào
thời kỳ tăng trưởng đầu, làm cho diện tích lá tăng thật nhanh, vào thời kỳ
sinh trưởng giữa và cuối, làm cho lá không quá rậm, vào thời kỳ sinh trưởng
cuối làm cho khả năng quang hợp của đơn vị diện tích lá không bị giảm. Về
mặt kỹ thuật chủ yếu dựa vào việc bón phân đạm [9].
Kali tham gia trực tiếp vào sự vận chuyển trong mạch libe và phân bố
với hàm lượng rất cao trong libe. Kali là chất dễ di chuyển, nó trung hoà các
axit hữu cơ trong quá trình trao đổi chất. Tỷ lệ kali tăng lên thì tỉ lệ Canxi,
magie giảm xuống. Kali còn ảnh hưởng đến áp lực thẩm thấu, làm giảm sự
phát tán và giữ độ trương nước của tế bào. Kali lại còn tham dự vào quá
trình quang hợp và cấu tạo ra đường bột. Nó thúc đẩy hoạt động lục - hoá
của lá xanh, vận dụng ánh sáng có lợi [11]. Kết quả phân tích cho thấy hàm
lượng kali ở đất Thanh Hà thấp hơn so với Lục Ngạn, điều đó đã giải thích
tại sao lá vải ở Thanh Hà đôi khi có hiện tượng bị quăn. Kết quả nghiên cứu
của Bùi Huy Đáp cũng cho thấy điều đó: “cây thiếu kali thì lá sẽ bị quăn,
màu lá không tươi do không tổng hợp được chất diệp lục và thường bị rông
ngay sau khi cây ra hoa” [11]. Nhưng có lẽ, hàm lượng kali trong đất trồng
vải Thanh Hà thiếu không nhiều và lại được người trồng bổ sung thường
xuyên nên nhìn chung năng suất vải không bị ảnh hưởng nhiều.
Sang tháng 9, nông dân ở Thanh Hà và Lục Ngạn tiếp tục bón phân
thúc lần 2 cho cây vải với liều lượng và kỹ thuật bón như lần 1. Dưới sự
hướng dẫn của các kỹ sư nông nghiệp thì tuyệt đối không được bón phân
thúc lần 2 vào tháng 10, vì bón phân vào thời điểm này cây vải dÔ ra lộc

25
đông (cuối tháng 11, đầu tháng 12). Nếu cây vải ra lộc đông, thì cây sẽ tiêu
hao rất nhiều chất dinh dưỡng và ảnh hưởng đến sự phân hoá mầm hoa. Kết
quả là năm sau cây vải sẽ không ra hoa hoặc ra rất Ýt hoa và như vậy là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status