Bước đầu nghiên cứu tiềm năng áp dụng sản xuất sạch hơn trong các làng nghề Hà Nội và một số tỉnh lân cận – trường hợp làng nghề sản xuất đồ gỗ phun sơn – Thôn Châu Phong – Liên Hà - Đông Anh – Hà Nội - Pdf 24

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hoà chung với nhịp độ phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp,
các ngành tiểu thủ công nghiệp trong những năm gần đây cũng phát triển một
cách mạnh mẽ, đặc biệt là các làng nghề. Sự phát triển đó một mặt tạo nên sự
phát triển kinh tế phi nông nghiệp, tăng thu nhập cho lao động nông thôn,
song một mặt cũng tác động nguy hại tới môi trường nông thôn. Các biện
pháp xử lý, kiểm soát ô nhiễm nay không chỉ còn là của công nghiệp mà trong
lĩnh vực nông nghiệp – cụ thể là làng nghế nông thôn cũng đã được các cơ
quan có thẩm quyền áp dụng. Đó là các biện pháp về xử lý chất thải, quy
hoạch theo sản xuất làng nghề tập trung, di dời các cơ sở hộ sản xuất khỏi
làng nghề đông đúc dân cư. Tuy nhiên, suy cho cùng các biện pháp đó cũng
chỉ là chuyển chất thải từ nơi này sang nơi khác, từ dạng này sang dạng khác
mà thôi. Vì vậy, cần phải có những biện pháp giảm thiểu chất thải ngay tại
nguồn – ngay tại khu vực dân cư khá nhạy cảm.
Sản xuất sạch hơn (SXSH) mới được biết đến ở Việt Nam và đã áp
dụng khá thành công trong công nghiệp trong công nghiệp trong thời gian gần
đây là các biện pháp được tiếp cận theo kiểu phòng ngừa, phòng ngừa liên tục
tổng hợp đối với tất cả các hoạt động sản xuất nào có sử dụng một khối lượng
lớn năng lượng, nguyên nhiên liệu, có sinh ra chất thải Có nghĩa là về
nguyên tắc SXSH có thể áp dụng thành công đối với các hoạt động tại làng
nghề. Đây là một cách tiếp cận hoàn toàn mới mẻ và qua quá trình thực tập
cùng với những kiến thức khiêm tốn về SXSH tôi mạnh dạn tiến hành nghiên
cứu đề tài: “ Bước đầu nghiên cứu tiềm năng áp dụng sản xuất sạch hơn
trong các làng nghề Hà Nội và một số tỉnh lân cận – trường hợp làng nghề
sản xuất đồ gỗ phun sơn – Thôn Châu Phong – Liên Hà - Đông Anh – Hà
Nội”.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:

Ít ưa
chuộng nhất
SẢN XUẤT SẠCH HƠN
-Phòng ngừa tái chế chất
thải.
-Tái chế/ tái sử dụng tại chỗ
Tái chế/ tái sử dụng bên ngoài.
Kiểm soát/ xử lý
Đổ chất thải
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo cách tiếp cận truyền thống, việc bảo vệ môi trường tập trung chủ
yếu giải quyết các loại chất thải sau khi chúng đã được phát sinh ra, tức là xử
lý cuối đường ống. Các nhà sản xuất công nghiệp sẽ thực hiện việc xử lý các
chất phế thải, vận chuyển chất thải đi đổ, hoặc tái chế, tái sử dụng ở bên ngoài
phạm vi xí nghiệp. Cách làm này đòi hỏi những chi phí (xử lý, nộp phí, vận
chuyển, sự cố…) và như thế luôn được coi là tạo ra gánh nặng tài chính cho
các doanh nghiệp nên không được các doanh nghiệp thực hiện một cách hăng
hái, tích cực. Cách tiếp cận cuối đường ống như vậy đã trở nên lạc hậu và
không còn thích hợp nữa bởi tính không chủ động, ít hiệu quả; hơn nữa năng
lực xử lý, thu gom chất thải và khả năng hấp thụ của môi trường không thể
theo kịp với đà gia tăng chất thải ngày càng nhiều trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội. Hiện nay, nhiều nuớc trên thế giới đã áp dụng một cách tiếp
cận mới, tiên tiến theo kiểu phòng ngừa tổng hợp trong quản lý môi trường.
Theo cách tiếp cận này, các doanh nghiệp thực hiện giảm và tránh chất thải
ngay tại nguồn phát sinh.
Sự khác nhau cơ bản giữa hai các tiếp cận nêu trên là thời điểm thực
hiện: cách thứ nhất, sau khi phát sinh chất thải và được coi là phản ứng – xử
lý; còn cách thứ 2 là tiếp cận chủ động theo hướng dự đoán và phòng ngừa.
Cách tiếp cận mới này được biết đến với tên gọi là sản xuất sạch hơn (SXSH).
2. Khái niệm về sản xuất sạch hơn và các khái niệm tương đương.

theo kiểu phòng ngừa chất thải và các biện pháp của nó đợc coi là các biện
pháp giảm bớt ô nhiễm tại gốc (nơi chất thải có thể phát sinh), thông qua việc
6
SẢN XUẤT SẠCH HƠN
Giảm nguồn phát
sinh
Là một chiến lược tổng hợp,
liên tục và mang tính phòng
ngừa
Nhằm thay đổi
Thay thế mang tính
cơ bản
Bảo toàn năng lượng
Thiết kế môi trường
Để tăng hiệu quả tổng thể,
Điều này sẽ.
Cải thiệntình hình môi trường
và giảm chi phí
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tạo ra các thay đổi trong việc sử dụng các đầu vào, thay đổi công nghệ, cải
tiến qui trình vận hành và đổi mới sản phẩm.
• Phòng ngừa ô nhiễm: Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (USAPA) đã
định nghĩa phòng ngừa ô nhiễm là việc sử dụng nguyên vật liệu, qui trình
hoặc qui chuẩn cho phép làm giảm bớt phát sinh chất ô nhiễm hoặc chất thải
ngay tại nguồn gốc của chúng. Phòng ngừa ô nhiễm bao gồm cả những hoạt
động giúp làm giảm bớt việc sử dụng các nguyên vật liệu độc hại, giảm tiêu
thụ năng lượng, nước và các nguồn khác và các hoạt động bảo vệ tài nguyên
như bảo tồn và sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn.
Cách tiếp cận này đã nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp sẽ có lợi hơn
nhiều nếu thay vì áp dụng các biện pháp xử lý chất thải, tìm cách không tạo ra

Giảm chất thải tại nguồn. Tuần hoàn.
Cải biến sản
phẩm.
Quản lý nội vi.
Thay đổi nguyên
liệu.
Thay thế, cải tiến
thiết bị.
Kiểm soát quá
trình tôt hơn.
Tái chế, tái
sử dụng,
tận thu tại
chỗ.
Tạo sản
phẩm phụ.
Thay đổi
sản phẩm.
Thay đổi
bao bì.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Các giải pháp liên quan đến thay đổi nguyên liệu đầu vào bằng các
loại không hoặc ít độc hại hơn đối với con người và môi trường, các nguyên
liệu có chất lượng tốt hơn nhằm làm giảm chất thải phát sinh ra môi trường
trong quá trình sản xuất.
- Các biện pháp cải tiến hoặc kiểm soát quá trình hoạt động nhằm
mục đích vận hành các công đoạn sản xuất với mức hiệu quả cao hơn, sử
dụng ít nguyên liệu đầu vào hơn. Giải pháp này thường liên quan đến việc đào
tạo công nhân vận hành hoặc bổ xung thiết bị giám sát, kiểm soát quá trình.
- Các giải pháp thay thế, cải tiến thiết bị nhằm giảm lượng tiêu hao

nước. Chỉ thị đã coi phòng ngừa ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo, kết hợp với
xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên. Tư tưởng chủ đạo trên hoàn toàn phù hợp với xu thế mới của thế giới
chuyển từ kiểm soát ô nhiễm sang phòng ngừa ô nhiễm trong công tác quản lý
môi trường. Sự đổi mới này đã được chứng minh tính đúng đắn của nó trong
thực tiễn kể từ khi chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) đưa ra
chương trình “Sản xuất sạch hơn” vào năm 1990. Cùng với đó, ngày
22/9/1999 Bộ trưởng Bộ KHCN và MT Chu Tuấn Nhạ đã ký vào bản tuyên
ngôn quốc tế về SXSH, thể hiện sự cam kết của chính phủ ta phát triển đất
nước theo chiến lược phát triển bền vững. Trước đó, ngày 22/4/1999 Trung
tâm SXSH Việt Nam được thành lập.
Các hoạt động SXSH ở nước ta trong những năm vừa qua chủ yếu tập
trung vào:
• Phổ biến thông tin và nâng cao nhận thức.
• Trình diễn kỹ thuật về đánh giá SXSH tại doanh nghiệp nhằm thuyết
phục giới công nghiệp tiếp nhận việc áp dụng SXSH vào hoạt động sản xuất
kinh doanh.
• Đào tạo nguồn nhân lực xây dựng năng lực quốc gia về SXSH.
- Về mặt phổ biến thông tin và nâng cao nhận thức:
Mục đích của các hoạt động này là nhằm nâng cao nhận thức về SXSH
trong cộng đồng công nghiệp, các cơ quan chính phủ và các trường Đại học.
Trong những năm vừa qua, khái niệm về SXSH, các khái niệm tương đương
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và các kết quả áp dụng SXSH đã được đưa lên các bài báo, tạp chí và các tờ
báo đầu tư trong nước. Các phóng sự truyền hình về các hoạt động SXSH đã
được phát trên kênh vô tuyến, truyền hình TƯ và địa phương. Hàng chục cuộc
hội thảo về nâng cao nhận thức về SXSH đã được tổ chức tại các tỉnh, thành
thuộc các dự án khác nhau. Trong năm 2001 – 2002, trung tâm SXSH đã tổ
chức 12 hội thảo (CP1) thuộc dự án “ Những chiến lược và cơ chế khuyến

(chưa tính đến lợi ích môi trường) với thời gian hoàn vốn dưới 6 tháng, giảm
được 20-35% tổng lượng chất thải đưa vào môi trường. Tuy nhiên, việc thực
hiện SXSH ở các doanh nghiệp không giống nhau: có doanh nghiệp chỉ dừng
lại ở mức đánh giá sơ bộ và thực hiện các giải pháp thuộc nhóm quản lý nội
vi, có doanh nghiệp đã đánh giá khá chi tiết và thực hiện được nhiều giải pháp
SXSH.
Phần lớn các giải pháp SXSH thực hiện ở các doanh nghiệp thuộc
nhóm quản lý nội vi và kiểm soát quá trình. Số liệu thống kê cho thấy, tỷ lệ
các nhóm giải pháp được áp dụng như sau:
Bảng: Tỷ lệ các nhóm giải pháp SXSH được áp dụng tại Việt Nam
T
T
Các nhóm giải pháp. Tỷ lệ %
1 Quản lý nội vi. 30
2 Kiểm soát quá trình
công nghệ.
40
3 Cải tiến thiết bị. 8
4 Thu hồi, tái sử dụng và
tạo sản phẩm phụ hữu ích.
12
5 Các nhóm giải pháp
còn lại.
10
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguồn: TS. Ngô thị Nga – TTSXS Việt Nam: “Hiện trạng và tiềm năng
áp dụng SXSH ở Việt Nam”.
Qua bảng trên cho thấy rằng, nhóm giải pháp về quản lý nội vi và kiểm
soát quá trình công nghệ là 2 nhóm giải pháp được các doanh nghiệp áp dụng

nghề và tổng thu nhập từ nghề phải chiếm trên 50% tổng thu nhập cả làng”.
Trước đây, hầu hết tất cả các làng nghề đều được coi là làng nghề
truyền thống: là làng nghề ở nông thôn có một hay nhiều nghề thủ công
truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem
lại phần thu nhập chiếm chủ yếu trong năm. Những nghề thủ công đó được
truyền từ đời này qua đời khác, sản phẩm làm ra có tính nổi bật tinh xảo mang
tính mỹ nghệ và trở thành hàng hoá trên thị trường.
Ngày nay, “làng nghề mới” – những làng nghề mới được hình thành do
nhu cầu phát triển kinh tế thị trường, một số đông các hộ tham gia chuyên sản
xuất một mặt hàng nào đó có tính độc đáo và độ tinh xảo cao - đã được hình
thành và phát triển bên cạnh làng nghề truyền thống tạo nên sự đa dạng trong
làng nghề Việt Nam.
1.2 Vai trò của làng nghề.
Sự khôi phục và phát triển của làng nghề trong những năm gần đây đã
tạo nên những chuyển biến tích cực trong sự phát triển kinh tế xã hội của các
địa phương – chúng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn nước ta. Điều này được thể hiện qua
những khía cạnh sau:
• Góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động:
Theo con số thống kê, cả nước có trên 1450 làng nghề, đã giải quyết
cho 1,4 triệu lao động có việc làm. Đặc biệt một số tỉnh có nhiều lao động
hoạt động trong lĩnh vực làng nghề như Hà Tây với 113.956 lao động; Thái
Bình với 88.505 lao động; Hà Nội thu hút 67.679 lao động, chiếm tới 8% lực
lượng lao động. Mỗi hộ ngành nghề tạo được việc làm cho từ 2-5 lao động, cơ
sở ngành nghề tạo được từ 8-10 chỗ làm việc. Hoạt động làng nghề đã mang
lại thu nhập cao hơn cho người lao động ở nông thôn. Theo tính toán sơ bộ,
mức thu nhập tính theo đầu người ở các hộ làng nghề cao từ 1,7- 5 lần so với
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các hộ thuần nông: trung bình thu nhập của lao động ở cơ sở chuyên ngành là

Là một bộ phận trong kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn – làng nghề
luôn tạo nên động lực thúc đẩy kinh tế nông nghịêp, nó khai thác tiềm năng
thế mạnh sẵn có của làng: nguyên liệu tại chỗ chiếm 80% (20% từ các địa
phương khác) và lao động chủ yếu là lao động tại chỗ. Theo số liệu thống kê,
ở nông thôn hiện nay số hộ thuần nông (sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp)
chiếm 62,22% và đây thường là những hộ nghèo, kinh tế khó khăn; hộ kiêm
tiểu thủ công nghiệp chiếm 26,49%; và hộ, cơ sở chuyên ngành nghề, dịch vụ
chiếm 11,29%. Sự phát triển nhanh của làng nghề (8,6 – 9,8%/năm; riêng từ
1999 đến nay tăng 10 –11%/năm) đã góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ
trọng nông nghiệp trong GDP của khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, sản phẩm
của làng không những cung cấp cho thị trường nông thôn mà cho thị trường
cả nước và cho xuất khẩu. Theo báo cáo của Bộ Thương Mại, đã nhiều năm
nay hàng thủ công mỹ nghệ luôn đạt kim ngạch xuất khẩu 121 triệu USD
(chưa kể đồ gia dụng) năm 1999 đạt 168 triệu USD và năm 2000 đạt 300 triệu
USD.
• Góp phần duy trì, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, truyền thống
dân tộc:
Các ngành nghề truyền thống lâu đời nổi tiếng đều gắn với quá trình
hình thành văn hoá văn minh dân tộc, kết quả tìm tòi trong quá trình sản xuất
sản phẩm thủ công của cha ông đã để lại cho thế hệ mai sau những sản phẩm
tuyệt hảo, những ý tưởng thiêng liêng đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc được
truyền lại cho đời sau. Việc khôi phục và phát triển các ngành nghề chính là
sự bảo tồn nét đẹp, tinh hoa, lịch sử cội nguồn dân tộc. Những sản phẩm làm
ra từ làng nghề không chỉ đơn giản là để thu lời mà những văn hoa, đường nét
trên đó còn nói lên hoạt động văn hoá xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. Vì
vậy, các thế hệ nối tiếp sản xuất hàng thủ công truyền thống không chỉ vì thu
nhập mà còn vì giá trị tinh thần của sản phẩm. Đó có lẽ là một lý do quan
trọng giải thích cho sự bền vững của làng nghề trước những biến đổi lớn lao
của cuộc sống.

đến những chi phí đầu tư thì chắc chắn các hộ sẽ hưởng ứng, tham gia. Hơn
nữa, làng nghề gồm những hộ, gia đình tư nhân nên dễ dàng thay đổi ý thức
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sản xuất. Vì thế, quản lý nội vi sẽ là một nhóm giải pháp rất thích hợp trong
hoạt động của làng nghề.
Các VD của quản lý nội vi có thể là: khắc phục điểm dò rỉ của dụng cụ,
máy móc, đóng van nước, tắt thiết bị điện khi không sử dụng, bảo dưỡng may
móc thiết bị…
• Thay đổi nguyên liệu đầu vào: Đó là việc thay thế các nguyên liệu
đang sử dụng bằng các nguyên liệu khác ít độc hại hơn đối với con người và
môi trường, ở làng nghề nguyên liệu chủ yếu là các nguyên liệu rẻ tiền và sẵn
có ở địa phương. Hơn nữa, sử dụng nguyên liệu đầu vào theo qui trình tồn tại
từ lâu đời do đó các hộ sản xuất ít chú ý đến việc thay đổi những nguyên liệu
truyền thống của họ. Song sản phẩm từ làng nghề làm ra không chỉ tiêu dùng
nội địa mà còn xuất khẩu đặc biệt là các sản phẩm mỹ nghệ – mộc, thì tỷ lệ
sản phẩm xuất khẩu là rất cao nên đòi hỏi chất lượng, độ tinh xảo và mẫu mã
trong sản phẩm ngày càng cao. Do đó, một số hộ, cơ sở làng nghề đã mạnh
dạn sử dụng hoặc trong thời gian nghiên cứu sử dụng những nguyên liệu tốt
hơn.
• Cải tiến hoặc kiểm soát quá trình hoạt động: Cải tiến qui trình làm
việc, hướng dẫn sử dụng máy móc và thực hiện ghi chép theo dõi đầy đủ qui
trình công nghệ – các thông số của qui trình sản xuất như : nhiệt độ, thời gian,
tốc độ… cần được giám sát và duy trì nhằm đạt mức hiệu quả tốt hơn. Đây là
giải pháp cần thực hiện đối với các làng nghề bởi hầu hết thợ sản xuất cần
được đào tạo, nâng cao kỹ thuật, khả năng vận hành máy móc, tăng cường
giám sát thiết bị…
• Thay đổi công nghệ: Thực tế hoạt động trong các làng nghề hiện nay,
hoạt động sản xuất thủ công vẫn chiếm chủ yếu cùng với những dây chuyền
sản xuất đơn giản. Mặt khác, vốn sản xuất khiêm tốn, qui mô sản xuất chật

định sẽ có thể tránh một số vấn đề môi trờng nh các chi phí để sơn nó. Việc
thay đổi hoàn toàn sản phẩm đối với một số làng nghề là không thể bởi sản
phẩm là sự đúc kết tính độc đáo của làng nghề. Nhng có thể thay đổi kích
thớc hay bao bì sản phẩm cho các sản phẩm của làng nghề nhằm tăng hiệu
quả kinh doanh.
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các giải pháp sử dụng hiệu quả năng lượng: năng lượng là đầu vào
không thể thiếu trong các hoạt động sản xuất nói chung và hoạt động làng
nghề nói riêng. Tại các làng nghề điện nước dùng cho sinh hoạt cũng là đầu
vào của quá trình sản xuất tức là giá điện , nước rẻ hơn so với mục đích sản
xuất. Do đó các hộ sản xuất còn sử dụng điện nước một cách lãng phí. Nên
các giải pháp để giảm bớt thất thoát/ điện nước là hết sức cần thiết.
3. Lợi ích của SXSH.
SXSH có ý nghĩa không chỉ trong hoạt động công nghiệp với qui mô
nhỏ hay lớn mà còn đối với hoạt động tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề.
Bởi phương pháp này có thể mang lại những lợi ích thiết thực đối với các làng
nghề trên cả phương diện kinh tế lẫn phương diện môi trường.
3.1. Lợi ích kinh tế của SXSH.
3.1.1. SXSH giúp tăng năng suất.
Áp dụng SXSH trong các công đoạn sản xuất sẽ giảm đáng kể thời gian
thu dọn phế thải, nâng cao điều kiện làm việc cho người thợ từ đó giúp họ
chuyên tâm vào công việc của mình hơn, làm ra được nhiều sản phẩm hơn
trong cùng một đơn vị thời gian tức là năng suất lao động của họ sẽ được tăng
lên.
3.1.2. Giảm chi phí.
Có thể nói rằng lợi ích dễ thuyết phục nhất trong SXSH tại các làng
nghề là khả năng giảm lượng nguyên liệu, điện tiêu thụ. Bởi do có được
nguồn nguyên liệu dồi dào, rẻ tiền nên các hộ sản xuất chưa đặc biệt quan tâm
đến việc giảm nguyên liệu đầu vào. Có khi do bảo quản nguyên liệu không tốt

ô nhiễm. Như vậy nếu áp dụng và duy trì SXSH thì hiện trạng kinh tế và môi
trường sẽ được cải thiện. Ngoài ra, SXSH còn có thể cải thiện một số điều
kiện an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp cho thợ thủ công thông qua việc dọn
dẹp, vệ sinh nhà xưởng máy móc, thiết bị, nâng cao ý thức phòng bệnh cho
người sản xuất bởi hầu hết thợ thủ công làng nghề làm việc trong điều kiện
không sử dụng bảo hộ lao động nên nguy cơ nhiễm bệnh là rất cao.
3.2.2. Tuân thủ pháp luật về môi trường tốt hơn.
Hiện nay, các cơ sở sản xuất làng nghề gây ô nhiễm nặng phải chịu áp
lực rất lớn từ các cơ quan quản lý môi trường mà điển hình là giải pháp di dời
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các cơ sở này (đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng). Việc này
sẽ làm tăng chi phí cho các hộ sản xuất. Vì vậy thay vì phải chịu phạt , xử lý ô
nhiễm bằng việc lắp đặt hệ thống kiểm soát môi trường phức tạp và đắt tiền
như hệ thống xử lý nước thải, khí thải nếu các làng nghề này tiếp cận SXSH
sẽ giúp cho việc xử lý trở nên dễ dàng và rẻ tiền hơn do giảm được lưu lượng,
tải lượng thậm chí là độc tính của dòng thải.
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II. BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ÁP DỤNG SXSH
TRONG CÁC LÀNG NGHỀ HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ TỈNH LÂN CẬN.
I. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LÀNG NGHỀ Ở HÀ NỘI VÀ
TẠI MỘT SỐ TỈNH LÂN CẬN.
1. Tình hình phát triển làng nghề
Trong những năm gần đây, làng nghề ở nông thôn được phục hồi và
phát triển mạnh mẽ, do đó có sự đổi mới về thể chế quản lý kinh tế, nhất là
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
Hà Nội và một số tỉnh lân cận như: Hà Tây, Hưng Yên, Bắc Ninh là
những nơi có truyền thống văn hoá lâu đời, nó đã tác động trực tiếp đến sự

68
27
22
40
88
57
33
68.679
113.956
34.120
21.191
(Nguồn: Tạp chí NN&PTNT 8/2002-trg 717)
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hà Nội và các tỉnh lân cận không những là nơi tập trung đông đúc làng
nghề, nơi có lịch sử phát triển làng nghề lâu đời mà còn là nơi phát triển với
tốc độ nhanh nhất cả nước (10 – 12%/năm), đặc biệt ở Hưng Yên, tăng trưởng
làng nghề đạt mức 17%/năm, có nơi đạt tốc độ tăng trưởng trên 23% như
Đồng Kỵ – Bắc Ninh.
2. Các loại hình làng nghề chủ yếu ở Hà Nội và các tỉnh lân cận.
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, các làng nghề nông thôn nước ta đã
có bước phát triển khá mạnh mẽ về cả qui mô lẫn số lượng vốn. Những sản
phẩm và phương thức sản xuất khá phong phú đa dạng nên việc phân loại các
làng nghề có những căn cứ nhất định. Hiện nay, làng nghề được phân loại dựa
trên những căn cứ sau:
• Thứ nhất: căn cứ vào đối tượng, nguyên liệu và công nghệ sản xuất
có 3 nhóm:
+ Làng nghề chế biến nông lâm thuỷ sản
+ Làng nghề tiểu thủ công nghiệp và xây dựng.
+ Làng nghề dịch vụ sản xuất và đời sống.

Bảng: Các loại hình làng nghề tại Hà Nội và cùng lân cân
TT Các loại hình làng nghề. Số lượng Tỷ lệ %
1
2
3
4
5
6
Chế biến lương thực thực
phẩm.
Dệt nhuộm
Tái chế chất thải
Thủ công mỹ nghệ
Sản xuất vật liệu xây dựng
Buôn bán và dịch vụ
48
28
64
57
13
9
22
13
29
26
6
4
Tồng 219 100
(Nguồn: Tạp chí hoạt động khoa học số 10/2002 – tr23).
Nhận xét: Qua bảng trên ta thấy rằng: số lượng các làng nghề chế biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status