ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------------------------
HOÀNG THỊ THU NHÀI
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON
TỪ SƠ SINH ĐẾN 30 NGÀY TUỔI ĐƯỢC NUÔI TẠI TRẠI LỢN NÁI
NGUYỄN THANH LỊCH – BA VÌ – HÀ NỘI
VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học: 2011 – 2016
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------------------------
HOÀNG THỊ THU NHÀI
Tên đề tài:
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Ts.Hà Văn Doanh đã
trực tiếp hướng dẫn, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
tập tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn, các bác, các cô
các chú, các anh chị cán bộ công nhân viên trong trại lợn nái Ba Vì đã chỉ bảo
giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại trại.
Tôi xin chân thành cảm ơn người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Một lần nữa cho phép tôi xin gửi tới các thầy cô giáo trong nhà trường,
cán bộ công nhân viên của trại Ba Vì cùng các bạn bè đồng nghiệp lời cảm
ơn, lời chúc sức khỏe cùng mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống.
Thái Nguyên, ngày…tháng…năm 2015
Sinh Viên
Hoàng Thị Thu Nhài
ii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất chăn nuôi của trại lợn nái Nguyễn Thanh
Lịch – Ba Vì – Hà Nội .................................................................... 33
Bảng 2.2: Lịch phun sát trùng của trang trại Nguyễn Thanh Lịch: ................ 34
Bảng 2.3: Lịch tiêm phòng của trang trại Nguyễn Thanh Lịch ...................... 35
Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất: ................................................ 47
Bảng 4.2 : Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo đàn và theo cá thể ........................... 48
Bảng 4.3: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo lứa tuổi : ........................................... 49
Bảng 4.4. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo tính biệt ............................................ 51
Bảng 4.5: Tỷ lệ lợn con chết do mắc hội chứng tiêu chảy.............................. 52
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài: .................................................................. 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài:...................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học: .......................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................ 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh lý của lợn con: ................................................................. 3
2.1.2. Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy ở lợn con: ........................................... 8
2.1.3. Những hiểu biết về vi khuẩn E.coli gây hội chứng tiêu chảy ở lợn
con ......................................................................................................... 24
2.1.4. Những hiểu biết về các loại thuốc điều trị: ........................................... 28
2.1.5. Một số thông tin về trại Nguyễn Thanh Lịch – Ba Vì – Hà Nội: ......... 32
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước : ........................................... 36
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước :........................................................ 36
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới:....................................................... 38
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ...................................................................................................... 39
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:........................................................... 39
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành: .............................................................. 39
3.3. Nội dung nghiên cứu: ............................................................................... 39
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi: .................................. 39
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu: ..................................................................... 39
3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi:............................................................................. 40
v
cho con người, ngoài ra còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành
trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến.
Chính vì thế, Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới phát triển chăn
nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng nhằm không ngừng nâng cao năng
suất, hiệu quả chăn nuôi, cải thiện đời sống nhân dân.
Hàng loạt vấn đề về quản lý, kỹ thuật chăn nuôi lợn ở nước ta đã và
đang được các nhà khoa học nghiên cứu giải quyết nhằm đưa ngành chăn nuôi
ở nước ta tiến kịp với trình độ trong khu vực và thế giới. Ngoài các yếu tố
như: giống, nuôi dưỡng, chăm sóc thì công tác thú y là khâu rất quan trọng,
quyết định sự thành bại của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn
nói riêng.
Đặc biệt, nước ta là một nước thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm
nên rất thích hợp cho các bệnh truyền nhiễm phát triển mạnh và lây lan
nhanh, do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành chăn nuôi
lợn. Lợn con là đối tượng cần đặc biệt quan tâm. Ở lợn con hội chứng tiêu
chảy là bệnh rất phổ biến, đã gây tổn thất không nhỏ cho ngành chăn nuôi lợn.
Hội chứng tiêu chảy ở lợn con làm cho lợn còi cọc chậm lớn, làm giảm năng
suất chăn nuôi, vì vậy, việc phòng và trị bệnh cho lợn con là một vấn đề hết
sức cần thiết.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của sản xuất đồng thời để thấy rõ hơn về
tình hình nhiễm bệnh, triệu chứng, bệnh tích của lợn con mắc hội chứng tiêu
2
chảy, góp phần khống chế dịch bệnh và làm giảm bớt thiệt hại về kinh tế
trong ngành chăn nuôi lợn hiện nay chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 30
ngày tuổi được nuôi tại trại lợn nái Nguyễn Thanh Lịch - Ba Vì – Hà Nội
và phương pháp điều trị ”.
Được sự dẫn dắt tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS . Hà Văn Doanh,
So về khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2
lần, lúc 21 ngày tuổi thì tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi thì tăng gấp 5 - 6 lần,
lúc 40 ngày tuổi thì tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi thì tăng gấp 10 lần và
lúc 60 ngày tuổi thì tăng gấp 12 - 14 lần. Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5].
Lợn con bú sữa sinh trưởng nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn.
Tốc độ sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu, sau đó giảm. Điều này do nhiều
nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng
hemoglobin giảm. Thời gian giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần, còn gọi
là giai đoạn khủng hoảng lợn con.
Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích lũy chất dinh dưỡng
rất mạnh. Ví dụ: lợn con 3 tuần tuổi tích được 9 - 14 gram protein/1kg khối
lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích được 0,3 - 0,4 gram/1kg
khối lượng cơ thể, (Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo, 2003) [19]. Điều đó cho
thấy nhu cầu dinh dưỡng của lợn con cao hơn lợn trưởng thành rất nhiều, đặc
biệt là protein.
Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2006) [25], khối lượng sơ sinh
và khối lượng lúc 60 ngày tuổi có mối tương quan tỉ lệ thuận với nhau khá
chặt chẽ. Khối lượng sơ sinh không chỉ liên quan đến khối lượng cai sữa mà
còn liên quan tới tỉ lệ chết khi sơ sinh cũng như tỉ lệ sống đến cai sữa. Ở lợn
ngoại khối lượng sơ sinh từ 1,1 - 1,35 kg thì tỉ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt
75%, trong khi khối lượng sơ sinh 0,57 kg hoặc nhỏ hơn nữa thì sống sót hơn
2% khi cai sữa. Thời kì này chủ yếu là sự thành thục của cơ quan sinh dục
đực nên cần phải thiến.
4
Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa:
Cùng với sự tăng lên của khối lượng, cơ thể còn có sự phát triển của
các cơ quan trong cơ thể, trong đó cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh
nhưng chưa hoàn thiện. So với lúc sơ sinh thì dung tích dạ dày của lợn lúc 10
HCl này là đặc điểm quan trọng trong quá trình tiêu hóa ở dạ dày. Dịch vị thu
được ở lợn con 7 ngày tuổi có pH 2,8; ở 10 ngày tuổi có pH 2,8 - 3,1; ở 12
ngày tuổi có pH 2,7; ở 20 ngày tuổi có pH 2,4 - 2,7. Do hàm lượng HCl rất ít
nên hệ vi sinh vật phát triển mạnh gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn con.
Theo Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo (2003) [19], dịch tụy có ý nghĩa
quan trọng đối với sự tiêu hóa. Nó phân giải 60 - 80% prorein, gluxit và lipit
trong thức ăn. Dịch tụy bao gồm các bicacbonat và chứa các enzyme giúp cho
quá trình tiêu hóa tinh bột, protein, chất béo… Các enzyme đó là Trypsine,
Cacboxypeptiaza, Galactaza, Dipeptitaza, Protaminaza, Nucleaza…
Dịch mật do tuyến mật tiết ra. Một ngày đêm lợn tiết khoảng 2,4 - 3,8
lít dịch mật. Dịch mật làm giảm sức căng mặt ngoài của dung dịch và làm nhũ
hóa mỡ, ở dạng này mỡ dễ bị tác động của Lipaza.
Dịch ruột do các tuyến Bruner ở màng nhầy tá tràng tiết ra. Dịch ruột
cùng với dịch tụy và dịch mật giúp cho quá trình trung hòa nhũ chấp xuống từ
dạ dày, như vậy nó giúp bảo vệ thành ruột khỏi tác động của độ axit cao
xuống từ dạ dày. Trong thành phần của dịch ruột chứa các men hóa như:
Aminopeptidaza, Dipeptidaza, Mantaza, Lactaza, và Enterokinaza (men này
có tác dụng hoạt hóa men Trypsin ở dạng không hoạt động (Trypsinnogen)).
Các men này đều tham gia tích cực vào quá trình tiêu hóa thức ăn.
Ruột già tiếp tục quá trình tiêu hóa những gì ruột non tiêu hóa chưa
triệt để. Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân
giải, hấp thu lại nước và chất khoáng. Thời gian thức ăn dừng lại ở ruột già từ
12 - 16 giờ. Song ở đây chỉ 9% gluxit, 3% protein được tiêu hóa. Các chất
không được tiêu hóa hết được vi khuẩn gây thối tạo thành các sản phẩm độc
6
như Indol, Scatol… Các sản phẩm này được hấp thu vào máu và được giải
độc ở gan, phần cặn bã đi vào kết tràng, được tạo thành khuôn phân và được
thải ra ngoài.
kì 3 tuần tuổi và sau khi cai sữa (Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 1995) [7].
Tóm lại, khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi kém,
nhất là trong tuổi đầu mới đẻ, cho nên nếu nuôi lợn trong chuồng nhiệt độ
thấp thì thân nhiệt của lợn hạ xuống rất nhanh, mức độ hạ thân nhiệt nhiều
hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ của chuồng nuôi và
tuổi của lợn. Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp, thân nhiệt của lợn hạ xuống
càng nhanh và tuổi càng ít thân nhiệt hạ xuống càng nhiều. Sau 3 tuần tuổi cơ
năng điều tiết thân nhiệt của lợn con mới hoàn chỉnh và thân nhiệt ổn định từ
39 - 39,50C.
Đặc điểm về khả năng miễn dịch:
Lợn con khi mới sinh ra hầu như không có kháng thể. Lượng kháng thể
tăng lên rất nhanh kể từ khi bú sữa đầu của lợn mẹ. Cho nên khả năng miễn
dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp
thụ được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.
Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein rất cao. Những γ globulin ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm tới 18 - 19%,
trong đó lượng γ - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%). γ - globulin có
tác dụng tạo sức đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò rất quan trọng đối với
khả năng miễn dịch của lợn con. Lợn con hấp thu γ - globulin bằng con đường
ẩm bào. Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử γ - globulin giảm đi rất nhanh
theo thời gian. Phân tử γ - globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột lợn
con rất tốt trong 24 giờ đầu kể từ khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men
antitripsin làm mất hoạt lực của men trypsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách
giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng. Cho nên sau 24 giờ sau khi
8
được bú sữa đầu, hàm lượng γ - globulin trong máu của lợn con đạt 20,3
mg/100ml máu. Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và
khoảng cách giũa các tế bào vách ruột hẹp dần, nên sự hấp thu γ - globulin
kém hơn, hàm lượng γ - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn. Đến 3
thì hậu quả của chúng đều gây viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu
hoá và cuối cùng là một quá trình nhiễm trùng.
2.1.2.1. Nguyên nhân gây mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Trong lịch sử nghiên cứu về tiêu chảy, nhiều tác giả đã nghiên cứu về
nguyên nhân gây bệnh, làm cơ sở cho việc chữa trị. Tuy nhiên, tiêu chảy là
một hội chứng có liên quan đến các yếu tố là nguyên nhân nguyên phát. Vì
vậy việc xác định nguyên nhân gây tiêu chảy ở từng nơi và trong từng giai
đoạn khác nhau cũng thu được kết quả khác nhau.
Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2003) [31], cho rằng, bệnh xảy ra có
rất nhiều nguyên nhân. Cho đến nay, chưa có ai xác định được nguyên nhân nào là
nguyên nhân chính, nhưng căn nguyên chính xác là các vi khuẩn đường ruột họ
Enterro Bacteriae, trong đó vai trò quan trọng nhất là trực khuẩn E. coli.
Phùng Ứng Lân (1996) [11], cho rằng, nguyên nhân chính gây ra hội
chứng tiêu chảy là các vi khuẩn đương ruột E. coli có hại thuộc họ vi khuẩn
đường ruột Enterro Bacteriae, chúng bao gồm nhiều chủng và nhiều đặc tính
kháng nguyên khác nhau.
Có rất nhiều nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy ở lợn con nhưng
nguyên nhân chính là vi khuẩn E. coli, ngoài ra còn rất nhiều nguyên nhân
khác nữa.
Nguyên nhân do vi sinh vật:
Vi sinh vật bao gồm các loại virus, vi khuẩn và nấm mốc. Chúng vừa là
nguyên nhân nguyên nhân nguyên phát, cũng vừa là nguyên nhân thứ phát
gây tiêu chảy.
10
- Tiêu chảy do vi khuẩn:
Theo Nguyễn Thị Nội (1989) [17], Trịnh Văn Thịnh (1985) [29],
Đào Trọng Đạt (1996) [5], Hồ Văn Nam và Trương Quang (1997) [13], đã
kết luận rằng, tác nhân gây hội chứng tiêu chảy cho lợn là E. coli và
ở bề mặt vi khuẩn (fimbriae) như: F4 (K88), F5 (K99), F6 (9871), F41, F17 và F18.
- Khả năng sinh sản 1 hoặc nhiều loại độc tố đường ruột bao gồm bao
gồm độc tố không chịu nhiệt (LT1 và LT2) và độc tố chịu nhiệt (ST1, ST2).
Ngoài ra các nhà chuyên môn nhận định, hội chứng tiêu chảy là bệnh
ghép có thể ghép với các loại vi khuẩn, kí sinh trùng như:
- Salmonella choleraresuis và Sal. Typhymurium là hai tác nhân gây
tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa và vỗ béo (Laval. A.,1997) [32].
- Clostridium perfeingens type A và type C: gây bệnh viêm ruột.
- Erysipelothrix: gây bệnh đóng dấu.
- Trepenoma: gây hồng lỵ.
- Cầu trực khuẩn Amip: gây bệnh ỉa chảy kiết lỵ.
- Ký sinh trùng: ký sinh trùng nói chung và ký sinh trùng đường tiêu
hóa nói riêng là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn và các gia
súc khác. Ký sinh trùng gây ỉa chảy tồn tại trong phân, nước tiểu, thức ăn khi
vào cơ thể gặp điều kiện thuận lợi chúng trưởng thành và phát triển thành ký
sinh trùng gây bệnh. Tác hại của chúng là lấy chất dinh dưỡng của cơ thể, tiết
ra các độc tố (nội, ngoại độc tố). Ngoài ra, trong quá trình di hành, sinh
trưởng và phát triển chúng gây tổn thương niêm mạc ruột gây viêm ruột ỉa
chảy. Các loại ký sinh trùng đường ruột gây tiêu chảy ở lợn:
+ Emimeria spp: gây bệnh cầu trùng
+ Ascaris: giun đũa
+ Fasciolopsis buski: sán lá ruột.
- Tiêu chảy do virus:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định Rotavirut, Enteravirut,
Andenovirut, Coronavirut, Pestivirut (dịch tả) là nguyên nhân chủ yếu gây
12
viêm ruột với triệu chứng tiêu chảy đặc trưng ở lợn. Các virus này tác động
gây viêm loét niêm mạc ruột ở nhiều mức độ khác nhau, chính từ đó quá trình
Hệ miễn dịch của lợn con chưa phát triển mạnh và phụ thuộc vào kháng
thể của lợn mẹ truyền sang con qua sữa. Đặc biệt là sữa đầu.
Sự điều tiết thân nhiệt chưa thích nghi với môi trường.
Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh, cường độ trao đổi chất lớn. Trong
khi sản sinh lượng sữa của lợn mẹ giảm dần từ ngày 21.
Nguyên nhân do ngoại cảnh:
Có rất nhiều nguyên nhân tác động của ngoại cảnh có thể gây rối loạn
quá trình cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột của vật chủ. Trong đó, có
yếu tố thời tiết và điều kiện chăm sóc.
Theo Sử An Ninh (1993) [16], yếu tố thời tiết lạnh ẩm là nguyên nhân
hàng đầu gây bệnh phân trắng ở lợn con.
Yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sức đề kháng tự nhiên của cơ thể.
Nếu lợn con không được bú sữa đầu, sẽ không nhận được kháng thể từ sữa
mẹ, rất dễ bị mắc viêm ruột ỉa chảy. Khi lợn con theo mẹ, phản ứng thích
nghi, bảo vệ chưa hoàn thiện, nên trong điều kiện nhiệt độ quá nóng, quá
lạnh, mưa gió, độ ẩm cao kết hợp với vệ sinh chuồng trại kém, khẩu phần
ăn không hợp lý, sữa mẹ kém chất lượng… lợn con dễ bị mắc hội chứng
tiêu chảy.
Thời tiết không thuận lợi, thay đổi bất thường, gió mùa, thời tiết lạnh,
mưa phùn gió bấc, ẩm độ môi trường cao, chuồng nơi ẩm thấp dễ làm cho lợn bị
ỉa chảy, chuồng trại không đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm ấp vào mùa đông.
Đào Trọng Đạt và cs (1995) [4], cho thấy: độ ẩm và nhiệt độ là yếu tố
quan trọng nhất trong việc khống chế tiểu khí hậu chuồng nuôi. Độ ẩm thích
hợp cho lợn con theo mẹ là 70 - 85%, vì thế việc sưởi ấm cho lợn bằng các
phương pháp khác nhau trong mùa đông và trong những ngày mưa là hết sức
cần thiết.
Trong thực tế, vào những tháng mưa nhiều, kèm theo khí hậu lạnh, tỷ lệ
lợn con bị tiêu chảy tăng lên rõ rệt, có khi tăng đến 90 - 100% trong đàn
(Nguyễn Vĩnh Phước, 1978 [20] và Đào Trọng Đạt, 1996 [5]). Do vậy, việc
lợi của môi trường giảm nên lợn dễ bị mắc bệnh.
15
Nguyên nhân do dinh dưỡng:
+ Thiếu vitamin nhón B, B1, B2... B12 cũng dẫn đến rối loạn tiêu hóa và
ỉa chảy.
+ Thiếu vitamin A, Cu, Selen… dẫn đến rối loạn trao đổi chất, rối loạn
tiêu hóa và gây ỉa chảy.
+ Do trữ lượng sắt trong bào thai chưa đủ, khi sinh ra không được cung
cấp đầy đủ nhu cầu, thiếu cả coban, B12 nên sinh bần huyết, cơ thể suy yếu nên
không thể hấp thụ đầy đủ dinh dưỡng, sinh ra hiện tượng không tiêu, ỉa chảy.
2.1.2.2. Cơ chế sinh bệnh
Cơ chế sinh bệnh và đường sinh bệnh của E. coli là đề tài thu hút nhiều
nghiên cứu của các nhà khoa học. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế sinh
bệnh và tiến triển của bệnh như: Những tổn thương của đường ruột, phủ tạng
cho phép E. coli xâm nhập. Tuy nhiên, để gây bệnh, số lượng E. coli phải đủ
lớn mới có thể gây bệnh cho lợn.
Đến nay người ta cho rằng cơ chế sinh bệnh E. coli ở lợn con được biểu
hiện thông qua:
- Trực tiếp xâm nhập vào đường hô hấp trên hoặc phía trên của ruột
non của những con lợn không có miễn dịch và gây ra nhiễm khuẩn máu
- Tấn công, phá hủy hệ thống lông nhung của tế bào niêm mạc ruột gây
ỉa chảy mất nước dữ dội, giảm đáng kể bề mặt hấp thu của ruột non
- Sinh sản các độc tố ruột (Enterotoxin). E. coli trong ruột bám trên hệ
thống lông nhung, tăng sinh và sinh sản độc tố. Những độc tố này ảnh hưởng
trực tiếp đến áp suất thẩm thấu màng tế bào niêm mạc ruột, gây rối loạn chức
năng trao đổi chất của các tế bào. Đặc biệt ảnh hưởng đến quá trình trao đổi
nước và các chất điện giải.
Theo Lê Văn Thọ (2007) [30], vi khuẩn E. coli sinh sản độc tố đường
trùng…) kể cả môi trường và yếu tố quản lý, cũng là nguyên nhân giảm khả
năng kháng bệnh ở lợn con. Khi đó, E. coli xâm nhập với số lượng đủ lớn sẽ
phát triển thành tác nhân gây bệnh.
17
Tóm lại: E. coli muốn gây được bệnh phải có những điều kiện sau:
+ Phải có khả năng bám dính vào lông nhung (kháng nguyên Ficubriae)
+ Phải có yếu tố xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô
+ Sản xuất độc tố đường ruột
2.1.2.3. Dịch tễ của bệnh
Cách phòng bệnh trong chăn nuôi ít tốn phí có hiệu lực nhất là dựa vào
công tác vệ sinh, đó là làm cho gia súc và các nguyên nhân gây bệnh cách xa
nhau. Để có các biện pháp vệ sinh tốt cần hiểu biết dịch tễ của bệnh.
Hoàng Văn Tuấn và cs (1998) [26], qua tình hình điều tra dịch bệnh và
hội chứng tiêu chảy ở lợn tại một trại giống hướng nạc trong 3 năm 1995,
1996, 1997, cho thấy:
- Tỉ lệ hao hụt ở lợn con theo mẹ (dưới 45 ngày tuổi) qua các năm là:
25,8 và 15%. Trong đó tỉ lệ chết do tiêu chảy chiếm 67,67 và 80% trong tổng
số lợn chết.
- Ở lợn cai sữa (45 - 65 ngày tuổi): Tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh là 15,18
và 12%. Trong đó tỉ lệ chết do tiêu chảy chiếm 32,52 và 38% trong tổng số
lợn chết.
Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ xảy ra quanh năm, nhưng cao
nhất là tháng 5 - 8.
Đào Xuân Cường (1981) [3], cho biết, bệnh có thể phát triển quanh
năm, nhiều nhất là cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè, sau nhiều trận
mưa to gió lớn, thời tiết thay đổi đột ngột, tỉ lệ mắc bệnh có thể tăng lên tới
100%, tỉ lệ chết đến 30 - 40%.
Trương Lăng và Xuân Giao (1999) [10], cho biết, ở nước ta, lợn con
và cs, 1995 [4]).
Lợn con bị nhiễm E. coli chủ yếu qua đường tiêu hóa, ít qua đường hô
hấp, qua niêm mạc mắt trong một số trường hợp, có thể bị nhiễm E. coli theo
đường bào thai.