ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
HÀ VĂN THUẬN
Tên đề tài:
“KHẢO SÁT TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN
CON THEO MẸ TẠI TRẠI CHĂN NUÔI HÀ DUY VĂN –
LƢƠNG CHÂU -TX SÔNG CÔNG - THÁI NGUYÊN
VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khoá học
:
:
:
:
Chính quy
SPKT
Chăn nuôi Thú y
2011 - 2015
Thái Nguyên, 2015
Giảng viên hƣớng dẫn: TS. HÀ VĂN DOANH
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của
bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của tập thể, cá
nhân trong và ngoài trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, thầy cô giáo và bạn bè đã giúp đỡ
tôi trong những năm học vừa qua và trong suốt quá trình thực tập. Đặc biệt,
tôi xin chân thành cảm ơn TS. Hà Văn Doanh - Bộ môn Cơ sở - Khoa Chăn
Nuôi Thú Y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ chỉ bảo tận
tình để tôi hoàn thành báo cáo tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ trạm thú ý và chủ trại lợn Hà Duy
Văn thị xã Sông Công - Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Hà Văn Thuận
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Sơ đồ phân lô điều trị ............................................................................. 27
Bảng 4.1. Kết quả phục vụ sản xuất. ....................................................................... 32
: mét
Nxb
: Nhà xuất bản
SS
: Sơ sinh
TB
: Trung bình
TT
: Thể trọng
HCTC
: Hội chứng tiêu chảy
PTH
: Phó thương hàn
iv
MỤC LỤC
4.1.2. Phương pháp tiến hành ................................................................................ 29
4.1.3. Kết quả phục vụ sản xuất ............................................................................. 30
4.2. Kết quả nghiên cứu ........................................................................................ 33
4.3. Kết quả điều tra tình hình lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi ............... 35
4.4. Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc HCTC theo tính biệt ...................................... 37
4.5. Kết quả điều tra tình hình lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy theo lứa đẻ của lợn mẹ. 38
4.6. Đánh giá kết quả điều trị ................................................................................. 39
Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ ..................................................... 42
5.1. Kết luận ....................................................................................................... 42
5.2. Tồn tại ......................................................................................................... 43
5.3. Đề nghị ........................................................................................................ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................
I. Tài liệu tiếng Việt .................................................................................................
II. Tài liệu dịch từ tiếng Anh .....................................................................................
III. Tài liệu tiếng Anh ...............................................................................................
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của
ngành nông nghiệp. Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm
không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người. Chủ trương hiện
nay của Nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng
hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục vụ cho
nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu.
Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng
và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân.
Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo,
tại trại.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài.
- So sánh , đánh giá hiệu quả của một số phác đồ điều trị hội chứng tiêu
chảy trên đàn lợn con theo mẹ tại trại.
1.4. Ý nghĩa của đề tài.
- Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu một số bệnh sinh sản là những tư liệu khoa học
phục vụ cho nghiên cứu tiếp theo ở trại.
- Ý nghĩa thực tiễn
+ Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh của một số phác đồ, từ đó đưa ra
những liệu trình điều trị hiệu quả kinh tế để áp dụng rộng rãi trên thực tiễn
chăn nuôi.
+ Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
+ Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn
nuôi, điều trị bệnh cho lợn, từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản than
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Đặc điểm sinh lí của lợn con
Khi mới sinh ra, cơ thể lợn con phát triển để dần hoàn chỉnh về cấu tạo,
chức năng hệ tiêu hóa và miễn dịch. Lợn con trước một tháng tuổi không có
HCL tự do trong dịch vị vì lúc này lượng acid tiết ra và nhanh chóng liên kết
với dịch nhầy. Đây là điều kiện để vi sinh vật phát triển gây bệnh dạ dày ruột ở lợn con. Hơn nữa vì thiếu acid HCl nên pepsinogen tiết ra không trở
thành pepsin hoạt động được gây rối loạn tiêu hóa sữa, sữa bị kết tủa dưới
dạng casein gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy màu phân trắng (màu của casein
chưa được tiêu hóa).
Mặt khác khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt chưa
chưa đảm nhiê ̣m đầ y đủ chức năng tiêu hóa , rấ t dễ gây rố i loa ̣n trao đổ i chấ t ,
hâ ̣u quả dễ nhâ ̣n biế t là rố i loa ̣n tiêu hóa , gây tiêu chảy , còi cọc, thiế u máu và
châ ̣m lớn. Trong dich
̣ vi ̣của gia súc non chưa có đủ acid HCl tự do nên không
hoạt hóa được men pepsin vì vậy không tiêu hó a hế t sữa me ,̣ trong khi đó sữa
mẹ lại là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn.
Cù Xuân Dần và Cs (1996) [5], cho rằng trong dịch vị của lợn con dưới
1 tháng tuổi không có HCl tự do, vì lúc này acid tiết ra ít và nhanh chóng liên
kết với dịch nhầy. Do vậy, vi sinh vật có điều kiện phát triển và gây bệnh
viêm dạ dày, viêm ruột ở lợn con.
Ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày, đây đươ ̣c coi là giai
đoa ̣n thích ứng cầ n thiế t tự nhiên . Chính nhờ sự thích ứng này , cơ thể lơ ̣n con
mới có khả năng hấ p thu đươ ̣c kháng thể miễn dich
̣ qua sữa đầ u
. Trong giai
đoa ̣n này thì dich
̣ vi ̣la ̣i không có hoa ̣t tính phân giải protein mà chỉ có hoa ̣t
5
tính làm vón sữa đầu và sữa nên albumin và globulin đươ ̣c chuyể n xuố ng ruô ̣t
và thẩm thấu vào máu , nhưng khi lợn trên 15 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở
dạ dày không còn là sự cần thiết sinh lý bình thường nữa . Viê ̣c tâ ̣p ăn cho lơ ̣n
con sớm và cai sữa sớm đã rút ngắ n đươ ̣c giai đoa ̣n thiế u HCl , hoạt hóa hoạt
đô ̣ng tiế t dich,
̣ giúp tăng khả năng tạo các đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Giai đoa ̣n sau cai sữa sẽ là mô ̣t giai đoa ̣n khó khăn đố i với lơ ̣n con khi
chuyể n từ sữa me ̣ sang thức ăn tổng hợp (dạng rắn). Điề u đó có thể gây mấ t
Lúc lợn con mới sinh, cơ thể chứa 80% nước và chỉ có 20% lipid (ở 3
tuần có 65% là nước và 12% lipit), ngoài ra còn có glycogen, với tổng năng
lượng dự trữ (lipid + glycogen) vào khoảng 1.000 - 1.200 Kcal, lượng này chỉ
tương đương với năng lượng của 1 lít sữa và chỉ đủ cho lợn con sống khoảng
2 ngày. Do đó đòi hỏi phải đảm bảo cho lợn con được bú sớm và giữ ấm. Nhờ
quá trình oxy hoá mỡ mà gia súc non điều chỉnh được thân nhiệt, do đó lượng
mỡ tích lũy khác nhau sẽ làm cho khả năng điều hoà thân nhiệt khác nhau
(Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, 1986) [9].
*. Thiếu sắt
Sắt giữ vai trò:
- Tổng hợp Hemoglobin
- Photphorin oxy hoá, truyền điện tử (xitocrom và xitocrom oxidaza),
hoạt hoá peroxidaza.
Thiếu sắt dẫn đến thiếu máu do thiếu hàm lượng Hb (Hemoglobin) dẫn
đến hạn chế sản xuất kháng thể.
Dự trữ sắt lúc mới sinh rất ít (60 - 70mg ở gan), trong khi đó nhu cầu
của cơ thể lợn tới 6 - 7mg/ngày, mà lượng sắt ở sữa chỉ có 1mg/con/ngày.
Điều đó cho thấy lợn con thiếu sắt, nhất là khi cai sữa. Vì vậy việc bổ sung sắt
là việc cần thiết trong chăn nuôi lợn nhằm tăng trọng nhanh, hạn chế được hội
chứng tiêu chảy lợn con .
*. Hệ thống miễn dịch và hormone chưa hoàn chỉnh
Miễn dịch là khả năng của cơ thể đáp ứng lại các kích thích của mầm
bê ̣nh khi xâm nhâ ̣p vào cơ thể . Ở gia súc non , mầ m bê ̣nh có nhiề u thuâ ̣n lơ ̣i
7
khi xâm nhâ ̣p vào cơ thể . Trong hê ̣ thố ng tiêu hóa của lơ ̣n con lươ ̣ng enzym
tiêu hóa và lươ ̣ng HCl tiế t ra còn ít nên chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu
hóa, gây rối loạn trao đổi chất , tiêu hóa kém , hấ p thu kém . Chính vì vậy , ở
giai đoa ̣n này mầ m bê ̣nh như Salmonella, E. coli… dễ dàng xâm nhâ ̣p vào cơ
Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây bệnh dịch, mối
quan hệ giữa Cơ thể - Mầm bệnh - Môi trường là nguyên nhân của sự không
ổn định sức khoẻ, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001) [31].
8
Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều
kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn,
nước uống…
Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch,
giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ
Văn Nam và Cs, 1997) [20].
Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không
tốt, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh
vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc
(Trịnh Văn Thịnh, 1985 [34], Hồ Văn Nam và Cs, 1997 [20]).
Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức ăn,
vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển… làm giảm sức đề kháng của con vật, vi
khuẩn thường trực sẽ tăng độ độc và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003) [13].
Như vậy, nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây bệnh tiêu chảy
không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp. Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ
thống điều hoà trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao
đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường
tiêu hoá có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh.
Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là vi khuẩn
Vi khuẩn ở ống tiêu hoá cùng với vật chủ hình thành một hệ thống sinh
thái mà sự cân bằng là cần thiết cho sức khoẻ vật chủ. Vi khuẩn ở ruột có một
vai trò sinh lý rất lớn, chúng tham gia vào quá trình tiêu hoá và chuyển hoá
tinh bột, chất xơ, góp phần vào chuyển hoá nước, dị hoá protit, làm giảm
bilirubin ở ruột và thuỷ phân ure (Nguyễn Tài Lương, 1982) [19].
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [20], Archie. H (2000) [2], vi khuẩn
đường ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy.
10
Theo Nguyễn Như Pho (2003) [24] cho rằng, khả năng gây bệnh của
các loại vi khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau. Đối với lợn sau cai sữa hoặc
giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai
đoạn từ lúc sơ sinh đến sau khi cai sữa thường do E. coli; lứa tuổi 6 - 12 tuần
thì thường do xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae; còn vi khuẩn yếm khí
Cl. perfringens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1
tuần tuổi đến cai sữa.
Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [18] cho biết, bệnh tiêu chảy ở lợn do vi
khuẩn chủ yếu có những bệnh sau:
- Bệnh do vi khuẩn E. coli.
- Bệnh hồng lỵ do Treponema hyodysenteriae
- Bệnh do Campylobacter.
- Bệnh do Salmonella.
- Bệnh do Clostridium perfringens.
*. Tiêu chảy do virus
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [32], virus cũng là tác nhân gây bệnh
tiêu chảy ở gia súc. Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc ruột,
làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính
với tỷ lệ chết cao.
Archie. H (2000) [2] cho biết, Rotavirus và Coronavirus là những virus
gây tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn
con, ngựa con và đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá huỷ màng
ruột và gây tiêu chảy nặng.
Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995) [3] và Nguyễn
Như Pho (2003) [24], cũng cho thấy Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu
mặt niêm mạc ruột của lợn rồi tiết độc tố và gây tiêu chảy.
12
- Độc tố đường ruột: Đây là yếu tố quyết định khả năng gây bệnh và
mức độ tiêu chảy ở lợn khi bị bệnh.
*. Nguyên nhân do Clostridium perfringens
Có 3 loại Clostridium perfringens A, B, C là mầm gây bệnh đường ruột
quan trọng đối với lợn.
- Clostridium perfringens typ B gây bệnh kiết lị, nhiễm độc ruột ở dê,
cừu, ngựa và cả lợn.
- Bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con do Clostridium perfringens typ C có
biểu hiện lâm sàng trầm trọng về tiêu chảy ra máu, lợn con yếu ớt, lười vận
động, tỷ lệ tử vong cao (thường biến động từ 5 - 59%, có khi đến 100%).
- Bệnh nhiễm khuẩn Clostridium perfringens typ A thường nổ ra ở lợn
sau khi sinh được vài giờ, vi khuẩn có thể tìm thấy ở ngay phân su. Lợn con
bị bệnh ỉa phân nhão như kem bột trong vòng 48h sau khi đẻ, lợn không sốt,
bụng chướng hơi. Tiêu chảy thường kéo dài 5 ngày, phân lợn có màu mận
hồng, lợn bệnh chết ít nhưng sau khi khỏi bệnh lợn thường bị chậm lớn.
Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là virus
*. Bệnh dịch tả lợn (Pestis suum)
- Bệnh dịch tả do một loại virus thuộc họ Togaviridiae giống Pestisvirus
gây ra. Bệnh lây lan với tốc độ nhanh qua tiếp xúc, thức ăn, nước uống, hoặc
có thể qua đường hô hấp và bề mặt da bị tổn thương. Bệnh xảy ra quanh năm
và lợn mọi lứa tuổi đều mắc. Những triệu chứng chủ yếu của bệnh là:
- Con vật sốt cao, thường 4 - 5 ngày đầu lợn bệnh bị táo bón, lợn bỏ ăn
thích nằm chỗ tối, khát nước, chảy nước mắt nước mũi. Khi thiệt độ cơ thể
giảm con vật ỉa chảy, phân loãng thối khắm đặc trưng, lợn bị viêm niêm mạc
mắt mũi. Đồng thời trên vùng da mỏng có những điểm lấm tấm xuất huyết
như đầu đinh ghim. Về sau những điểm này thường tập hợp thành từng đám.
14
- Biểu hiện đặc trưng của bệnh là lợn đi ỉa phân màu trắng hoặc vàng,
lúc bị bệnh phân lợn lỏng như nước, sau đó vài giờ hoặc 1 ngày phân sẽ đặc
hơn và có dạng như kem rồi keo quánh trước khi trở lại bình thường.
- Lợn tiêu chảy gầy sút rõ rệt, lông xù. Sau khi khỏi bệnh lợn còi cọc,
chậm lớn, biếng ăn, còn ở lợn lớn không có biểu hiện lâm sàng (Đào Trọng
Đạt và Cs, 1995) [10].
- Bệnh tích: Thành ruột non mỏng, dạ dày chứa cục sữa hơi vàng lổn
nhổn, không tiêu mùi chua (Niconxki, 1986) [38].
Các nguyên nhân do ký sinh trùng
Có nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như cầu trùng
(Eimeria), Isospora suis, Crytosporidium... hoặc một số loài giun tròn lớp
Nematoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongyloides, Haemonchus…).
Bệnh do Isospora, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn
con từ 5 đến 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được
miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất
hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003) [24].
Cầu trùng, một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một
trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ
gia đình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và Cs, 2006) [15].
Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở
lợn từ sau cai sữa. Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại
giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ
cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và Cs, 2009) [16].
Cầu trùng và một số loại giun tròn là một trong những nguyên nhân gây
tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Hà Nội (Thân Thị
Đang và Cs, 2010) [7]. Qua nghiên cứu tác giả nhận xét lợn nuôi bình thường
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [32], khi thiếu mật thì tới 60% mỡ
không tiêu hoá được, gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu và tiêu chảy hoặc việc
giảm hấp thu cũng dẫn đến tiêu chảy.
Hậu quả của hội chứng tiêu chảy
Khi tác động vào cơ thể tùy từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình bệnh
lý sinh bệnh và gây hậu quả cụ thể. Tuy nhiên, khi hiện tượng tiêu chảy xảy
ra, cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng
chung đó là sự mất nước, rối loạn cân bằng acid - bazơ (Lê Minh Chí, 1995) [3].
Theo Vũ Triệu An (1978) [1], tùy theo viêm ruột cấp hay mãn tính mà
hậu quả có khác nhau.
Mất nước do tiêu chảy
- Trong cơ thể nước chiếm khoảng 50% - 70% trọng lượng cơ thể, được
phân bố ở hai khu vực chính là trong tế bào và ngoại tế bào.
- Nhu cầu nước của cơ thể rất lớn, nếu cơ thể hết mỡ, đường và một
nửa protit trong mô bào, thể trọng giảm 40% thì con vật vẫn còn sống, nhưng
nếu con vật mất 10% nước trong cơ thể thì con vật sẽ chết (Trần Cừ,1975)
[3]. Nước cung cấp cho cơ thể qua thức ăn nước uống và được thải ra ngoài
theo nước tiểu, theo phân, mồ hôi, hơi thở. Quá trình hấp thu và cân bằng
nước trong cơ thể khỏe mạnh thường ổn định (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [32].
- Khi bị viêm ruột cơ thể không những không hấp thu được nước do
thức ăn nước uống đưa vào mà còn mất nước do tiết dịch. Mặt khác khi bị
viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu động ruột tăng lên nhiều lần. Hơn nữa do tổ
chức ruột bị tổn thương, niêm mạc ruột tăng tiết và kéo theo một lượng chất
điện giải với hàng loạt các biến đổi bệnh lý khác (Vũ Triệu An, 1978) [1].
- Chính vì vậy trong điều trị bệnh viêm ruột, ỉa chảy việc xác định mức
độ mất nước và các biện pháp phòng chống mất nước luôn được chú ý hàng đầu.
17
Tình trạng mất nước và chất điện giải
vượt quá 0,3 trong thời gian dài cơ thể bị trúng độc toan hoặc kiềm (Vũ Triệu
An, 1978) [1].
Phản ứng của máu thường ổn định bởi trong máu có các hệ đệm cùng
với các hoạt động của các cơ quan điều hòa phản ứng của máu như phổi, thận.
Hệ đệm được hình thành hoàn toàn ngay trong những tháng đầu ngay
khi gia súc sinh ra. Nó gồm những đôi đệm trong huyết tương và hồng cầu.
(acid hữu cơ gồm: acid lactic, acid piruvic và những yếu tố khác). Trong các
đôi đệm trên thì đôi đệm quan trọng nhất là đôi đệm hồng cầu. Đây là hệ đệm
lớn nhất nên sự trung hòa acid trong máu chủ yếu là NaHCO 3 quyết định.
Cũng vì vậy người ta đo hàm lượng muối bicacbonat chứa trong 100ml máu
để biểu thị lượng kiềm dự trữ.
Trong thực tế, việc đánh giá các rối loạn toan - kiềm dựa vào đánh giá
sự thay đổi trong hệ thống bicacbonat - acid cacbonic là hệ đệm chủ yếu của
dịch ngoại bào. Vì các hệ đệm nội bào và ngoại bào có liên quan đến nhau về
chức năng nên việc đo hệ bicacbonat huyết tương sẽ cung cấp thông tin hữu
ích về các hệ đệm cacbonat thường được mô tả dưới dạng phương trình
Henderson - Hasselbatch:
pH = pK + log
+ pH của acid cacbonic là 0,1
+ H2CO3 được tính bằng α.pCO2 trong đó α là khả năng hòa tan của
cacbodioxit (CO2) trong các dịch thể.
Như đã thấy thông qua phương trình Henderson - Hasselbatch, nếu
lượng acid vào máu nhiều, các đôi đệm trung hòa không hết, lượng dự trữ
kiềm trong máu giảm xuống khác thường thậm chí phản ứng máu giảm,
trường hợp này gọi là trúng độc toan. Nhưng khi lượng kiềm vào máu nhiều,
hệ đệm không đủ khả năng phản ứng hết OH-; lúc này cơ thể nhiễm độc kiềm.