Đề tài mối quan hệ giữa FDI và vấn đề xuất nhập khẩu ở việt nam sau thời kỳ đổi mới - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
**********
TIỂU LUẬN MÔN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI
Sinh viên thực hiện : VŨ THỊ LỆ
THỦY
Mã sinh viên :1212160119
Lớp :
Hà Nội,12/2013
2
MỤC LỤC
Danh mục Trang
3
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO (vào ngày 7-11-
2006), Quốc hội Hoa kỳ thông qua Quy chế bình thường vĩnh viễn (PNTR. Việt
Nam việc tổ chức thành công các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao
APEC tại Hà Nội( tháng 11-2006) Thì Việt Nam càng khẳng định hơn nữa vị thế
của mình trong cộng đồng quốc tế, ngày càng hội nhập sâu hơn vào thị trường
khu vực và thế giới. Từ đó làm gia tăng sự đầu tư của các tập đoàn kinh tế, các
quốc gia lớn mạnh trên thế giới, làm gia tăng dòng vốn FDI vào Việt Nam. Đã
có nhà đầu tư nói rằng: “Việt Nam đang nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư
và giới quan sát nước ngoài. Sự chú ý của cộng đồng quốc tế tới Việt Nam chưa
bao giờ cao hơn hiện nay”.
Mà có một sự thật rằng bất kỳ một quốc nào, dù là nước phát triển hay đang phát
triển thì để phát triển đều cần có vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài
sản mới cho nền kinh tế. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động
ở trong nước hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có
hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam( có tỷ lệ tích luỹ
thấp, nhu cầu đầu tư cao nên cần có một số vốn lớn để phát triển kinh tế).
Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với

- FDI có thể hiểu theo hai nghĩa FDI vào (inflow/inward- người nước ngoài nắm
quyền kiểm soát các tài sản của một nước A) hoặc FDI ra ( outflow/outward-
các nhà đầu tư nước A nắm quyền kiểm soát các tài sản nước ngoài). Đôi khi
FDI ra được gọi là đầu tư trực tiếp ở nước ngoài (DIA – direct investment
abroad).
- FDI có thể được tính như một dòng tiền (flow) nghĩa là số tiền đầu tư trong
một năm hoặc dưới dạng luỹ kế (stock) nghĩa là tổng vốn đầu tư tích lũy tính
đến thời điểm cuối năm.
Nước mà ở đó chủ đầu tư định cư được gọi là nước chủ đầu tư, nước mà ở đó
hoạt động đầu tư được tiến hành gọi là nước nhận đầu tư.
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA FDI
-Chủ đầu tư giành quyền kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp đầu tư. Chủ
đầu tư có quyền này bởi vì chủ đầu tư đã nắm giữ 100% vốn hoặc đóng góp một
tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ của dự án đầu tư. Nó
được căn cư theo quy định của luật pháp từng nước.
- Quyên điều hành, quản lý doanh nghiệp phụ thực vào mức góp vốn của các
bên trong tổng số vốn pháp định. Vốn đóng góp càng cao , nhà đầu tư càng có
quyền tham gia vào việc quản lý doanh nghiệp.
- Lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Lợi nhuận và lỗ (hay rủi ro) xảy ra được phân chia theo tỷ lệ góp
vốn của các bên trong vốn pháp định, sau khi đã nộp thuế và các chi phí khác
cho nước chủ nhà.
- FDI không chỉ đưa vốn vào nước nhận đầu tư, mà thường đi kèm theo với
vốn là kỹ thuật, công nghệ, bí quyết kinh doanh, công nghệ quản lý .v.v Do FDI
mang theo kỹ thuật, công nghệ nên nó thúc đẩy sự ra đời của các ngành nghề
mới, đặc biệt là những ngành sử dụng công nghệ cao hay nhiều vốn. Vì thế, nó
có tác dụng to lớn đối với quá trình CNH, HĐH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
tăng trưởng kinh tế ở nước nhận đầu tư. Tuy vậy, cũng cần nhận thức rằng FDI
chứa đựng khả năng các doanh nghiệp nước ngoài (100% vốn nước ngoài) có
thể trở thành lực lượng “áp đảo” trong nền kinh tế nước nhận đầu tư. Trường

• Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% Foreign Cantrerisce) là doanh
nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài( tổ chức hoặc cá nhân nước
ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý
và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh. Ở Việt Nam, hình thức
này có xu hướng gia tăng cả về số dự án và vốn đăng ký. Hiện có trên 73% số
dự án và khoảng 47% số vốn đầu tư (đến tháng 5 năm 2005 có 3.956 dự án có
hiệu lực với 22,8 tỷ USD vốn đầu tư). Hiện nay trong đó tổng dự án và tổng vốn
trên thì nhà đầu tư đăng ký dưới hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 77,2%
về số dự án (60,7% về tổng vốn), đăng ký dưới hình thức liên doanh chiếm
19,5% về số dự án (31,2% về tổng vốn đăng ký). Số còn lại đăng ký thuộc lĩnh
vực hợp doanh BOT công ty cổ phần và công ty quản lý vốn.
CHƯƠNG II. MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ XUẤT - NHẬP KHẨU Ở
VIỆT NAM.
I. ẢNH HƯỞNG CỦA XUẤT NHẬP KHẨU TỚI FDI Ở VIỆT NAM.
6
Đứng trên góc độ phân tích về mặt lí thuyết có thể thấy giữa ngoại thương
va đầu tư trực tiếp nước ngoài có mối quan hề tương hỗ lẫn nhau.Nếu như hoạt
động xuất nhập khẩu của một đất nước hoạt động tốt thì đây cũng là một chỉ tiêu
quan trọng để các nhà đầu tư nước ngoài nền nhìn vào nền kinh tế đó, quyết định
vốn đầu tư của mình. Mặt khác khi hoạt động khi đầu tư trực tiếp nước ngoài
được đẩy mạnh đặc biệt trong lĩnh vực trong lĩnh vực xuất nhập khẩu với thì
năng lực sản xuất của nước sở tại tăng lên và hàng hoá ản xuất ra có chất lượng
tốt hơn, giá thành rẻ hơn, do đó sẽ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.
Vậy mội quan hệ giữa ngoại thương và đầu tư trực tiếp nước ngoài được biểu
hiện như thế nào?
Trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu xem vì sao các hoạt động của các doanh
nghiệp FDI trong thời gian vừa qua lại đầu tư vào lĩnh vực xuất nhập khẩu của
Việt Nam nhanh và nhiều như vậy.
1. Việc Việt Nam mở rộng phạm vi thương mại, kí kết các hiệp định

hưởng đến FDI vào Việt Nam.
Thêm nữa, đó là do chính sách của nhà nước ta đối với các doanh nghiệp FDI
về vấn đề XNK ngày càng được nới rộng.Chúng ta có thể nhìn thấy rõ điều đó
Nhằm khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư trực
tiếp của nước ngoài, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư nước ngoài, năm 1998,
Chính phủ đưa ra Nghị định số 10/1998/NĐ-CP về một số biện pháp khuyến
khích và bảo đảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong đó
điểm khác biệt rõ nét. Điểm dễ nhận thấy là nhà nước khuyển khích đầu tư bằng
cách điều chỉnh thuế suất thuế lợi tức ưu đãi và thời hạn miễn, giảm thuế lợi tức
theo các tiêu chuẩn khuyến khích đầu tư ( Điều 8, 9 10, 11/ chương III). Nếu
trước đây các doanh nghiệp FDI phải uỷ thác vốn cho công ty Việt Nam thi theo
Nghị định 10, các doanh nghiệp FDI được quyền thu mua sản phẩm. Nhưng hạn
chế của Nghị định là chỉ được nhập khẩu các yểu tố đầu vào cho sản xuất, không
được kinh doanh xuất nhập khẩu.
Đến năm 2001, theo Nghị định 44 ban hành 2/8/2001, thương nhân theo quy
định của pháp luật được quyền xuất khẩu tất cả các loại hàng hóa, không phụ
thuộc ngành nghề, ngành hàng ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,
trừ hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu; được nhập khẩu hàng
hóa theo ngành nghề, ngành hàng ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh(điều 8).
8
Tới năm 2006, nhà nước ta thực hiện cam kết khi gia nhập WTO trong đó cho
phép các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần ngành nghề được xuất nhập
khẩu.các doanh nghiệp FDI “ được quyền tạm nhập hàng hóa mà thương nhân
đã xuất khẩu để tái chế, bảo hành theo yêu cầu của thương nhân nước ngoài và
tái xuất khẩu trả lại thương nhân nước ngoài. Thủ tục tạm nhập tái xuất giải
quyết tại Hải quan cửa khẩu”(điều 13). Đồng thời cho các doanh nghiệp FDI
đứng tên mở tờ khai thuế nhập khẩu và đóng thuế.
Tới năm 2007, theo Nghi định 23 NĐ-CP, các doanh nghiệp FDI được quyền
xuất nhập khẩu trực tiếp mọi hàng hoá ; được quyền phân phối các hoạt động

Nam Phi, Malaysia, Indonesia, Singapore, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Saudi
Arabia, Ukraine và Ba Lan
II. ẢNH HƯỞNG CỦA FDI TỚI XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM.
1.1. FDI tác động đến kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân xuất nhập khẩu
9
 FDI tác động đến kim ngạch xuất khẩu
• FDI giúp tăng vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất xuất khẩu
Kể từ khi mở cửa nền kinh tế kinh tế, phát triển quan hệ buôn bán và tiếp nhận
đầu tư nước ngoài, mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về
phát triển kinh tế, song vẫn là một nước nghèo, đang phát triển. Chúng ta có
nguồn lao động rẻ dồi dào là lợi thế nhưng luôn ở trong trạng thái thiếu vốn. Kể
từ 1988 đến nay, dòng FDI đã trở thành một nguồn bổ sung vốn thiết yếu cho
nền kinh tế Việt Nam nói chung và các ngành sản xuất xuất khẩu nói riêng. Nếu
không có FDI, tổng nguồn vốn huy động được trong nước, ngoài việc đầu tư
phần lớn để cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng và đầu tư cho khu vực sản xuất khu
vực trong nước, thì việc dành ra một lượng vốn đáng kể để đầu tư cho sản xuất
xuất khẩu ngay từ những năm đầu sau đổi mới là việc cực kì khó khăn, chưa kể
đến những hậu quả nặng nề của thời kì suy thoái kinh tế kéo dài từ cuối thập
niên 70 đến cuối thập niên 80. FDI chính là một liều thuốc kích thích sản xuất
cho nền kinh tế Việt Nam sau khủng hoảng và từng bước tạo điều kiện cho hoạt
động sản xuất xuất khẩu phát triển thuận lợi. Kim ngạch xuất khẩu của nước ta
từ 1988 đến 1990 đã tăng gấp 3 lần, đạt 2,4 tỉ USD, năm 1995 lên tới 8,9 tỉ
USD.
Nhìn vào biểu đồ sau có thể thấy, vai trò của FDI trong việc bổ sung vốn cho
nền kinh tế nói chung ngày một lớn hơn. Tính đến năm 2008, FDI đã chiếm tới
20% tổng lượng vốn đầu tư cho toàn bộ nền kinh tế.
Biểu đồ 5: Vốn đầu tư theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000-2008
Đơn vị: Tỉ đồng
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
10

thuận lợi, nhất là những nước đang phát triển nhiều tài nguyên, nhân công rẻ và mặt
11
bằng sản xuất lớn, rồi xuất khẩu sang thị trường khác. Với những tiêu chí lựa chọn địa
điểm đầu tư như trên, Việt Nam được coi là một điểm đầu tư hấp dẫn, đặc biệt là từ
sau khi gia nhập WTO, phạm vi thương mại được mở rộng, năm 2009, Việt Nam xếp
thứ 12 trong danh sách 25 nền kinh tế có sức hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
lớn nhất thế giới do Bloomberg bình chọn, Việt Nam tiếp tục chứng tỏ là địa chỉ hấp
dẫn đối với các nhà đầu tư toàn cầu.
Bảng 5: Số liệu về hoạt động xuất khẩu của khu vực FDI tại Việt Nam (có bao
gồm dầu thô)
Năm
Giá trị
(triệu USD)
Mức tăng
giá trị(%)
Tỉ trọng KV FDI
trên tổng
KNXK (%)
Mức tăng tổng
KNXK cả nước (%)
1995 1473,1 27,0 34,6
1996 2155,0 46 29,7 33,2
1997 3213,0 49 35,0 26,6
1998 3215,0 0 34,3 1,8
1999 4682,0 45,6 40,6 23,3
2000 6810,0 45,5 47,0 25,5
2001 6798,3 -2 45,2 3,8
2002 7871,8 16 47,1 11,2
2003 10161,2 29 50,4 20,6
2004 14487,7 43 54,7 31,0

trước.
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài với các mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại
các loại và linh kiện, hàng dệt may, giày dép Xuất khẩu của khu vực này trong
những năm gần đây có xu hướng tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao trong tổng
kim ngạch xuất khẩu.
Xét về tốc độ tăng trưởng, so với mức tăng trưởng xuất khẩu cả nước, tăng
trưởng xuất khẩu của khu vực FDI ở hầu hết các năm đều đạt tốc độ cao hơn. Năm
1997, tăng trưởng xuất khẩu của khu vực FDI đạt 49% trong khi tăng trưởng xuất
khẩu cả nước chỉ trên 26%. Hay trong hai năm 1999-2000, tốc độ tăng trưởng xuất
khẩu của khu vực FDI là trên 45% trong khi kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ tăng 23-
25%. Khu vực FDI duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn so với cả nước cho đến
năm 2006. Từ 2006 đến nay, tăng trưởng xuất khẩu của khu vực này xuống thấp hơn
so với mức tăng trưởng của cả nước. Năm 2009, xuất khẩu cả nước tăng trưởng âm
9,8% trong khi xuất khẩu của khu vực FDI tăng trưởng âm tới 13%. Nguyên nhân
chính là do trong thời kì suy thoái kinh tế, cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của khu vực
FDI giảm mạnh hơn so với cầu hàng xuất khẩu của khu vực trong nước, do khu vực
FDI chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao trong khi mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của khu vực trong nước là các mặt hàng thiết yếu cơ bản nên cầu ít co giãn hơn.
13
Một nguyên nhân cũng rất quan trọng là do nhiều chủ đầu tư muốn tránh rủi ro từ
khủng hoảng kinh tế đã giảm quy mô đầu tư.
• FDI giúp nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng Việt Nam xuất
khẩu nhờ tác động lan tỏa về công nghệ
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh
nghiệp nói riêng và với cả nền kinh tế nói chung. Làm tăng tính cạnh tranh của sản
phẩm có nghĩa là làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế. Khả
năng cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, chủng loại, mẫu mã, giá cả,
số lượng… được quyết định bởi các yếu tố như vốn, công nghệ, lao động… So với các
doanh nghiệp trong nước, đây là một là một ưu thế rõ rệt của các doanh nghiệp FDI.

gốc lao động mới tuyển dụng của doanh nghiệp trong nước- đều cho thấy có hiện
tượng di chuyển lao động giữa doanh nghiệp FDI và trong nước, nhưng ở mức thấp.
Tất nhiên vào thời điểm đó, các doanh nghiệp 100% vốn trong nước ít có khả năng
thu hút lao động từ khu vực FDI do mức lương chi trả còn hạn chế. Tuy nhiên đến
nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp đủ mạnh có thể thu hút nhân tài từ các công ty
đa quốc gia. Công ty Bitis, Kinh Đô, tập đoàn Masan, công ty Liên Bảo, công ty Việt
Văn, công ty Mai Thanh, công ty Masso, Big Solutions, SME, Golden Land hiện là
những nơi đầu quân mới của các nhà quản lý giỏi trước đây từng làm việc cho các
công ty nước ngoài. Chủ tịch tập đoàn và giám đốc của những công ty này trước đây
đều là những người đã từng làm việc cho các tập đoàn nước ngoài hoặc các công ty
liên doanh lớn, sau một thời gian làm họ tự tách ra mở công ty riêng để kinh doanh
và quản lý dựa trên những kinh nghiệm đã được đào tạo và tích lũy khi còn ở các
doanh nghiệp FDI. Giám đốc phát triển thương mại Công ty Goodland ông Trần Anh
Tuấn từng là chuyên gia xúc tiến thương mại đầu vào cho các doanh nghiệp Australia
tại Thương vụ Australia ở TP HCM; ông Vũ Quốc Tuấn, Giám đốc Công ty Việt Văn
từng làm việc cho tập đoàn Keppel Land của Singapore; Giám đốc Công ty SME từng
15
là luật sư tư vấn cho Công ty Akzo Nobel; bà Trần Thị Thanh Mai trước khi lập công ty
quảng cáo Mai Thanh từng là Phó Tổng Giám đốc Công ty liên doanh Castrol, tập
đoàn Philip Morric, và công ty J.W. Thomson; bà Nguyễn Công Ái Huyên từng phụ
trách quản trị nhãn hiệu cho hãng Shell Việt nam hiện là giám đốc công ty Masso, một
công ty chuyên cung cấp các giải pháp tiếp thị cho các doanh nghiệp. Ông Hạ Ngọc
Linh, Giám đốc Công ty Big Solutions, nguyên là thủ khoa ngành quản trị kinh doanh
của Viện Công nghệ châu Á (AIT) cũng đã từng giữ cương vị Giám đốc điều hành cho
Motorola Vietnam trong 5 năm.
Thứ hai, đối với FDI dưới các hình thức liên doanh liên kết, các doanh nghiệp
Việt Nam sau khi thực hiện việc liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài, ngoài đầu
tư về vốn, doanh nghiệp Việt Nam còn được nhà đầu tư góp vốn bằng dây chuyền
sản xuất hiện đại, công nghệ cao, đặc biệt là các bí quyết công nghệ của họ. Việc tiếp
nhận FDI dưới hình thức này cho phép các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp thu một

nghiệp cũng phải quan tâm đến trình độ người lao động và năng lực nhà quản lí. Các
doanh nghiệp này cũng đã chủ động tìm tòi đổi mới sảm phẩm, năng động hơn,
nhanh nhạy hơn trong khâu tìm kiếm thị trường và bạn hàng. Sản phẩm cà phê của
tập đoàn Trung Nguyên và sản phẩm sữa của tập đoàn Vinamilk là hai điển hình cho
sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Trước sức ép của các doanh nghiệp
FDI cùng ngành như Nestcafe (đối thủ chính của Trung Nguyên), Abott, Dumex,
Nestle (đối thủ của Vinamilk), bắt đầu từ cuộc chiến giành thị trường trong nước, hai
tập đoàn này đã vươn lên lớn mạnh và khẳng định được cả khả năng cạnh tranh cả ở
thị trường xuất khẩu. Với nỗ lực học hỏi, cải tiến công nghệ, đa dạng hóa và nâng cao
chấy lượng sản phẩm, hiện nay, cà phê Trung Nguyên và G7 đang được xuất khẩu đến
hơn 43 quốc gia trên thế giới - hệ thống cửa hàng đã hiện diện tại Singapore, Nhật
Bản, Trung Quốc, Thái Lan…và trong những năm tới Trung Nguyên sẽ bằng mọi nỗ lực
để tiếp tục đưa cà phê và tinh thần cà phê Việt Nam chinh phục những người yêu cà
phê trên toàn thế giới. Sản phẩm Vinamilk ngoài việc phân phối mạnh trong nước với
mạng lưới 183 nhà phân phối và gần 94.000 điểm bán hàng phủ đều 64/64 tỉnh
thành, còn được xuất khẩu sang nhiều nước Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Đức, khu vực
Trung Đông, Đông Nam Á…với doanh thu từ xuất khẩu mỗi năm đạt hàng trăm triệu
USD.
Như vậy, FDI không những cải thiện chất lượng và sức cạnh tranh của hàng
xuất khẩu ở khu vực kinh tế có đầu tư nước ngoài mà còn gián tiếp tác động tích cực
đến chất lượng sản phẩm xuất khẩu của cả khu vực kinh tế trong nước.
 FDI tác động đến kim ngạch nhập khẩu
17
• FDI có khả năng thay thế nhập khẩu do nhu cầu trong nước đối với một số
hàng hóa nhập khẩu được đáp ứng bởi các doanh nghiệp thuộc khu vực
FDI
Trước đây nền kinh tế nước ta còn lạc hậu, hoạt động sản xuất kém phát
triển nên có nhiều những mặt hàng nền sản xuất trong nước chưa thể đáp ứng được,
kể cả những mặt hàng tiêu dùng cơ bản. Để giải quyết tình trạng này thì giải pháp
thông thường là nhập khẩu mặt hàng đó, tuy nhiên từ khi nước ta tiến hành mở cửa

động. 22 nhà máy dược phẩm FDI đầu tư vào 40 dây chuyền sản xuất thuốc (trên
tổng số 230 dây chuyền của các nhà máy GMP). Trị giá thuốc sản xuất của các nhà
máy dược phẩm FDI chiếm khoảng 22% tổng trị giá thuốc sản xuất của các nhà máy
dược phẩm trong cả nước.(Nguồn: Diễn đàn doanh nghiệp)
Một ví dụ khác về tác động này là sản phẩm đồ uống của Cocacola. Đầu thập
niên 90, chúng ta tiêu thụ Cocacola chủ yếu từ nguồn nhập khẩu. Sau sự kiện
Cocacola đầu tư trở lại vào Việt Nam năm 1994 cho đến nay, thay vì phải nhập khẩu
loại đồ uống này từ Thái Lan hay Singapore, người tiêu dùng Việt Nam bắt đầu tiêu
thụ Cocacola được sản xuất ngay trong nước.
FDI còn giúp Việt Nam phát triển nhiều ngành công nghiệp và sản phẩm khác.
Giai đoạn 2000-2005, FDI chiếm 100% sản xuất ô tô, máy giặt, tủ lạnh, máy điều hoà
nhiệt độ, … Khu vực FDI cũng chiếm 60% sản lượng thép tấm, 28% xi măng, 33% sản
phẩm điện/điện tử, 76% thiết bị y tế ở Việt Nam. Theo kết quả điều tra doanh nghiệp
FDI của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 76,7% sản lượng của doanh
nghiệp FDI trong ngành cơ khí-điện tử và 62% sản lượng của doanh nghiệp FDI trong
ngành chế biến thực phẩm được tiêu thụ trong nước.
19
• Tăng kim ngạch nhập khẩu do phải nhập khẩu máy móc thiết bị, dây
chuyền sản xuất, nguyên nhiên liệu phục vụ các dự án FDI mà Việt Nam
chưa sản xuất được
Qua phân tích số liệu về hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực FDI trong
phần cơ cấu xuất nhập khẩu theo khu vực kinh tế, cùng với sự gia tăng của FDI thì kim
ngạch nhập khẩu của khu vực này cũng tăng qua các năm với tốc độ khá cao và ổn
định, qua đó làm tăng đáng kể kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Bảng: Số liệu về hoạt động nhập khẩu của khu vực FDI giai đoạn 1995-2009
Năm
Mức tăng KNNK
cả nước (%)
Khu vực KT có FDI
Giá trị

2000, 34,6% vào năm 2008 và 36% vào năm 2009. So sánh về tốc độ tăng kim ngạch
nhập khẩu bình quân cả giai đoạn 1995-2009, tốc độ tăng nhập khẩu của khu vực FDI
là 24% một năm, gấp hơn 1,5 lần so với bình quân mức tăng kim ngạch nhập khẩu cả
nước cùng giai đoạn. Tác động làm tăng kim ngạch nhập khẩu của FDI đang ngày càng
lớn hơn.
 FDI tác động đến cán cân thương mại
Bảng 6: Cán xân xuất nhập khẩu của khu vực FDI và cả nước giai đoạn 1995-2009
(bao gồm dầu thô) Đơn vị: triệu USD
Năm Giá trị NK Giá trị XK
Cán cân XNK
Trong khu vực
FDI
Cán cân XNK
Của cả nước
1995 1468,1 1473,1 50,0 -2076,7
1996 2042,7 2155,0 112,3 -3887,8
1997 3196,2 3213,0 16,8 -2407,3
1998 2668,0 3215,0 547,0 -2139,3
1999 3382,2 4682,0 1299,8 -200,7
2000 4352,0 6810,0 2458,0 -1153,8
2001 4985,0 6798,3 1813,3 -1188,7
2002 6703,6 7871,8 1168,2 -3039,5
2003 8815,0 10161,2 1346,2 -5106,5
2004 11086,6 14487,7 3401,1 -5483,8
2005 13640,1 18553,7 4913,6 -4314,0
2006 16489,4 23061,3 6571,9 -5064,9
2007 21712,4 27774,6 6062,2 -14203,3
21
2008 27898,6 34529,2 6630,6 -18028,7
2009 24778,9 29900,0 5120,0 -12000,0

hẹp. Xuất khẩu là điều kiện quan trọng mở rộng quy mô đầu tư vào thị trường
nhập khẩu.
Trên thực tế, tính đến tháng 12/2007, xét cơ cấu đầu tư theo ngành, thì tỉ trọng
vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp còn thấp và thiếu ổn định. Trong
khi ngành công nghiệp nặng chiếm tới 45,5%, công nghiệp nhẹ chiếm 32,7%, thì
lĩnh vực nông, lâm nghiệp chỉ chiếm có 7,6%.
Trong giai đoạn từ 1988 đến tháng 9/2007, đã có 8.058 dự án FDI được triển
khai ở Việt Nam. Lượng vốn đầu tư trong gần 20 năm đạt đến con số 72,86 tỉ
23
USD nhưng cho đến thời điểm 9/2007 mới chỉ thực hiện được khoảng 42,5% –
một hiệu suất không hề cao. Nếu bổ ra theo các ngành công nghiệp, nông nghiệp
và dịch vụ thì càng thấy rõ.
Bảng trên cho thấy có rất ít vốn đổ vào ngành nông nghiệp, nhiều nhất và vượt
trội là vốn đầu tư vào ngành công nghiệp. Lượng vốn đầu tư vào mảng dịch vụ
chỉ bằng một nửa.
Có thể phân tích ảnh hưởng của FDI tới XNK Việt Nam bằng cách bổ dọc các
ngành kinh tế thu hút vốn FDI: ngành công nghiệp, ngành dịch vụ, ngành nông
nghiệp và lĩnh vực bất động sản.
a. FDI bị thu hút mạnh vào công nghiệp
Trong tổng số 1.445 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép trong năm 2007, có
823 dự án đầu tư vào ngành công nghiệp.Các dự án này có tổng số vốn đăng ký
8,06 tỷ USD, chiếm 57% tổng số dự án đầu tư nước ngoài và 45,2% tổng số vốn
đăng ký cả nước.
Theo nhận định của Bộ Công Thương, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong
công nghiệp có lợi thế về máy móc thiết bị và kỹ thuật hiện đại, có thị trường ổn
định, được khuyến khích bằng các cơ chế, chính sách ngày càng thông thoáng
nên trong những năm qua đã phát triển khá nhanh và ổn định, luôn có xu hướng
tăng nhanh hơn các khu vực khác trong nền kinh tế.
Đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp đã gián tiếp đào tạo cho Việt Nam
một đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề, được tiếp xúc với công nghệ mới,

47,7% tổng vốn đăng ký của cả nước trong năm 2007 vừa qua, trong đó tập
trung chủ yếu vào kinh doanh bất động sản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn
phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp (42%
tổng vốn đầu tư nước ngoài trong khu vực dịch vụ), du lịch-khách sạn (24%),
giao thông vận tải-bưu điện (18%).
Trong số các ngành dịch vụ, lĩnh vực dịch vụ du lịch đang nổi lên là điểm sáng
đáng chú ý của nền kinh tế Việt Nam với số lượng các dự án lớn đang tìm hiểu
và xúc tiến đầu tư tăng mạnh.
Chỉ tính riêng năm 2007, số liệu thống kê của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
cho thấy: ngành du lịch Việt Nam đã thu hút 47 dự án FDI với tổng số vốn đăng
ký lên đến trên 1,86 tỷ USD, tăng 19,57% so với năm 2006.
Theo ông Hồ Việt Hà, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch và Tài chính, Bộ Văn hóa Thể
thao và Du lịch, cơ cấu đầu tư trong thời gian qua rất khả quan, các nhà đầu tư
25

Trích đoạn xuất khẩu và cán cân thương mại thông qua tác động đến FD Nhóm giải pháp tăng cường thu hút FDI và điều chỉnh cơ cấu FDI thông qua tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status