Điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ và biện pháp phòng trị bệnh tại trại vĩnh tân 2 - Pdf 34

Lời cảm ơn
Khóa luận tốt nghiệp là một học phần có số đơn vị học phần là 10
tín chỉ. Nó là quá trình thực hành hóa những kiến thức về chuyên
ngành mà sinh viên tích lũy được trong suốt khóa học. Trong quá trình
thực hiện khóa luận tốt nghiệp, cá nhân tôi đã gặp một số khó khăn
nhất định. Nhưng tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ để tôi có thể
vượt qua và hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này.
Trước hết, tôi xin cảm ơn các thầy cô trường Đại học Nông lâm
Huế. Đặc biệt, là các thầy cô trong khoa Chăn nuôi – Thú y đã trực
tiếp truyền đạt cho tôi những kiến thức cần thiết để tôi có thể hoàn
thành bài khóa luận này.
Tiếp theo, tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban quản lý cùng các
cô, các chú, các anh chị em công nhân trại chăn nuôi Vĩnh Tân 2.
Trong quá trình thực tập, tôi đã được mọi người chỉ bảo, giúp đỡ tận
tình. Họ truyền dạy cho tôi những kinh nghiệm quý báu mà khó có thể
có được trên giảng đường đại học.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo ThS. Bùi Thị
Hiền. Người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành bài
khóa luận tốt nghiệp này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình của tôi đã tạo mọi
điều kiện tốt nhất để tôi có thể an tâm học tập, hoàn thành bài khóa
luận. Qua đây, tôi cũng xin cảm ơn những người bạn của tôi. Các bạn
đã ở bên cạnh tôi, giúp đỡ tôi những khi tôi gặp khó khăn nhất.
Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên bài khóa luận này
không tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được sự nhận xét, góp
ý của thầy cô giáo để bài khóa luận hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 23 tháng 05 năm
2015
Sinh viên thực hiện
Lê Quang Dương


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Chú giải tiếng anh

AD

Aujezsky’s disease

C. perfringens

Clostridium perfringens

CFU

Colony forming unit

Cs
CSF

Chú giải tiếng việt
Bệnh giả dại
Số đơn vị khuẩn lạc trên 1ml mẫu
Cộng sự

Classical swine fever

Dịch tả lợn
Chế phẩm phòng tiêu chảy cho lợn


Porcine epidemic
diarrhea

Dịch tiêu chảy trên lợn

PRRS

Porcine reproductive and
respiratory syndrome

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh
sản ở lợn

TGE

Transmissible
gastroenteritis

Bệnh viêm dạ dày ruột truyền
nhiễm

U.V

Ultraviolet

Tia tử ngoại

:


2.5.1.1. Rối loạn tiết dịch mật.......................................................................................15
2.5.1.2. Rối loạn tiết dịch vị..........................................................................................15
2.5.1.3. Rối loạn tiết dịch ruột.......................................................................................15
2.5.1.4. Rối loạn co bóp ruột.........................................................................................15
2.5.2. Triệu chứng của bệnh .............................................................................................16
Bệnh thường xảy ra ở lợn con, đặc biệt ở lợn mới sinh đến 21 ngày tuổi, có con mắc sớm
hơn, ngay sau khi sinh ra 1 đến 3 giờ và mắc muộn khi 4 tuần tuổi.................................16
Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt tăng sau 2 đến 3 ngày thì hạ xuống do tiêu chảy mất
nước nhiều. Trong 1 đến 2 ngày đầu mắc bệnh lợn vẫn bú sau đó gầy tọp nhanh, lông xù,
đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính
đầy phân............................................................................................................................16
Tiêu chảy ở mức độ nhẹ lợn không có biểu hiện mất nước nhưng cũng có thể tiêu chảy
nặng. Khối lượng cơ thể bị giảm sút 30- 40% do mất nước. Cơ bụng hóp lại, lợn gầy, suy
kiệt và đi siêu vẹo, mắt trũng sâu, da tái xám và nhợt nhạt. Trong trường hợp mãn tính,
da quanh vùng hậu môn có thể đỏ lên do tiếp xúc với phân kiềm tính, lợn ít bị mất nước
và nếu điều trị tích cực thì có thể khỏi bệnh.....................................................................16
Ngoài việc chẩn đoán dựa vào triệu chứng trên thì bệnh còn được xác định chủ yếu dựa
vào trạng thái biến đổi của phân. Về trạng thái phân có thể chia làm 3 giai đoạn:...........16
2.5.3. Bệnh tích của bệnh..................................................................................................17
Xác chết gầy, đuôi và khoeo dính đầy phân, mắt trũng sâu, lông da khô, mất tính đàn hồi.


Dạ dày chứa đầy sữa đông vón màu vàng trắng chưa tiêu. Ruột non căng phồng chứa đầy
hơi, dịch màu vàng và có xuất huyết điểm ở thành ruột, niêm mạc ruột bị hoại tử từng
đám. Trong ruột già chứa phân màu vàng. Màng treo ruột xuất huyết, hạch màng treo
ruột sưng. Một số trường hợp lợn con bị viêm phổi, xoang ngực, xoang bụng chứa dịch
[41]....................................................................................................................................17
2.6. Những kết quả nghiên cứu về phòng và trị tiêu chảy ở lợn...........................................17
2.6.1. Những nghiên cứu về phòng tiêu chảy...................................................................18
2.6.1.1. Phòng tiêu chảy bằng các biện pháp kỹ thuật..................................................18


Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.................................................................43
5.1. Kết luận..........................................................................................................................43
5.2. Kiến nghị........................................................................................................................43

Phần 6. TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................45
Phần 7. PHỤ LỤC...............................................................................................1


Phần 1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi là một phần của hệ thống nông nghiệp Việt Nam, khi mà tỷ
trọng ngành nông nghiệp đang dần giảm xuống thì chăn nuôi vẫn sẽ giữ vai
trò quan trọng góp phần phát triển kinh tế. Trong đó, chăn nuôi lợn đóng vai
trò chủ yếu trong phát triển ngành chăn nuôi của Việt Nam. Trong 5 năm gần
đây, sản lượng thịt lợn chiếm 76% sản lượng thịt hơi các loại. Sản phẩm thịt
lợn là sản phẩm quen thuộc và không thể thiếu đối với người Việt Nam, nó đã
trở thành loại thức ăn phổ biến nhất so với những loại thịt khác trên thị trường
như thịt bò, thịt trâu, thịt gà, tôm , cua .v.v…Theo kết quả điều tra 01/10/2014
cả nước có khoảng 26,8 triệu con lợn, tăng 1,9%, trong đó đàn lợn nái có 3,9
triệu con, bằng 100,1% so với cùng kỳ năm trước [3]. Hiện tại chăn nuôi lợn
khá thuận lợi do giá lợn hơi tăng và dịch lợn tai xanh không xảy ra đã kích
thích người chăn nuôi đầu tư tái đàn. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6
tháng đầu năm ước tính đạt 1963,3 nghìn tấn, tăng 1,65% so với cùng kỳ năm
trước. Chính vì thế ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam trong những năm qua
đã góp phần chủ đạo vào việc đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng cho người dân,
đặc biệt là người dân ở nông thôn Việt Nam.
Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, chăn nuôi lợn với quy
mô lớn sẽ là biện pháp hiệu quả để tiết kiệm chi phí mua chất đốt và điện thắp
sáng nhờ sử dụng khí biogas từ chăn nuôi lợn. Chăn nuôi lợn quy mô lớn đang

nhìn toàn diện hơn về bệnh này.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra
tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ và biện pháp phòng trị
bệnh tại trại Vĩnh Tân 2”
1.2. Mục tiêu đề tài
- Xác định được tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ lúc sơ sinh đến
21 ngày tuổi tại trại Vĩnh Tân 2
- Điều tra tình hình phòng và điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ lúc
sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Vĩnh Tân 2.

2


Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Khái niệm về hội chứng tiêu chảy
Tiêu chảy là một hội chứng bệnh lý đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật
tiêu nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu
hóa (tăng cường co bóp và tiết dịch) [53], hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay
đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những
thay đổi trong khẩu phần ăn. Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó
không phải là bệnh đặc thù [1].
2.2. Tình hình nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy trên thế giới và ở Việt
Nam
2.2.1. Trên thế giới
Trên thế giới, hội chứng tiêu chảy ở lợn đã được nghiên cứu từ lâu. Các tác
giả đã đi sâu nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy theo nhiều khía cạnh khác nhau
bằng nhiều phương pháp khác nhau.
Radostits và cs (1994) cho rằng E. coli gây bệnh cho lợn là các chủng có
kháng nguyên pili và sản sinh độc tố đường ruột đóng vai trò quan trọng và phổ
biến trong quá trình tiêu chảy ở lợn. Đồng thời, theo ông Salmonella cũng là

thường mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức. Những lợn khỏi bệnh thường
chịu hậu quả còi cọc, thiếu máu, chậm lớn dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp và tỷ
lệ chết cao. Đó cũng là nguyên nhân làm cho hiệu quả chăn nuôi không cao
[22], [59].
Theo Đoàn Thị Băng Tâm (1987) , Sử An Ninh (1993) , Lê Văn Tạo
(1993), Phan Thanh Phượng (1995) , ở nước ta bệnh tiêu chảy xảy ra quanh
năm, đặc biệt là vào vụ đông xuân, khi thời tiết thay đổi đột ngột và vào những
giai đoạn chuyển mùa trong năm [52], [28], [50], [44].
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Tuấn, Lê văn Tạo, Trần Thị Hạnh
(1998) cho thấy bệnh tiêu chảy xảy ra ở mọi lứa tuổi, sơ sinh, cai sữa và cả lợn
sinh sản, nhưng trầm trọng nhất là ở lợn sơ sinh đến cai sữa [64].
Trịnh Văn Thịnh (1964), Vũ Văn Ngữ (1979), Trương Quang (2005) cho
rằng do một tác nhân nào đó, trạng thái cân bằng của khu hệ vi sinh vật đường
ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loại nào đó sinh sản lên quá nhiều sẽ gây ra
hiện tượng loạn khuẩn. Loạn khuẩn đường ruột là nguyên nhân chủ yếu gây
bệnh ở đường tiêu hoá, đặc biệt là gây tiêu chảy [57], [32], [47].
Đào Trọng Đạt và cs (1996) cho biết, khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút.
E. coli thường xuyên cư trú trong đường ruột của lợn thừa cơ sinh sản rất nhanh
và gây nên sự mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, gây tiêu chảy [8].
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1997) tác nhân gây bệnh lợn con
phân trắng chủ yếu là E. coli và nhiều loại Salmonella [18].
4


Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) ở bệnh phân trắng lợn con, tác nhân
gây bệnh chủ yếu là E. coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò
thứ yếu là Proteus, Streptococcus [54].
Hồ Văn Nam, Trương Quang và cs (1997) khi xét nghiệm phân lợn khoẻ và
lợn bị tiêu chảy đã nhận thấy trong phân lợn thường xuyên có các loại vi khuẩn
hiếu khí: E. coli, Salmonella Streptococcus, Klebsiella, Bacilus subtilis. Khi lợn

Tô Thị Phượng (2006) khi nghiên cứu biến động của Salmonella và E. coli
ở lợn qua các lứa tuổi cho thấy, có 100 % các mẫu phân có vi khuẩn E. coli dù
lợn bị tiêu chảy hay không tiêu chảy. Lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tỷ lệ
nhiễm Salmonella là 41,165%, sau đó theo độ tuổi tỷ lệ nhiễm tăng dần từ
58,33% đến 60%. Khi lợn bị tiêu chảy, tỷ lệ Salmonella cũng tăng lên đáng kể,
tỷ lệ nhiễm là 81,25% ở lợn 1 – 21 ngày tuổi , 85,71% ở lợn 22 - 60 ngày tuổi và
75% ở lợn > 60 ngày tuổi. Số lượng vi khuẩn Salmonella cũng tăng lên từ 13,91
triệu đến 41,48 triệu vi khuẩn/1gram phân ở lợn từ 1 đến >60 ngày tuổi [46].
Nguyễn Thị Ngữ (2005) khi nghiên cứu về E. coli và Salmonella trong
phân lợn tiêu chảy và lợn không tiêu chảy cho biết: ở lợn không tiêu chảy có
83,30% - 88,29% số mẫu có E. coli, 61,00% - 70,50% số mẫu có mặt
Salmonella. Trong khi đó ở mẫu phân của lợn bị tiêu chảy thì có tới 93,7% 96,4% số mẫu phân lập có E. coli, và 75,0%-78,6% số mẫu phân lập có
Salmonella [35].
Phan Thanh Phượng (1996) đã xác định vi khuẩn yếm khí Clostridium
perfringens là một trong những tác nhân quan trọng gây ra hội chứng tiêu chảy ở
lợn lứa tuổi 1 đến 120 ngày. ở lợn con theo mẹ, tỷ lệ mắc bệnh có thể đến 100%
và tỷ lệ chết là 60%. Số lượng vi khuẩn C. perfringens trong 1 gam phân lợn
tiêu chảy ở lứa tuổi 1 đến 60 ngày dao động từ 10 6 đến 1010 CFU, số mẫu có
lượng vi khuẩn cao (108, 109, 1010) chiếm tỷ lệ 37% đến 45%. ở lợn từ 60 đến
120 ngày tuổi bị tiêu chảy, những mẫu phân có số lượng vi khuẩn /1gram phân ở
mức 108; 109 chiếm tỷ lệ 27,14% đến 35,71% [45].
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004), các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh,
ẩm thay đổi bất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp
đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng
thích nghi của cơ thể còn yếu [4].
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) thì trong những tháng mưa nhiều, độ ẩm
cao lợn con bị bệnh phân trắng tăng lên rõ rệt, có khi lên đến 90 – 100% [8].
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) hệ thống tiêu hoá (dạ dày, ruột) của lợn
mẫn cảm đặc biệt với stress. Hiện tượng stress thường gây nên biểu hiện chán
ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng [11].

ở giai đoạn lợn con chuyển từ môi trường sống trong bụng mẹ ra môi trường bên
ngoài, từ nuôi dưỡng qua sữa mẹ đến chế độ tập ăn sớm.Hơn nữa, sự thành thục
và thiếu hoàn chỉnh về chức năng của các cơ quan nội tạng, nhất là bộ máy tiêu
hoá, liên quan mật thiết đến sự phát triển của hệ vi sinh vật có lợi hoặc có hại
trong ruột và sức đề kháng của cơ thể chống lại bệnh tật. Quá trình tuần hoàn
chuyển từ tuần hoàn máu qua nhau thai sang tuần hoàn nhờ tim phổi, toàn bộ
máu ở mạch máu rốn qua gan. Sự cân bằng nhiệt của lợn con cũng phải tự thiết
lập để thích ứng với môi trường bên ngoài, không thể nhờ vào cân bằng nhiệt
lượng của cơ thể mẹ như trong giai đoạn bào thai.
Quá trình chuyển hoá, cân bằng năng lượng từ giai đoạn bào thai sang giai
đoạn sau khi sinh rất chậm, chưa thích nghi ngay nên dễ bị tác động bởi môi
trường. Nhờ quá trình oxy hoá mô mỡ nên lợn con điều chỉnh được thân nhiệt.
Khả năng điều chỉnh thân nhiệt khác nhau ở lợn con là do mức độ phát triển
7


khác nhau của mô mỡ ở từng cá thể, từng loại gia súc [6].
Lợn con có nhu cầu dinh dưỡng rất cao. Axit amin là nguyên liệu chủ yếu
cho sự sinh trưởng và phát triển của lợn con. Tốc độ sinh trưởng của gia súc non
rất nhanh, trong vòng 10 đến 14 ngày, thể trọng tăng gấp 1,3 lần; sau 2 tháng
tuổi khối lượng lợn con có thể tăng 14 đến 15 lần so với sơ sinh. Nếu sữa mẹ
không đảm bảo đủ chất lượng, trong khẩu phần ăn thiếu đạm, sự sinh trưởng của
cơ thể sẽ bị chậm hoặc ngừng lại, khả năng chống đỡ bệnh tật rất kém nên cơ thể
dễ bị nhiễm bệnh.
2.3.3. Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con
Ở gia súc trưởng thành, trong đường ruột có hệ vi sinh vật có lợi thường
trực cộng sinh có khả năng khống chế sự xâm nhập và nhân lên của các loài vi
sinh vật khác lạ từ môi trường bên ngoài, đồng thời tham gia vào quá trình tiêu
hoá hấp thu. Trong đường ruột của gia súc non, hệ vi sinh có lợi - vi sinh vật đối
kháng với vi khuẩn gây bệnh chưa hình thành, chức năng tiêu hoá chưa thành

sinh vật đường tiêu hoá luôn ở trạng thái cân bằng và sự cân bằng này là cần
thiết cho cơ thể vật chủ [56], [21].
Theo Vũ Văn Ngữ (1979), vi khuẩn trong đường ruột giữ vai trò là một
“hàng rào vi khuẩn”, ngăn chặn các vi khuẩn gây bệnh đường ruột xâm nhập và
cư trú ở ống tiêu hoá bằng tác động đối kháng giữa các vi khuẩn [32].
Những biến đổi về thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu
hay trạng thái cơ thể tác động làm cho trạng thái cân bằng hệ vi sinh vật trong
đường ruột bị phá vỡ, vi sinh vật có hại hoặc gây bệnh sẽ tăng cường độc lực
sinh ra tiêu chảy.
Theo Nguyễn Thị Khanh (1994), loạn khuẩn thể hiện sự biến động về số
lượng và chất lượng của các nhóm vi khuẩn. Có thể một loài nào đó tăng về số
lượng hoặc tăng về độc lực, cũng có thể có sự đột biến hay sự bội nhiễm [12].
Đoàn Thị Kim Dung (2004) khi nghiên cứu biến động về số loại và số lượng vi
khuẩn hiếu khí ở phân lợn tiêu chảy đã kết luận: bình thường ở lợn giai đoạn 1 đến
21 ngày tuổi trong phân có 5 loại vi khuẩn và ở lợn 22 đến 60 ngày tuổi là 6 loại. Khi
bị tiêu chảy, lợn 1 đến 21 ngày tuổi số lượng vi khuẩn là 261,25x106 vi khuẩn/1gram
phân, ở lợn 22 đến 60 ngày tuổi là 237,99 x106 vi khuẩn /1gram phân [4].
Nguyễn Bá Hiên (2001) cho biết trong đường tiêu hoá của gia súc khoẻ
mạnh và gia súc tiêu chảy thường xuyên có mặt 6 loại vi khuẩn hiếu khí là
Salmonella, E. coli, Klebsiella, Staphylococcus sp., Streptococcus sp., Bacillus
subtilis và các loài vi khuẩn yếm khí Clostridium perfringens, Peptococcus sp.
và Bacteroides fragilis [10].
2.3.4. Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Theo Trương Lăng (2007), khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản
ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể. Các chất lạ có thể là
mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các
cơ quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh. Trong hệ thống tiêu hoá của
lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá
9


làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hóa có
thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh.

10


2.4.2. Do chế độ nuôi dưỡng không hợp lý
Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu,... Là nguyên nhân gây tiêu chảy
ở gia súc. Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể, đồng thời
phương thức chăn nuôi không phù hợp sẽ làm giảm đề kháng của cơ thể gia súc
và tạo cơ hội cho các vi khuẩn đường tiêu hóa phát triển và gây bệnh [26].
2.4.3. Do ký sinh trùng
Ký sinh trùng đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây tiêu
chảy ở gia súc. Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc
bệnh bị tiêu chảy nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình
thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sa sút. Các loài
ký sinh trùng như cầu trùng và một số loài giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun
lươn) là các nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa [15]. Tác hại của chúng
không chỉ cướp chất dinh dưỡng của vật chủ mà còn tác động lên vật chủ bằng
độc tố, đầu độc vật chủ, làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho các bệnh khác
phát sinh. Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) chính phương thức sống ký
sinh của giun sán đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, nhờ đó các mầm
bệnh xâm nhập gây viêm ruột tiêu chảy [14].
2.4.4. Do virus
Ngoài các vi khuẩn E. coli và Salmonella thường xuyên có trong đường
ruột và được coi là tác nhân gây bệnh quan trọng trong chứng viêm ruột tiêu
chảy, vai trò của virus trong gây tiêu chảy cho lợn đã được nhiều nghiên cứu
đề cập đến. Các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Như Pho (2003) cho rằng:
Rotavirus và Coronavirus gây bệnh chủ yếu ở lợn con trong giai đoạn theo mẹ,
với triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ chết cao [38].

phát triển và nhân lên
- Vi khuẩn có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là sản sinh
độc tố, quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin [50].
Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột như E. coli, Salmonella sp,
shigella, klebsiella, C. perfringens, đó là những vi khuẩn quan trọng gây rối loạn
tiêu hóa, viêm ruột tiêu chảy ở người và nhiều loài động vật.
Đào Trọng Đạt và cs (1996) cho biết: chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các vi
khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E. coli với 45,6%. Cũng theo tác giả, vi
khuẩn yếm khí C. perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi và khi nó trở
thành vai trò chính [8].
Vũ Bình Minh, Cù Hữu Phú (1999) khi nghiên cứu về E. coli và
Salmonella ở lợn tiêu chảy cho biết: tỷ lệ phát hiện E. coli độc trong phân là 8090% số mẫu xét nghiệm [24].
Theo Phan Thanh Phượng (1996), vi khuẩn yếm khí C. perfringens là mộ
trong những tác nhân gây bệnh quan trọng trong hội chứng tiêu chảy của lợn ở
lứa tuổi từ 1- 120 ngày tuổi. Ở lợn con theo mẹ, tỷ lệ mắc bệnh do vi khuẩn này
gây ra có thể đến 100% và tỷ lệ chết là 60% [45].
12


Hồ Văn Nam và cs (1997), Archie (2000) đã nhấn mạnh: vi khuẩn đường
ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy [26], [1].
Nguyễn Như Pho (2003) cho rằng, khả năng gây bệnh của các loại vi khuẩn
đối với lứa tuổi lợn khác nhau. Đối với lợn con theo mẹ, lợn sau cai sữa hoặc
giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai đoạn
từ lúc sơ sinh đến sau cai sữa thường do E. coli; lứa tuổi 6- 12 tuần thường do
xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae; còn vi khuẩn yếm khí C. perfringens
thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1 tuần tuổi đến cai sữa.
2.4.6. Do nấm mốc
Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm mốc.
Một số loài như: Aspergillus, Penicillium, Fusarium,... Có khả năng sản sinh

khí, sạch sẽ sẽ làm giảm lượng khí độc trong chuồng nuôi đồng thời hơi nước
thừa được thoát ra ngoài làm cho độ ẩm trong chuông nuôi vừa phải. Cũng theo
tác giả, trong cùng điều kiện chăn nuôi, thời gian nào độ ẩm cao ở chuồng mà
nền không thoát nước, xây dựng ở chỗ đất trũng thì bệnh lợn con phân trắng
phát triển mạnh [61].
2.4.8. Ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn
Đào Trọng Đạt và cs (1996), Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) cũng cho rằng
trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm. Các
yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi. Vì thế việc
làm khô và giữ ấm chuồng nuôi là vô cùng quan trọng. Độ ẩm thích hợp cho lợn
là từ 75 - 85% [8], [11]. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1997) cũng cho rằng
chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối
loạn tiêu hoá [18].
Tiểu khí hậu trong các kiểu chuồng khác nhau sau những trận mưa hay khi
có gió mùa đông bắc thì tỷ lệ lợn con mắc phân trắng tăng lên. Vì vậy, chuồng
trại sạch sẽ, kín, ấm vào mùa đông và vào mùa xuân giữ cho chuồng khô ráo,
chống ẩm ướt sẽ giúp lợn con phòng được bệnh lợn con phân trắng [19].
Tuy nhiên, tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến rất nhiều
các yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân
thứ phát, vì vậy phân biệt rạch ròi nguyên nhân gây tiêu chảy không đơn giản.
Ngày nay người ta thống nhất rằng cách phân loại chỉ có ý nghĩa tương đối,
chỉ nêu lên yếu tố nào là chính, xuất hiện đầu tiên; yếu tố nào là phụ hoặc
xuất hiện sau, từ đó vạch ra phác đồ vạch ra phác đồ phòng trị bệnh cho có
hiệu quả mà thôi [53].
2.5. Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy
2.5.1. Cơ chế sinh bệnh
Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy là quá trình rối loạn chức phận
bộ máy tiêu hóa và nhiễm khuẩn. Hai quá trình này có thể diễn ra đồng thời,
hoặc cũng có thể quá trình này trước, quá trình kia sau và ngược lại, song không
thể phân biệt rõ được từng quá trình.

chảy [5].
2.5.1.4. Rối loạn co bóp ruột
Ruột co bóp quyết định thức ăn qua ruột nhanh hay chậm. Trung bình từ 1,5
giờ đến 3 giờ thì thức ăn tới ruột non và nằm tại đó cho đến giờ thứ 6- 7 thì bị
đẩy sang đại tràng. Tại đây, những cặn bã nằm lại đó đến khoảng 24 giờ sau bữa
ăn thì được tống ra ngoài. Rối loạn co bóp tại ruột cũng có thể tăng co bóp, giảm
co bóp, cùng với tăng hay giảm tiết dịch mà hậu quả của tình trạng này là tiêu
15


chảy, tắc ruột, hấp thu kém và táo bón. Tăng co bóp ruột do tăng các chất phải
hấp thu nên lượng các chất có trong ruột rất nhiều, sẽ kích thích ruột tăng co
bóp, nhanh chóng đẩy các chất ra ngoài, dẫn đến tiêu chảy. Ví dụ, khi tiêu hóa bị
trở ngại, những thức ăn không tiêu ở ruột bị phân hủy, làm tăng áp lực thẩm
thấu, cao hơn trong máu và tổ chức sẽ kéo nước vào trong lòng ruột. Hoặc khi
có viêm ruột, ngộ độc do thức ăn, dịch nhầy của ruột với nước có thể tăng 80 lần
so với bình thường. Lượng dịch trong ruột tăng lên sẽ kích thích ruột tăng co
bóp, sinh ra tiêu chảy [5].
Giảm hấp thu cũng dẫn đến tiêu chảy. Bởi vì, phần lớn nước được hấp thu
tại ruột, do đó chỉ cần giảm tái hấp thu ở ruột là lượng nước trong ruột sẽ rất lớn
hậu quả là gây tiêu chảy. Trong khi đó, trung bình lượng nước đưa vào cơ thể do
ăn uống cùng với dịch tiết của ruột trong một ngày có thể lên tới 10 lít.
Vũ Văn Ngũ(1975), Trịnh Văn Thịnh (1985) cho rằng: do một tác nhân bất
lợi nào đó, trạng thái cân bằng của khu hệ vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ tất cả
hoặc chỉ một loài nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn, gây
ra sự biến động ở nhóm vi khuẩn đường ruột, cũng như ở nhóm vi khuẩn vãng
lai, các vi khuẩn gây bệnh có cơ hội tăng mạnh cả về số lượng và độc lực, các vi
khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hóa do không cạnh tranh nổi nên giảm đi, cuối
cùng loạn khuẩn xảy ra, hấp thu bị rối loạn, gây ra tiêu chảy [30], [58].
2.5.2. Triệu chứng của bệnh

đàn hồi. Dạ dày chứa đầy sữa đông vón màu vàng trắng chưa tiêu. Ruột non căng phồng
chứa đầy hơi, dịch màu vàng và có xuất huyết điểm ở thành ruột, niêm mạc ruột bị hoại
tử từng đám. Trong ruột già chứa phân màu vàng. Màng treo ruột xuất huyết, hạch
màng treo ruột sưng. Một số trường hợp lợn con bị viêm phổi, xoang ngực, xoang bụng
chứa dịch [41].

2.6. Những kết quả nghiên cứu về phòng và trị tiêu chảy ở lợn
Hội chứng tiêu chảy ở gia súc nói chung và ở lợn nói riêng xảy ra thường
xuyên và rất phức tạp bởi nguyên nhân gây bệnh rất khác nhau và có tính chất
tổng hợp bao gồm vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, và các yếu tố khác như thời tiết
khí hậu, vệ sinh chuồng trại, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng…. Các yếu tố như
thời tiết khí hậu, chuồng trại bẩn thỉu, tối tăm ẩm thấp, thức ăn kém chất lượng
được coi là các yếu tố mở đường làm suy giảm sức đề kháng của lợn tạo điều
kiện cho các yếu tố quyết định như vi khuẩn, virus phát huy tác dụng, tăng
cường độc lực dẫn đến loạn khuẩn đường tiêu hóa phát sinh tiêu chảy. Để kìm
khuẩn người ta sử dụng kháng sinh bằng cách bổ sung vào thức ăn và dùng
kháng sinh trong điều trị mà không tính đến khả năng kháng thuốc, tồn dư trong
sản phẩm thịt và cả trường hợp vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hóa bị tiêu
diệt nếu sử dụng lâu dài. Do vậy tìm ra biện pháp tổng hợp, hiệu quả để phòng
và trị hội chứng tiêu chảy nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ mắc bệnh, giảm
thiệt hại cho người chăn nuôi là điều cần thiết. Biện pháp tổng hợp đó là:
- Khống chế điều kiện nuôi dưỡng phù hợp với hoạt động sinh lý của cơ thể
lợn trong từng giai đoạn như vệ sinh chuồng trại, chế độ nhiệt độ, độ ẩm trong
chuồng nuôi, chế độ vận động, chế độ nuôi dưỡng.
- Tăng sức đề kháng bằng cách bổ sung các chất dinh dưỡng, amino acid,
vitamin, chất khoáng, vi lượng
- Tăng sự tiêu hóa bằng việc bổ sung các men tiêu hóa hoặc các vi sinh vật
đặc hiệu sinh enzim, dùng thức ăn có lên men axit lactic để tạo độ pH trong dạ
17


trong quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn thì công tác chăm sóc, nuôi
dưỡng lợn con và lợn mẹ đúng kỹ, thuật phù hợp với lứa tuổi là yếu tố quan
trọng quyết định đến tỷ lệ tiêu chảy cao hay thấp. Việc đảm bảo đủ và sự cân đối
các chất dinh dưỡng trong khẩu phần đóng vai trò quan trọng [67], [59], [7].
18


2.6.1.2. Phòng bệnh bằng vaccine
Phòng bệnh bằng vaccin là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh
đặc biệt là các bệnh có nguyên nhân là vi sinh vật. Vaccine là chế phẩm sinh
học, được bào chế từ các vi sinh vật gây bệnh, trong đó mầm bệnh đã bị giết
chết hay giảm độc không còn khả năng gây bệnh, khi đưa vào cơ thể có khả
năng kích thích hệ thống miễn dịch cơ thể vật chủ sản sinh ra kháng thể. Vaccine
phòng tiêu chảy cho lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được sử dụng để
phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh,
các loại vaccine này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khả quan, đạt
được mục tiêu làm giảm tỷ lệ bệnh.
Khi nghiên cứu xác định vai trò của E. coli trong bệnh phân trắng lợn con
và triển vọng phòng trừ bằng vaccin, Nguyễn Thị Nội (1985) đã chọn những
Serotype thường gặp cùng với các chủng có kháng nguyên K88 để chế vaccine
phòng bệnh, tiêm cho nái chửa 4-6 tuần trước khi đẻ cho kết quả bảo hộ tăng
hơn 30-40% lợn con sinh ra so với lô đối chứng [36].
Lê Văn Tạo (1993) cũng đã nghiên cứu chế tạo vaccin E. coli dạng uống.
Vaccin được chế tạo từ các chủng E. coli gây bệnh phân lập từ các địa phương
dùng cho lợn con uống 3 – 4 lần. Vaccin có tác dụng phòng bệnh đạt tỷ lệ 70%.
Do E. coli có nhiều type kháng nguyên khác nhau nên việc bào chế vaccine E.
coli gặp những khó khăn nhất định và việc chế một loại vaccine E. coli để phòng
bệnh cho lợn ở nhiều địa phương thường đem lại hiệu quả phòng bệnh không
cao. Vì vậy có thể sử dụng phương pháp chế tạo vaccin phòng bệnh E. coli cho
hiệu quả cao bằng cách lấy vi khuẩn E. coli có trong chất chứa đường ruột của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status