Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước hết tôi xin cảm ơn sâu sắc
đến các thầy cô trong bộ môn cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Thú Y
– Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới thầy giáo TS.
Chu Đức Thắng, người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt quá
trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ thú y xó, cỏc hộ gia đình chăn nuôi
lợn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ,
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập này.
Cuối cùng tôi xin chúc toàn thể các thầy cô giáo trong khoa thú y –
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, cán bộ trong ban thú y xó cựng gia đình
và bạn bè sức khẻo và hạnh phúc.
Hà Nội, ngày 05 tháng 04 năm 2012
Sinh viên
Lê Thị Thu Hằng
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
i
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
MỤC LỤC
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
ii
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
triển các gia trại, trang trại chăn nuôi gia cầm.
1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.1. Điều kiện kinh tế
Xã Lam Hạ có cơ cấu kinh tế phát triển theo xu hướng tích cực, tất cả các
ngành sản xuất như thương mại dịch vụ, xây dựng hạ tầng đều có những bước
phát triển đáng kể, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Kinh tế của xó đó
chuyển từ kinh tế tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, xu hướng chuyển dịch
kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng
của ngành công nghiệp và dịch vụ. Sử dụng ngày càng hiệu quả tiềm năng sẵn
có của địa phương.Song bên cạnh đó cũng còn gặp nhiều khó khăn vì trình độ
dân trí còn thấp, ảnh hưởng của các tập tục lạc hậu đã cản trở lớn việc tiếp thu
khoa học kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ vào quá trình phát triển của xã.
Đòi hỏi các cấp lãnh đạo, các nhà khoa học tập trung đầu tư, nghiên cứu toàn
diện, cụ thể để khơi dậy và phát huy các thế mạnh và tiềm năng của xã nhằm
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của xã.
1.2.2.Điều kiện xã hội
Lam Hạ có tổng dân số là 6352 người, gồm 1871 hộ, dân cư phân bố
không đồng đều giữa cỏc thụn trong xã.
Trong toàn xã có nhiều trường học, thuộc các cấp học khác nhau đây là
điều kiện nâng cao dân trí của xã. Hệ thống điện đang được nâng cấp nhằm cung
cấp đầy đủ điện đến từng hộ dân, đường giao thông liờn xúm cũn gặp nhiều khó
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
khăn, việc dân cư phân bố không đồng đều gây ra không ít khó khăn cho phát
triển kinh tế cũng như quản lý xã hội. Chính vì vậy đòi hỏi hoạt động của các
ban ngành phải thường xuyên, liên tục, tích cực và đồng bộ đưa nếp sống văn
hóa mới phổ biến trên toàn xã, nâng cao ý thức trách nhiệm, đẩy mạnh hoạt
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
chăn nuôi nhỏ lẻ giảm. Ngoài ra, do dịch “tai xanh”, dịch lở mồm long móng
cũng ảnh hưởng đến số lượng đàn vật nuôi.
Đối với chăn nuôi trâu bò: Qua 3 năm chúng tôi nhận thấy số trõu, bò
tăng từ 805 con(năm 2009) lên 838 con(năm 2010), nhưng đến năm 2011 lại
giảm xuống còn 780 con. Điều này là hệ quả của việc chuyển đổi công cụ lao
động là trõu, bũ sang máy móc (máy cày, máy kéo) nên số lượng trõu, bũ ngày
càng giảm dần. Mặt khác, do diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm dẫn đến
trõu, bũ không có chỗ chăn thả nên số lượng trâu bò giảm.
Đối với chăn nuôi gia cầm: Do dịch cúm gia cầm xảy ra trong những năm
vừa qua cũng làm ảnh hưởng đến đàn gia cầm của xã, số lượng giảm dần từ
62243 con (2009) xuống còn 60200 con (năm 2011). Hiện nay, cùng với sự giúp
đỡ của các cấp, các ngành nên số lượng gia cầm cũng dần được nâng lên.
1.3.2. Tình hình dịch bệnh
Đi đôi với việc phát triển chăn nuôi là vấn đề dịch bệnh. Trong những
năm gần đây, tuy công tác phòng bệnh đã được quan tâm nhiều hơn song tình
hình dịch bệnh vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Đặc biệt mấy năm trở lại đây
bệnh hay xảy ra là: Bệnh lợn con phân trắng, bệnh viêm tử cung, bệnh viêm vú,
phó thương hàn lợn, gây thiệt hại đáng kể cho các hộ chăn nuôi.
1.4. Công tác thú y của xã Lam Hạ
Mặc dù là một tỉnh đồng bằng, dọc đường quốc lộ lớn kinh tế có phần
phát triển nhưng bên cạnh đú cũn một số huyện và xã vẫn còn khó khăn, trong
đó cú xó Lam Hạ, trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành kinh tế chủ đạo của xã,
song một số bệnh vẫn thường xảy ra gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho các hộ
chăn nuôi làm giảm thu nhập của người dân, từ đó nhận thức được tầm quan
trọng của công tác thú y trong chăn nuôi, trong phòng chống dịch bệnh.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
4
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) cho biết, khi sức đề kháng giảm, vi
khuẩn E.coli thường xuyên cư trú trong đường ruột của lợn thừa cơ sinh sản rất
nhanh và gây nên sự mất cân bằng vi sinh vật đường ruột, gây tiêu chảy.
+ Do virus: Ngoài sự góp mặt của vi khuẩn, người ta cũng chứng minh
được rằng virus là nguyên nhân gây ra tiêu chảy ở lợn. Nhiều tác giả đã nghiên
cứu và kết luận một số virus như Rota virus, Parvo virus, Adeno virus, có vai trò
nhất định gây tiêu chảy ở lợn, sự xuất hiện của virus gây tổn thương niêm mạc
đường tiêu hóa, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy thể cấp tính.
Theo Begerland (1980) trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợn trước
và sau cai sữa bị tiêu chảy có rất nhiều loại virus: 20% lợn bệnh phân lập được
Rota virus, 11.2% lợn bệnh có virus viêm dạ dày – ruột truyền nhiễm, 2% có
Enterovirus.
2.1.2. Do ký sinh trùng
Ký sinh trừng trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây
hội chứng tiêu chảy. Khi ký sinh trùng ngoài việc cướp đi dinh dưỡng của vật
chủ, tiết độc tố đầu độc vật chủ, chỳng cũn gõy tác động cơ giới làm tổn thương
niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu cho quá trình nhiễm trùng. Có
nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra HCTC như sán lá ruột lợn,
giun đũa lợn
Theo Phan Lục, Phạm Văn Khuê (1996) sán lá ruột lợn và giun đũa lợn
ký sinh trùng đường tiêu hóa, chúng làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa
gây viêm ruột ỉa chảy.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
2.1.3. Do các nguyên nhân khác
+ Do thời tiết, khí hậu
2.2.1. Cơ chế
Khi tác động của từng nguyên nhân khác nhau thì quá trình sinh bệnh
khác nhau. Tuy nhiên, cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh cũng có những nét
đặc trưng.
Theo Tạ Vị Thịnh (1996) trong mọi trường hợp, tiêu chảy là phản ứng tự
vệ của cơ thể nhằm loại thải các chất độc ra khỏi đường tiêu hóa mà đặc điểm
nhu động ruột mạnh, làm tăng tiết dịch và các chất điện giải, đồng thời làm giảm
hấp thu các chất.
Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1978) khi sức đề kháng của cơ thể suy
giảm, khả năng tiêu hóa thức ăn kém làm thức ăn tích đọng lại nhiều trong ruột,
tạo điều kiện cho vi khuẩn thối rữa phát triển. Đặc biệt quá trình lên men tạo ra
nhiều sản phẩm độc (CH
2
, H
2
S, SO
2
, ) các chất này kích thích làm tăng tính
thấm của thành mạch, nước trong lòng mạch rút vào trong lòng ruột làm thức ăn
nhão ra, đồng thời nhu động ruột tăng lên để đẩy thức ăn ra ngoài gây hiện
tượng ỉa chảy.
Sự rối loạn vận chuyển nước và các chất điện giải ở ruột non gây nên tiêu
chảy do 2 cơ chế: tiêu chảy xuất tiết và tiêu chảy thẩm thấu.
2.2.2. Hậu quả của hội chứng tiêu chảy
Khi tác động vào cơ thể tùy từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình bệnh
lý sinh bệnh và gây hậu quả cụ thể. Tuy nhiên khi hiện tượng tiêu chảy xảy ra,
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
• Phòng bệnh bằng thuốc và vacxin
Ở lợn con giai đoạn bú sữa thường có triệu chứng thiếu sắt, do đó lợn con
thường bị rối loạn tiêu hóa và ỉa chảy. Hiện nay các công ty thuốc đã sản xuất ra
các chế phẩm như: Dextram-Fe, Ferrumm 10% + B
12
Để bổ sung cho lợn con,
phòng thiếu máu, suy dinh dưỡng, các bệnh đường ruột, tăng sức đề kháng cho
lợn con.
Việc tiêm phòng vacxin là biện pháp có hiệu quả cao để phòng bệnh tiêu
chảy cho lợn con tạo miễn dịch chủ động cho chúng.
• Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học
Chế phẩm sinh học là môi trường nuôi cấy một vi sinh vật có lợi nào đó
khi đưa vào cơ thể có tác dụng bổ sung các vi sinh vật hữu ích, giúp duy trì và
lập lại trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa
Năm 1976, Nguyễn Như Viờn đó sử dụng chế phẩm vi sinh vật Subcolac
để phòng hội chứng tiêu chảy, Subcolac là một hợp gồm 3 loại vi khuẩn sống:
Bacilus subtilis, Colibacterium và Lactobacilus. Chế phẩm subcolac được đưa
vào đường tiêu hóa để cung cấp một số men cần thiết, một số vi khuẩn có ích để
lặp lại sự cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột.
Theo Tô Thị Phương (2006) dùng men vi sinh vật cho lợn uống hoặc ăn
có tác dụng giảm tỷ lệ lợn con bị tiêu chảy, lợn tiêu hóa thức ăn tốt, giảm mùi
hôi chuồng.
2.3.2. Các biện pháp trị tiêu chảy
Đề điều trị hội chứng tiêu chảy cần điều trị sớm, kịp thời, thực hiện biện
pháp điều trị tổng hợp như kết hợp điều trị nguyên nhân, điều trị triệu chứng và
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
kéo và phân bón cho cây trồng, cung cấp thực phẩm cho xã hội.Đặc biệt ngành
chăn nuôi lợn hiện nay đóng vai trò cung cấp thực phẩm hàng đầu. Chăn nuôi
lợn nước ta đang là ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa đáp ứng nhu cầu
thực phẩm trong nước, vừa mang về cho đất nước nhiều ngoại tệ thông qua xuất
khẩu.
Trong những năm gần đây phòng trào chăn nuôi lợn nái đang phát triển
mạnh mẽ, nhưng vấn đề đáng quan tâm là thường xuyên xảy ra dịch bệnh đặc
biệt là bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ. Bệnh xảy ra do nhiều nguyên nhân
như: chất lượng sữa mẹ không tốt, thời tiết khớ hõuh thay đổi đột ngột, vệ sinh
chuồng trại kém, cơ thể lợn con thiếu vi lượng sắt. Bệnh xuất hiện lúc ồ ạt, lúc lẻ
tẻ tùy thuộc vào thay đổi ít, nhiều của yếu tố chăm sóc, nuôi nưỡng, sự thay đổi
thời tiết khí hậu, với tỷ lệ mắc bệnh cao 70 – 80%, có nơi lên đến 100%, tỷ lệ
chết 18 – 20% ( Đào Trọng Đạt, (1979)). Khi lợn bị bệnh lâu ngày sẽ ảnh hưởng
đến sự sinh trưởng, phát triển của lợn con sau này, làm giảm khối lượng cai sữa
của đàn lợn giống, chi phí thú y cho điều trị tăng, làm giảm hiệu quả chăn nuôi.
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều thuốc điều trị, nên lựa chọn thuốc
để điều trị iệu quả cao là vấn đề nan giải. Xuất phát từ thực trạng trên, để hạn
chế được thiệt hại do dịch bệnh gây ra đặc biệt là hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
theo mẹ và góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu thực tiễn
sản xuất chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Điều tra tình hình mắc hội
chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến 28 ngày tuổi và đưa ra nột
số phác đồ điều trị tại xã Lam Hạ Thành phố Phủ Lý”.
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Tìm hiểu hiện trạng chăn nuôi lợn ở xã Lam Hạ
Thực trạng công tác thú y, rèn luyện nâng cao tay nghề
Cho uống thuốc điện giải,1gram/1kgTT; hòa nước cho uống
-Phác đồ 3:
Dùng kháng sinh Mafluquyl tiêm bắp với liều lượng 1ml/8kgTT/ngày.
Cho uống thuốc điện giải, 1gram/1kgTT; hòa nước cho uống.
*Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu sau khi tổng kết sơ bộ đã được xử
lý bằng phương pháp thống kê sinh học, với sự hỗ trợ của các phần mềm Excell.
* Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi:
Tỷ lệ mắc HCTC (%) =
Tổng số con mắc bệnh
Tổng số con theo dõi
x 100
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
Tỷ lệ chết (%) =
Tổng số con chết
Tổng số con theo dõi
x 100
Thời gian điều trị trung bình:
n
nixi
X
n
i
∑
−
=
1
−
=
∑
n
XX
S
i
x
(với n<30)
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
Tỷ lệ điều trị khỏi (%) =
Tổng số con điều trị khỏi
Tổng số con điều trị
x 100
Tỷ lệ tái phát (%) =
Tổng số con tái phát
Tổng số con điều trị khỏi
x 100
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
Giá thành điều trị khỏi: a x b
a: Số tiền mỗi liều diều trị (đồng)
b: Thời gian điều trị trung bình (ngày)
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy (HCTC) trên đàn
lợn con theo mẹ tại các hộ gia đình trên địa bàn xã.
3.1.1. Tình hình mắc HCTC qua cỏc thỏng trong năm 2011
Trong các lứa tuổi thì giai đoạn theo mẹ lag giai đoạn Lợn con dễ mắc
lợn con càng dễ mắc bệnh, đõy chớnh là nguyên nhân trực tiếp làm tỷ lệ mắc
tiêu chảy cao trong tháng 3.
+ Tháng 2 tỷ lệ lợn bị tiêu chảy thấp hơn tháng 3 nhưng cao hơn tháng 4
là do tháng này mặc dù thời tiết lạnh hơn tháng 3 nhưng ổn định, độ ẩm không
khí không cao.
+ Tháng 4 tỷ lệ lợn hậu bị tiêu chảy thấp nhất trong 3 tháng, là do trong
tháng 4 nhiệt độ đã tăng dần lên, độ ẩm không khí cao, chênh lệch nhiệt độ trong
ngày thấp, nên lợn con ít bị tác động của ngoại cảnh nên nâng cao được sức đề
kháng.
3.1.2. Tỷ lệ lợn con mắc HCTC theo lứa tuổi
Nhằm tìm hiểu, đánh giá về mức độ mắc tiêu chảy ở từng độ tuổi tại nơi
thực tập. Chúng tôi đã tiến hành theo dõi tỷ lệ mắc tiêu chảy trên từng độ tuổi
của lợn con theo mẹ tại các hộ chăn nuôi trong xã. Chúng tôi tiến hành theo dõi
3 lợn mẹ (33 lợn con) cú cựng lứa tuổi đẻ là 3 hoặc 4, cú cựng chế độ chăm sóc
nuôi dưỡng, sau đó theo dõi số con mắc tiêu chảy ở 1, 2, 3, 4 tuần tuổi. Kết quả
thu được trình bày ở bảng 3.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
Bảng 3: Tỷ lệ mắc HCTC theo lứa tuổi
Ngày tuổi Số lợn theo dõi (con) Số lợn mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%)
1 – 7 33 4 12,12
8 – 14 31 5 16,12
15 – 21 31 3 9,67
22 – 28 29 2 6,89
Qua bảng 3 ta nhận thấy: Lợn ở các tuần tuổi khác nhau thì tỷ lệ mắc
HCTC là khác nhau. Cụ thể ở tuần tuổi thứ 2 có tỉ lệ mắc tiêu chảy là cao nhất
(16,12%), sau đó đến lợn con 1 tuần tuổi (12,12 %), và 3 tuần tuổi (9,67%), thấp
gây thiếu máu đồng thời do thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến lợn bị giảm đề kháng,
dễ bị nhiễm khuẩn đặc biệt là ở đường tiêu hóa gây tiêu chảy.
+ Một nguyên nhân nữa là ở giai đoạn này lợn con hoạt động nhanh nhẹn,
bắt đầu liếm láp thức ăn bổ sung (khi 7 ngày tuổi). Đây là điều kiện thuận lợi để
vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể nhất là vi khuẩn E.coli luôn xuất hiện trong môi
trường . E.coli xâm nhập vào cơ thể lên men thức ăn chưa kịp tiêu hóa sinh axit
làm viêm ruột gây ỉa chảy. E.coli không độc xâm nhập vào cơ thể lợn con với số
lượng lớn gây hiện tượng loạn khuẩn dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây ỉa chảy.
Đối với lợn con từ 15 – 21 ngày tuổi tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy giảm
thấp hơn tuần thứ 2 và tuần đầu tiên. Ở giai đoạn này, lợn con đã dần dần làm
quen được với thức ăn mới, do vậy sự thiếu hụt dinh dưỡng dần được bù đắp, hệ
vi sinh vật phát triển hơn, chức năng điều hòa thân nhiệt được năng cao dần, khả
năng chống chịu với stress và môi trường tốt hơn. Vì vậy bản thân lợn đã hạn
chế được phần nào nguyên nhân gây tiêu chảy.
Giai đoạn 22 – 28 ngày tuổi, ở giai đoạn này tỷ lệ lợn con bị tiêu chảy là
thấp nhất trong 4 giai đoạn đó: ở giai đoạn này năng lượng tích lũy của cơ thể đã
tương đối, sức đề kháng của cơ thể đảm bảo cho lợn một trạng thái sinh lý
thuận lợi để chống đỡ bệnh tật.
Như vậy qua theo dõi chúng tôi nhận thấy: ở 4 độ tuổi khác nhau tỷ lệ
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
mắc HCTC đều khác nhau. Điều này liên quan đến những biến đổi sinh lý của
cơ thể lợn con và những tác động của môi trường bên ngoài. Mặc dù tỷ lệ mắc
tiêu chảy của mỗi độ tuổi là khác nhau nhưng tỷ lệ mắc tiêu chảy trung bình của
các giai đoạn là khá cao 11,2% (14/124). Trong thời gian thực tập tại xó tụi thấy
rằng nguyên nhân chính dãn đến hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ là do tác
động tổng hợp của các yếu tố ngoại cảnh, nuôi dưỡng chăm sóc con chưa được
3.2. Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn con tiêu chảy
Để chẩn đoán chính xác, từ đó đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả cao dựa
vào triệu chứng lâm sàng, đây là phương pháp hay dùng trong thực tế. Trong
thời gian thực tập tụi đó tiến hành theo dõi triệu chứng lâm sàng đặc trưng của
lợn mắc tiêu chảy. Kết quả được trình bày ở bảng sau:
Bảng 5: Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn con tiêu chảy
STT Triệu chứng Số con theo
dõi (con)
Số con có
biểu hiện
(con)
Tỷ lệ
(%)
1 Thân nhiệt bình thường 10 8 80
2 Ủ rũ, mệt mỏi, chậm chạp 10 9 90
3 Ỉa phõn loóng, vàng trắng,
tanh khắm, nhiều lần trong
ngày
10 10 100
4 Thở nhanh, yếu 10 5 50
5 Giảm ăn, bỏ ăn (bú) 10 8 80
6 Da khô, niêm mạc nhợt nhạt 10 5 50
7 Gầy, sút cân 10 10 100
8 Lụng xù 10 6 60
9 Mắt lõm sâu 10 5 50
Qua bảng 5 ta thấy lợn con theo mẹ mắc tiêu chảy có những triệu chứng
điển hình sau: Lợn con ủ rũ, mệt mỏi, chậm chạp (90%); tiờu chảy phõn loóng,
vàng, trắng, tanh khắm, nhiều lần trong ngày (100%); Gầy, sút cân (100%); thân
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa Thó
Y
Phạm Thị Hải Yến TY – K37
lượng thuốc đưa vào cơ thể lớn nên dễ đưa, hầu như không gây sốc cho lợn con
nên có thể dùng cho lợn con từ sơ sinh đến 15 ngày tuổi.
Chúng tôi phát hiện và chọn được 16 lợn con mắc tiêu chảy đồng đều về
lứa tuổi và trọng lượng, chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng, tiến hành phân làm 2
lô thí nghiệm mỗi lô 8 con cho thử phác đồ điều trị 1 và 2. Đồng thời chúng tôi
cũng chọn ra được 8 con có độ tuổi từ 15 – 28 ngày tuổi và cũng tương đối đồng
đều về lứa tuổi và thể trọng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và cho thử phác đồ 3.
Cả 3 phác đồ đều được sử dụng liệu trình là 4 ngày. Sau 4 ngày điều trị,
những lợn không khỏi bệnh được thay thuốc khác để tránh hiện tượng kháng
thuốc và dảm bảo kinh tế khi điều trị.
Trong quá trình điều trị thử nghiệm 3 phác đồ trên chúng tôi tiến hành
theo dõi các chỉ tiêu: tỷ lệ khỏi bệnh, thời gian khỏi bệnh trung bình, tỷ lệ tái
phát, chi phí cho phác đồ điều trị và ảnh hưởng của thuốc đến khả năng sinh
trưởng, phát triển của lợn. Kết quả được trình bày ở bảng sau:
Bảng 6. Tỷ lệ khỏi bệnh và thời gian khỏi bệnh của 3 phác đồ điều trị
Tên thuốc Đường đưa
thuốc
Liều lượng Số
con
điều
trị
(con)
Số con khỏi triệu
chứng sau các
ngày điều trị
Tỷ lệ
khỏi
bệnh
(%)