điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn bê nuôi tại xí nghiệp chăn nuôi bò phù đổng và biện pháp điều trị - Pdf 24

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp Hà
Nội, tôi đã được nhận sự dạy dỗ chỉ bảo của các thầy cô giáo, đặc biệt là các
thầy cô giáo trong khoa Thú y đã tận tình giúp tôi có những kiến thức cơ bản về
nghề nghiệp cũng như tư cách, đạo đức của người làm khoa học kỹ thuật.
Đến nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, nhân dịp này cho phép
tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới:
Các thầy cô giáo trong khoa Thú y, đặc biệt là Th.s Phạm Thị Lan Hương –
giảng viên bộ môn Nội - Chẩn - Dược - Độc Chất, Khoa Thú Y- Trường ĐHNN
Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình
thực tập.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn BSTY Trần Văn Vũ – Phó giám đốc Xí
nghiệp chăn nuôi bò Phù Đổng, cùng các anh chị, cô chú trong xí nghiệp đã
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại xí nghiệp.
Tôi cũng xin cám ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và thực tập tốt nghiệp.
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2014
Sinh viên
Đinh Thị Thu Hoài
1
1
MỤC LỤC
2
2
DANH MỤC BẢNG
3
3
DANH MỤC ĐỒ THỊ
DANH MỤC HÌNH
4
4

những nguyên nhân ảnh hưởng chủ yếu đến hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò
đó là tình hình dịch bệnh. Trong đó đặc biệt là bệnh về tiêu chảy. Tiêu chảy là
triệu chứng chung, đặc trưng và thường xuất hiện trong bệnh lý đường tiêu hóa
của gia súc. Bệnh thường xảy ra khi gia súc chuyển vùng, điều kiện chăm sóc
nuôi dưỡng không hợp lý, thức ăn kém phẩm chất, do bội nhiễm vi khuẩn như
E.coli, Salmonella…trong đó những điều kiện bất lợi của ngoại cảnh là yếu tố
mở đường, đóng vai trò quan trọng trong quá trình bệnh. Bệnh tiêu chảy thấy ở
mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất vẫn là ở bê sơ sinh tới 3 tháng tuổi. Theo Lê
Minh Trí (1995) ở bê nghé có 70-80% tổn thất nằm trong thời kì bú sữa mẹ và
80-90% trong đó là hậu quả do bệnh tiêu chảy gây ra.
Xuất phát từ thực trạng trên để hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra và nâng
cao hiệu quả chăn nuôi tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra tình hình mắc
hội chứng tiêu chảy ở đàn bê nuôi tại Xí nghiệp chăn nuôi bò Phù Đổng và
biện pháp điều trị”
1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài
- Điều tra tỉ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở bê nuôi tại Xí nghiệp chăn nuôi bò Phù
Đổng
- Đưa ra phác đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao, góp phần làm giảm thiệt hại do
bệnh gây nên.
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
6
6
2.1. Khái niệm về hội chứng tiêu chảy
Tiêu chảy là ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước do
rối loạn chức phận tiêu hóa (ruột tăng cường co bóp và tiết dịch).
Tiêu chảy ở trâu bò là một hiện tượng bệnh lý phức tạp, gây ra bởi sự tác
động tổng hợp của nhiều yếu tố. Một trong những nguyên nhân quan trọng là sự
tác động của điều kiện ngoại cảnh bất lợi, gây ra các stress cho cơ thể. Mặt khác
các khâu chăm sóc nuôi dưỡng, chuồng trại không thường xuyên vệ sinh sạch

lợi ở đường tiêu hóa do không cạnh tranh được nên giảm đi. Cuối cùng quá trình
loạn khuẩn xảy ra, khả năng hấp thu bị rối loạn gây hiện tượng tiêu chảy (Vũ
Văn Ngũ và cs, 1979). Vi khuẩn đường ruột có vai trò không thể thiếu được
trong hội chứng tiêu chảy ( Hồ Văn Nam và cs, 1994).
Tiêu chảy là một hội chứng thường xuất hiện ở trâu bò mọi lứa tuổi nhưng
tập trung nhiều nhất ở giai đoạn còn non. Hội chứng này không những làm giảm
tăng trọng, giảm tỉ lệ nuôi sống, dễ dàng làm kế phát các bệnh khác và làm giảm
hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi. Bệnh gây ra do các vi khuẩn đường ruột như
E. coli, Enterobacter, Klebsiella, Sallmonella với tỉ lệ tương ứng là 66.7%, 40.7%,
3.7%, 3.7% và có thể điều trị khỏi bằng các loại kháng sinh như Amicacin,
Norfloxacin, Gentamycin, Neomycin, Colistin ( Châu Bá Lộc và cs, 2000).
Vì vậy, phân biệt thật rạch ròi nguyên nhân gây tiêu chảy không đơn giản.
Ngày nay, người ta thống nhất rằng, phân loại chỉ có nghĩa tương đối, chỉ nêu
lên yếu tố nào là chính, xuất hiện đầu tiên, yếu tố nào là phụ hoặc xuất hiện sau,
từ đó đề ra phác đồ phòng, trị bệnh có hiệu quả mà thôi. Nhìn chung, hội chứng
tiêu chảy ở gia súc xảy ra do các nguyên nhân chủ yếu sau:
2.2.1. Môi trường ngoại cảnh thay dổi
Cơ thể trâu bò luôn chịu những biến đổi bất thường về nhiệt độ, ẩm độ và
luôn phải tự điều chỉnh đối với sự thay đổi của điều kiện ngoại cảnh, dẫn tới sức
đề kháng của cơ thể bị giảm sút, khả năng mắc bệnh cao. Nước ta nằm trong
8
8
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu được phân chia thành bốn mùa rõ rệt.
Thời tiết khí hậu trong mỗi mùa lại có sự khác nhau rõ rệt về nhiệt độ và ẩm độ.
Vụ Xuân - Hè, nhiệt độ dần tăng cao, các đợt mưa đầu mùa làm độ ẩm không
khí cao, đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật có hại sinh
trưởng, phát triển và gây bệnh đối với vật nuôi, các bệnh truyền nhiễm
có điều kiện thuận lợi phát triển làm dịch bệnh lây lan, gây chết nhiều gia súc,
trong đó có một loại bệnh phổ biến thường gặp ở gia súc non là bệnh về đường
tiêu hoá.

không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể gia súc, tạo cơ hội cho các
vi khuẩn đường tiêu hoá phát triển và gây bệnh.
Trong khẩu phần thức ăn dinh dưỡng của gia súc, nếu thức ăn bị thiếu một
số nguyên tố đa, vi lượng như sắt, đồng, kẽm hoặc thừa Molipden thì cũng có
thể gây ra những rối loạn tiêu hoá, gây tiêu chảy ở thể cấp hoặc mãn tính, kèm
theo sựthay đổi màu sắc lông da thì gia súc có thể bịthiếu máu. Với những thức
ăn bịlẫn các chất kim loại nặng như chì, Asen, thuỷ ngân,Cadimi thường gây ra
hiện tượng gia súc bị rối loạn tiêu hoá kết hợp với các triệu chứng thần kinh.
Nguyễn Đăng Đức (1985) cho biết: yếu tố nước đóng vai trò quan trọng trong
đời sống hàng ngày cho người và động vật. Song cũng chính từ các nguồn nước
khi bị ô nhiễm các hợp chất vô cơ, hữu cơ lại là môi trường sống thuận tiện cho
các vi sinh vật tồn tại và phát triển, trong đó có các vi sinh vật gây bệnh.
10
10
Đối với bê đang bú sữa nếu không tập cho bê uống sữa dần ngay từ khi bê
mới sinh ra cũng làm bê bị rối loạn tiêu hóa gây ỉa chảy. Cho bê uống quá nhiều
sữa, cho uống sữa đột ngột, nhiệt độ sữa không phù hợp cũng dễ gây tiêu chảy
cho bê.
2.2.3.Nguyên nhân do vi sinh vật
Vi sinh vật bao gồm các loại virus, vi khuẩn và nấm mốc. Chúng vừa là
nguyên nhân nguyên phát, cũng vừa là nguyên nhân thứ phát gây tiêu chảy.
* Tiêu chảy do virus
Virus là những vi sinh vật cực kỳ nhỏ, ký sinh bắt buộc và chỉ phát triển
trên tế bào sống của thực vật, động vật và vi khuẩn.
Các virus gây bệnh đường tiêu hóa thường gây các triệu chứng nôn mửa
kèm theo tiêu chảy có nhiều nước, phân màu vàng hoặc hơi xanh, mùi hôi thối.
Khooteng Huat (1995) đã thống kê có hơn 10 loại virus có tác động làm tổn
thương đường tiêu hóa, gây viêm ruột ỉa chảy như: Enterovirus, Rotavirus,
Coronavirus,…
Rotavirus và Coronavirus là những virus gây tiêu chảy quan trọng ở gia

tiêu chảy có tỷ lệ nhiễm Salmonella cao hơn so với trâu bình thường tương ứng
với tỷ lệ là 27,50% và 18,87%.
Thành phần vi khuẩn trong phân bê, nghé tiêu chảy thấy tập trung có 4
loài: E.coli, Salmonella, Shigella, Klebsiella, trong đó chủ yếu là E.coli và
Salmonella có tỷ lệ nhiễm cao (72,48%, 51,32%) (Nguyễn Ngã và cs, 2000).
Vũ Đạt, Đoàn Thị Băng Tâm (1995) đã chứng minh vai trò của
Salmonella trong hội chứng tiêu chảy của trâu, bò, bê, nghé và thông báo: Trâu,
nghé khỏe mạnh có tỷ lệ nhiễm Salmonella từ 23,30% - 31,07%. Trong trường
hợp tiêu chảy, tỷ lệ này tăng lên 37,50% (ở trâu) và 71,43% (ở nghé), đồng thời
có hiện tượng bội nhiễm rõ.
12
12
Theo Phan Thanh Phượng và cs (1996) cho biết: vi khuẩn Cl.perfrigens là
một trong những tác nhân gây bệnh quan trọng trong hội chứng tiêu chảy ở lợn
lứa tuổi 1 – 60 ngày và 60 – 120 ngày. Lượng vi khuẩn yếm khí có trong 1g
phân lợn bình thường là 4,2 triệu/g, ở lợn bị bệnh lên tới 7,6 triệu/g phân.
Các tác giả Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Vũ Bình Minh, Đỗ Ngọc
Thúy (1999) cho biết: 70 mẫu bệnh phẩm của lợn mắc bệnh tiêu chảy ởcác lứa
tuổi khác nhau, đã phân lập được 60 chủng E.coli, chiếm 85,75% và Salmonella
chiếm 80%. Từ kết quả này tác giả đã khẳng định hai loại vi khuẩn E.coli và
Salmonella đóng vai trò chính gây chứng tiêu chảy.
Xoắn khuẩn Spirochaetaceae serpulina, Treponema hyodysenteriae là
nguyên nhân chính gây bệnh hồng lỵ ở lợn. Bệnh có triệu chứng đặc trưng là sốt
cao, ỉa chảy, phân có lẫn máu và vàng niêm mạc với dịch lầy nhầy, tỷ lệchết
30% - 50%. Bệnh càng trầm trọng hơn nếu kế phát các vi khuẩn như E.coli,
Salmonella.
* Tiêu chảy do nấm mốc
Nấm mốc là vi sinh vật có cấu tạo gần giống với giới thực vật, sống ký
sinh hay hoại sinh trên nhiều chất khác nhau, đặc biệt là các chất hữu cơ. Người
ta tìm thấy nấm mốc ở khắp mọi nơi, từ phân, đất, cây cối mục nát, quần áo,

trưởng và phát triển, cơ thể gầy yếu nên dễ kế phát các bệnh truyền nhiễm khác,
làm số lượng và chất lượng thịt giảm,….
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) cho biết: Các loài ký sinh trùng gây
tiêu chảy cho trâu bò thường gặp là: Nematode, Strongyloides, Ascaris suum,
Fasciola herpatica.
Qua việc nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hóa của trâu bò,
Nguyễn Thị Lan Anh và cs, 2000 cho biết: Trâu bò bị nhiễm giun sán đường tiêu
hóa rất sớm và nhiễm ở mọi lứa tuổi, đặc biệt lứa tuổi từ 1 đến 4 tháng tuổi, tỷ lệ
nhiễm giun tròn là 82,1%.
14
14
Giun đũa Toxocara vitulorum thường gây ỉa chảy phân trắng cho bê, nghé
non 1 – 3 tháng tuổi. Sán lá gan Fasciola gigantica trong quá trình ký sinh cũng tiết
độc tố gây ỉa chảy cho bê non. Những ký sinh trùng thường là nguyên nhân tiền
phát cho nhiễm khuẩn và ỉa chảy nặng ở bê nghé (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002).
Lê Văn Năm (2004) cho biết: ở lợn con, bê, nghé nhiễm cầu trùng, do các
kỹ thuật viên thường sai sót trong chẩn đoán, dẫn tới 30 – 50% gia súc non bị
bệnh chết, số còn lại còi cọc và chậm lớn.
2.3.Bệnh lý và lâm sàng của hội chứng tiêu chảy ở bê
2.3.1.Bệnh lý
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường
tiêu hoá. Như đã đề cập ở trên, nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy rất đa
dạng, do đó quá trình bệnh lý do chúng gây ra cũng rất phức tạp. Mỗi nguyên
nhân khi tác động lên đường tiêu hoá đều theo một cơ chế nhất định, đồng thời
vị trí tác động không giống nhau, vì vậy mà cơ quan tiêu hoá tổn thương khác
nhau và mức độ nặng nhẹ cũng khác nhau.
Theo Phạm Sỹ lăng và Lê Văn Tạo (2002), vi sinh vật và ký sinh trùng
xâm nhập vào đường tiêu hoá của súc vật non do ăn uống, chúng gây tác hại khi
số lượng nhiều, sức đề kháng của con vật giảm thấp hoặc khi ruột bị tổn thương.
Vi khuẩn đóng vai trò quan trọng gây tác hại trong hệ thống tiêu hoá của

rối loạn hoạt động của enzim, từ đó làm rối loạn chức năng tiêu hoá hấp thu, rối
loạn cân bằng dịch thể ở ruột. Mất nước có thể làm giảm lưu lượng tuần hoàn,
dẫn đến trụy tim mạch, gây tử vong.
2.3.2. Lâm sàng
Biểu hiện lâm sàng của hội chứng tiêu chảy nói chung, dễ thấy và điển
hình nhất là hiện tượng ỉa chảy. Phân lúc đầu có thể táo hoặc không, sau đó ỉa
chảy, có thể sền sệt hoặc lỏng do các bệnh ký sinh trùng, trong khi các bệnh phó
thương hàn, dịch tả ở giai đoạn cuối phân lỏng hoặc vọt cần câu. Đồng thời màu
sắc phân cũng có sự khác nhau: bê nghé bị phó thương hàn phân có màu vàng
16
16
xám, bệnh do vi khuẩn E. coli phân chuyển từ vàng nhạt sang màu trắng. Theo
Phạm Sỹ Lăng và cs (2002), bê nghé bị tiêu chảy phân có lẫn máu tươi hoặc
màu nâu do tổ chức niêm mạc và mao mạch ở ruột bị phá hoại có thể là biểu
hiện lâm sàng của bệnh cầu trùng
Bê nghé bị tiêu chảy thường có các biểu hiện như: thân nhiệt thường tăng
nhẹ, con vật uống nhiều nước, ăn ít hoặc bỏ ăn, đầu tiên phân sền sệt, vài ngày
sau ỉa chảy nặng, phân chỉ là dịch màu xám xanh, xám vàng và có mùi tanh,
phân dính ở hậu môn và đuôi. Bê nghé ỉa chảy nặng có thể 10-15 lần/ngày, mất
nước nhanh làm cho con vật trũng mắt, da nhăn nheo và chết trong tình trạng
mất nước, mất chất điện giải.
Bê nghé non bị tiêu chảy nặng thường chết sau 3-4 ngày, tỷ lệ chết cao
(30-40%), nếu không điều trị kịp thời. Tuy nhiên, tỷ lệ chết rất khác nhau tuỳ
thuộc vào mức độ trầm trọng của bệnh. Tỷ lệ nghé ốm do giun đũa chiếm tới 38-
44% so với số nghé đẻ ra, số nghé chết về bệnh chiếm tới 25-50% số nghé ốm.
Như vậy, mỗi năm số nghé chết do giun đũa chiếm 20% số nghé đẻ ra. Phạm Sỹ
Lăng và Lê Văn Tạo (2002) cho biết, những bê nghé mắc bệnh tiêu chảy do
E.coli ở thể nhẹ có thể qua khỏi sau một vài ngày mà không cần điều trị, nhưng
khoảng 15 - 20% số bê nghé bị bệnh ngày một nặng hơn, suy sụp hoàn toàn,
nhiễm độc huyết dẫn đến chết nếu không điều trị tích cực.

2.4.1. Cơ chế
Tiêu chảy có thể do 1 trong 3 cơ chế hoặc kết hợp cả 3 cơ chế gây ra.
- Hấp thu kém đơn thuần hoặc hấp thu kém kết hợp với lên men vi sinh vật dẫn
đến tiêu chảy. Khi hấp thu kém, các chất chứa trong lòng ruột bị tồn đọng sẽ
kích thích ruột tăng cường co bóp nhằm đẩy nhanh các chất đó ra ngoài
- Tăng tiết dịch trong sự nguyên vẹn về cấu trúc ruột nhưng rối loạn chức năng
chuyển hóa của ruột như trong Colibacillocis, độc tố đường ruột…
- Tăng dịch rỉ viêm trong các bệnh có đặc trưng tăng tính thấm thành mạch và
tăng tính thấm biểu mô.
Những nhân tố gây bệnh từ bên ngoài hay bên trong cơ thể tác động vào
hệ thống nội thụ cảm của ruột sẽ làm trở ngại cơ năng vận động và tiết dịch của
ruột, tạo điều kiện thuận lợi cho những vi sinh vật đường ruột phát triển, làm
18
18
tăng quá trình lên men và thối rữa trong ruột. Loại vi khuẩn lên men chất bột
đường sinh ra nhiều axit hữu cơ như a. acetic, a. aceto acetic, a. butyric, a.
propyonic…và các chất khí như CH
4
, CO
2,
H
2
… Loại vi khuẩn phân giải
protein sinh ra indol, scatol, crecol, phenol, H
2
S, NH
3
,…và các amino acid. Từ
sự lên men và thối rữa đó đã làm thay đổi độ pH ở trong ruột và cản trở quá
trình tiêu hóa – hấp thu.

Thiếu máu
Còi xương
Hội chứng tiêu chảy
Mãn
tính
Cấp
tính
Mất muối
Mất nước
Máu cô đặc
Rối loạn chuyểnhóa
Nhiễm toan
Khối lượng tuần hoàn giảm
Thoát huyết tương
20
20
Dãn mạch
Giảm huyết áp
Trụy mạch
Nhiễm độc thần kinh
Hình 2.1. Sơ đồ cơ chế và hậu quả của hội chứng tiêu chảy
Đối với tiêu chảy cấp tính, cơ thể bị mất nhiều nước và nhanh qua phân
cùng với đó là mất lượng muối khoáng. Do vậy,trước hết là gây giảm tuần hoàn,
giảm huyết áp, có thể dẫn tới trụy tim mạch do mất nước – máu cô đặc. Đồng
thời cơ chế mất muối kiềm của dịch tụy, dịch mật và dịch ruột dẫn đến nhiễm
axit. Vì giảm tuần hoàn dẫn đến rối loạn chuyển hóa các chất, mô bào thiếu oxi,
gây tăng cường chuyển hóa yếm khí, làm cho tình trạng nhiễm axit tăng lên, gây
21
21
nhiễm độc thần kinh, giãn mạch, thúc đẩy thêm quá trình rối loạn huyết động

Mất nước nhược trương
Mất dịch và mất Natri nặng
Mất nước nặng và giảm Natri trong máu trầm trọng
Hình 2.2. Các thể mất nước
• Mất nước ưu trương
Nước bị mất nhiều hơn chất điện giải, ở khu vực ngoại bào thể tích nước bị
giảm, đậm độ muối tăng (tức là hằng số điện giải tăng lên) nên áp lực thẩm thấu
tăng. Để lập lại cân bằng áp lực thẩm thấu giữa hai khu vực thì nước đi từ nội
bào ra ngoại bào. Kết quả là cả hai khu vực nội và ngoại bào đều mất nước, đó
là mất nước toàn bộ. Cùng với sự mất nước người ta thấy có sự di chuyển các
chất điện giải như K
+
từ nội bào ra khu vực ngoại bào, Na
+
và H
+
lại từ khu vực
ngoại bào vào trong nội bào.
• Mất nước đẳng trương
Nước và chất điện giải mất một lượng tương đương. Trong trường hợp
này, thể tích nước trong khu vực ngoại bào bị giảm nhưng đậm độ điện giải
23
23
không thay đổi nên áp lực thẩm thấu không thay đổi. Trong nội bào vẫn giữ
được trạng thái thăng bằng điện giải H
+
nên không bị ảnh hưởng.
• Mất nước nhược trương
Các chất điện giải mất nhiều hơn nước. Trong trường hợp này, thể tích
nước ở khu vực ngoại bào bị giảm, nhưng vì mất nhiều muối nên đậm độ cũng

nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, tuổi bê nghé Ví dụ bệnh ký sinh trùng thường
phát triển trong những tháng nóng ẩm, mưa nhiều. Bệnh cầu trùng bê nghé, khi
thời tiết nóng ẩm, cho noãn nang cầu trùng dễ phát triển đến giai đoạn cảm
nhiễm ngay trên nền chuồng và bãi chăn thả. Người ta cũng quan sát thấy bê
nghé thường phát bệnh khi thời tiết thay đổi từ ấm áp sang lạnh ẩm. Thiếu thức
ăn cũng làm cho bê nghé giảm sức đề kháng. Đối với bệnh giun đũa, thường
mắc ở bê nghé sơ sinh đến 3 tháng tuổi (23 - 64%), đến 4 tháng tuổi thì không bị
nhiễm (Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo, 2002).
Nhiều tác giả lưu ý rằng, khi chẩn đoán bê nghé mắc tiêu chảy dựa vào
đặc điểm dịch tễ thì tuỳ từng điều kiện cụ thể mà loại trừ bớt khả năng gây bệnh,
để có kết luận ban đầu về nguyên nhân gây bệnh.
Biện pháp thường dùng nữa là căn cứ vào biểu hiện lâm sàng để chẩn
đoán, nhưng cần phải chẩn đoán phân biệt giữa các bệnh có triệu chứng tiêu
chảy để loại trừ nguyên nhân nghi ngờ và tìm ra nguyên nhân chính. Dù là
nguyên nhân gì dẫn đến tiêu chảy thì bê nghé đều biểu hiện bằng triệu chứng ỉa
chảy, phân lỏng hoặc toàn nước. Do tiêu chảy mất nước nên bê nghé gầy còm,
ốm yếu, da nhăn, lông xù, niêm mạc nhợt nhạt. Nếu ỉa chảy kéo dài, con vật suy
nhược hoàn toàn, run rẩy, đứng không vững. Tiêu chảy nặng có thể dẫn đến trụy
tim mạch và chết. Nếu nguyên phát là do vi khuẩn, độc chất hoặc vi rút, rồi kế
phát nhiễm khuẩn sẽ làm thân nhiệt tăng từ 0,5 - 1,5
o
C tuỳ theo mức độ nhiễm
khuẩn. Tiêu chảy do độc tố, chất độc, thời tiết, thay đổi thức ăn thì nhiệt độ cơ
thể không tăng. Màu phân có thể thay đổi tuỳ thuộc nguyên nhân gây bệnh. Ví
dụ, bê nghé sơ sinh bị nhiễm giun đũa thường phân có màu trắng, nếu bị nhiễm
25
25

Trích đoạn ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Giới thiệu chung về xí nghiệp Kết quả theo dõi các chỉ tiêu lâm sàng Trạng thái phân và số lần đi ỉa trong ngày KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status