Khóa luận tốt nghiệp - 2010
1. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kì tới ................................... 81
Triển vọng thu hút FDI của Việt Nam ................................................................ 84
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
ASEM Diễn đàn hợp tác Á–Âu
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BTA Hiệp định thương mại song phương
APEC Diễn đang hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương
EU Liên minh châu Âu
EURO Đồng tiền chung châu Âu
FIA Cục đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
IPLC Lý thuyết vòng đời quốc tế của sản phẩm
MFN Nguyên tắc tối huệ quốc
MNC Công ty đa quốc gia
NT Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
PNTR Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn
TNC Tập đoang xuyên quốc gia
UNCTAD Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
WIR Báo cáo đầu tư toàn cầu
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế và hội nhập quốc
tế, nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi rõ nét về mọi mặt với tốc độ tăng
trưởng cao, ổn định.
Về đầu tư, sau khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực ngày
01/01/1988 cho tới cuối năm 2009, đã có 89 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư gần
yếu là dựa trên nghiên cứu những tài liệu và số liệu có liên quan thu thập được, tiến
hành thống kê, phân tích, tổng hợp, từ đó rút ra nhận xét, đánh giá vấn đề.
Kết cấu khóa luận: Kết cấu khóa luận bao gồm 3 chương với nội dung chính
như sau:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập
khẩu
Chương II: Đánh giá mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt
Nam
Chương III: Các giải pháp thu hút FDI và đẩy mạnh hoạt động xuất nhập
khẩu trên cơ sở điều chỉnh mối quan hệ giữa FDI và xuất
nhập khẩu ở Việt Nam
Trong lời mở đầu của khóa luận này, em cũng xin chân thành cảm ơn cô
Nguyễn Thị Việt Hoa đã rất nhiệt tình hướng dẫn em từ khi nhận đề tài cho đến khi
hoàn thành khóa luận này.
Do còn hạn chế về tầm kiến thức, khả năng nghiên cứu và nguồn số liệu nên
bài khóa luận của em không tránh khỏi có thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được
sự đóng góp của các thầy cô để khóa luận này được hoàn thiện hơn, thiết thực hơn.
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI
VÀ XUẤT NHẬP KHẨU
I. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khái niệm đầu tư quốc tế:
Đầu tư quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế trong đó nhà đầu
tư di chuyển các phương tiện đầu tư ra nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh thu
lợi hoặc đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội khác.
Về bản chất, đầu tư quốc tế là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao
hơn của xuất khẩu hàng hóa. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và hỗ trợ
vốn tối thiểu này, vì ở một số nước, trong một số trường hợp, tỷ lệ này không phản
ánh đúng mức độ ảnh hưởng của nhà đầu tư. Đôi khi việc nhà đầu tư sở hữu 10% cổ
phiếu thường hoặc quyền bỏ phiếu cũng không mang lại cho họ quyền quản lý đáng
kể với doanh nghiệp; trong khi với một số trường hợp khác, nhà đầu tư có thể sở hữu
dưới 10% vốn đầu tư nhưng vẫn có quyền quyết định hoạt động của doanh nghiệp
nước ngoài (như trong trường hợp là thành viên sáng lập).
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở
hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác. Đó là một
khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh
hưởng quyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong
thực thể kinh tế ấy.
Theo cách hiểu của Luật đầu tư của Việt Nam thì FDI – Đầu tư trực tiếp nước
ngoài là việc tổ chức, các nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất
kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh thu lợi
nhuận trên lãnh thổ Việt Nam.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp
nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà
đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để
có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
2
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của mình”. Tài sản trong khái niệm này, theo
thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ,
bát động sản, các loại hợp đòng và giáy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở
hữu tí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ
phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…). Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ
kinh tế có yếu tố nước ngoài.
1.2. Đặc điểm của FDI
i) Các chủ đẩu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu tùy theo quy
Các biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm: Tham gia
ký kết các hiệp định song phương và đa phương về đầu tư hoặc có liên quan đến đầu
tư; chính phủ đứng ra bảo hiểm cho các hoạt động đầu tư ở nước ngoài; ưu đãi thuế
và tài chính; khuyến khích chuyển giao công nghệ; trợ giúp tiếp cận thị trường; cung
cấp thông tin và trợ giúp kỹ thuật.
Ngoài ra chính phủ nước nhận đầu tư cũng có thể đưa ra các biện pháp hạn
chế đầu tư như: Hạn chế chuyển vốn ra nước ngoài; hạn chế bằng thuế; hạn chế tiếp
cận thị trường; cấm đầu tư vào một số nước.
2.2. Các nhân tố liên quan đến nước nhận đầu tư
Khi lựa chọn địa điểm để đầu tư ở nước ngoài, chủ đầu tư sẽ phải cân nhắc
đến các điều kiện sản xuất, kinh doanh ở địa điểm đó xem có thuận lợi hay không
nghĩa là cân nhắc đến các yếu tố có liên quan đến lợi thế địa điểm của nước nhận đầu
tư. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế địa điểm của các nước nhận đầu tư được chia
thành ba nhóm :
Thứ nhất là khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư, bao gồm các qui
định liên quan trực tiếp đến FDI và các qui định có ảnh hưởng gián tiếp đến FDI. Các
qui định của luật pháp và chính sách liên quan trực tiếp FDI bao gồm các qui định về
việc thành lập và hoạt động của các nhà đầu tư nước, các tiêu chuẩn đối xử đối với
FDI và cơ chế hoạt động của thị trường trong đó có sự tham gia của thành phần kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, một số các qui định, chính sách trong một
số ngành, lĩnh vực khác cũng có ảnh hưởng đến quyết định của chủ đầu tư. Các qui
định này ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng và kết quả của hoạt động FDI. Các qui
định thông thoáng, có nhiều ưu đãi, không có hoặc ít có các rào cản, hạn chế hoạt
động FDI sẽ góp phần tăng cường thu hút FDI vào và tạo thuận lợi cho các dự án FDI
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
4
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
trong quá trình hoạt động. Ngược lại, sẽ khiến cho FDI không vào được hoặc các chủ
đầu tư không muốn đầu tư. Các qui định của luật pháp và chính sách sẽ được điều chỉnh tùy
theo định hướng, mục tiêu phát triển của từng quốc gia trong từng thời kỳ.
định hay không, có thuận lợi hay không thuận lợi cho nước chủ đầu tư và nước nhận
đầu tư cũng như cho chính chủ đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Tình hình cạnh tranh giữa các nước trong thu hút FDI ảnh hưởng nhiều đến dòng
chảy FDI. Để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút FDI các nước sẽ phải cải
tiến môi trường đầu tư, tạo thuận lợi và đưa ra những ưu đãi cho FDI. Nước nào xây
dựng được môi trường đầu tư có sức hấp dẫn cao hơn thì nước đó sẽ có khả năng thu
hút được nhiều FDI hơn. Cùng với môi trường đầu tư ngày càng được cải tiến và
càng có độ mở cao, dòng vốn FDI trên toàn thế giới sẽ dễ dàng lưu chuyển hơn và
nhờ vậy lượng vốn FDI toàn cầu có thể tăng nhanh.
II. Thương mại quốc tế
1. Khái niệm và đặc điểm của thương mại quốc tế
1.1. Khái niệm thương mại quốc tế
Luật Thương mại Việt Nam 2005 có nêu cách hiểu về hoạt động thương mại
như sau:
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi khác, Điều 3 khoản 1, luật thương mại Việt Nam 2005.
Như vậy, khái niệm “thương mại” cần được hiểu là toàn bộ các hoạt động
kinh doanh trên thị trường. Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa)
vượt ra khỏi biên giới quốc gia mình thì người ta gọi đó là thương mại quốc tế (ngoại
thương).
Thương mại quốc tế (ngoại thương) là một ngành kinh tế thực hiện chức năng
lưu thông hàng hóa giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Nói cách
khác thương mại quốc tế là sự trao đổi dưới hình thức mua bán hàng hóa và những
dịch vụ kèm theo như lắp ráp, bảo hành, bảo hiểm, thanh toán quốc tế, vận tải quốc tế
của một quốc gia này với một quốc gia khác hoặc một tổ chức quốc tế.
1.2. Đặc điểm của thương mại quốc tế
Xuất phát từ định nghĩa, thương mại quốc tế có những đặc điểm sau:
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
6
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
7
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
Bên cạnh xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, ngày
nay xu hướng hình thành và phát triển các liên kết khu vực cũng ngày càng gia tăng.
Liên kết kinh tế khu vực là liên kết giữa hai hay nhiều nước trong phạm vi địa lý nhất
định, đảm bảo mối quan hệ giữ các thành viên trong khu vực và quan hệ với nền kinh
tế thế giới.
Tính ưu việt của các tổ chức kinh tế khu vực là: thực hiện chính sách ưu đãi
trong nội bộ các thành viên về đầu tư tài chính, phát triển kĩ thuật, trao đổi hàng
hóa… Tổ chức kinh tế khu vực còn thực hiện chế độ mậu dịch tự do giữa các nước
hoặc giảm thuế đối với các lĩnh vực sản xuất mũi nhọn, tạo điều kiện phát triển cho
mọi thành viên và sự vững mạnh của cộng đồng. Từ các mối liên minh liên kết khu
vực sẽ tạo ra điều kiện cho các nước hình thành các thị trường thương mại, đầu tư,
các trung tâm công nghiệp khu vực, từ đó sẽ làm hàng rào thuế quan và phi thuế quan
bị triệt tiêu, hàng hóa giữa các nước lưu chuyển không bị hạn chế.
Toàn cầu hóa, khu vực hóa có tác động to lớn tới tất cả các hoạt động thương
mại quốc tế, trong đó có những tác động mang tính tích cực như thúc đẩy quá trình tự
do hóa thương mại, thúc đẩy sự phát triển và xã hội hóa sản xuất. Bên cạnh đó cũng
có những tác động tiêu cực làm kìm hãm sự mở rộng của thương mại quốc tế mà cụ
thể là hàng rào bảo hộ mậu dịch của các khối khu vực mạnh sẽ làm thu hẹp phạm vi
và khối lượng của thương mại quốc tế.
2.2. Phân công lao động quốc tế
Trong thời gian qua, quá trình phân công lao động quốc tế diễn ra mạnh mẽ và
tác động tới thương mại quốc tế thể hiện qua các mặt sau:
Một là, xu hướng phân công lao động thế giới đang chuyển dịch từ phân công
theo chiều dọc sang phân công theo chiều ngang. Dưới hình thức phân công lao động
theo chiều ngang, các nước sẽ tham gia vào một công đoạn nào đó trong quá trình sản
xuất và sản xuất trên phạm vi toàn cầu tạo thành một mạng lưới trong đó mỗi quốc
gia là một mắt xích. Trước đây nếu như các nước đang phát triển chỉ là nơi cung cấp
nhiều tác động rất tích cực đến thương mại nội khối, trong khu vực và trên toàn thế
giới như trường hợp của đồng tiền chung châu Âu EURO.
2.4. Sự phát triển của khoa học kĩ thuật
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
9
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
Thương mại quốc tế chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự phát triển kinh tế quốc tế,
vì vậy việc tác động của khoa học công nghệ vào sự phát triển kinh tế quốc tế thực
chất là sự tác động vào thương mại quốc tế.
Cách mạng khoa học kĩ thuật đã làm thay đổi triệt để nền kinh tế xã hội ở các
quốc gia. Lao động thủ công đã được thay thế bởi lao động máy móc, các nhà xưởng
với các thiết bị hiện đại, hỗ trợ tối đa cho sản xuất xuất hiện ngày càng nhiều. Chất
lượng sản phẩm sản xuất ra được tiêu chuẩn hóa.
Khoa học công nghệ phát triển đã làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các
nước, tạo ra nhiều ngành nghề mới, nhất là các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Khoa
học công nghệ ngày càng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, tạo điều kiện mở
rộng thị trường toàn thế giới. Như trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ gen di
truyền đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sụ trưởng thành của cây trồng,
nâng cao năng suất mùa màng, cây con được biến đổi gen có khả năng chống sâi
bệnh cao hơn, chịu được khô hạn, giá rét… Các sản phẩm nông nghiệp làm ra vừa có
chất lượng cao hơn, năng suất cũng tăng cao đã thúc đẩy hoạt động giao dịch và mua
bán nông sản trên thì trường quốc tế.
Một tác động dễ nhận thấy nữa của tiến bộ công nghệ đến thương mại quốc tế
là việc áp dụng công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực thương mại điện tử, thanh toán
quốc tế, vận tải quốc tế…Những tác động này gây ảnh hưởng tích cực đến thương
mại quốc tế cả về phạm vi và quui mô.
2.5. Các nhân tố khác
Bên cạnh những nhân tố kể trên thì vấn đề chính trị, môi trường... cũng là
những nhân tố quan trọng tác động tới thương mại quốc tế. Trên thực tế, những vấn
đề liên quan đến chính trị quốc gia, các yêu cầu mới về môi trường cũng như những
trong quyết định của người tiêu dùng.
+ Giai đoạn 3 : Sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng
hóa trở nên thông dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực phải giảm chi phí càng nhiều
càng tốt để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng năng lực cạnh tranh. Cạnh tranh
ngày càng khốc liệt, các thị trường trong nước trì trệ, cần sử dụng lao động rẻ. Sản
xuất tiếp tục được chuyển sang các nước khác có lao động rẻ hơn thông qua FDI.
Nhiều nước xuất khẩu sản phẩm trong các giai đoạn trước (trong đó có nước phát
minh ra sản phẩm) nay trở thành nước chủ đầu tư và phải nhập khẩu chính sản
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
11
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
phẩm đó vì sản phẩm sản xuất trong nước không còn cạnh tranh được về giá bán
trên thị trường quốc tế. Các nước này nên tập trung đầu tư cho những phát minh
mới.
Lý thuyết này lý giải cả đầu tư quốc tế lẫn thương mại quốc tế, coi đầu tư
quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm. Lý thuyết này cho thấy
vai trò của các phát minh, sáng chế trong thương mại và đầu tư quốc tế bằng cách
phân tích quá trình quốc tế hoá sản xuất theo các giai đoạn nối tiếp nhau. Ưu điểm
của lý thuyết này là đưa vào được nhiều yếu tố cho phép lý giải sự thay đổi theo
ngành hoặc việc dịch chuyển dần các hoạt động công nghiệp của các nước tiên phong
về công nghệ, trước tiên là đến các nước "bắt chước sớm", sau là đến các nước "bắt
chước muộn". Theo lý thuyết này, có thể nhận thấy FDI vừa thay thế lại vừa bổ sung
cho thương mại quốc tế, FDI làm giảm nhập khẩu thành phẩm từ nước chủ đầu tư
sang nước nhận đầu tư, mặt khác lại làm tăng nhập khẩu máy móc, nguyên liệu từ
nước chủ đầu tư sang nước nhận đầu tư, tăng xuất khẩu từ nước nhận đầu tư sang
nước chủ đầu tư và ra thị trường thế giới.
1.2. Lý thuyết về thương mại quốc tế và tính lưu động của yếu tố sản xuất
-“International trade and Factor mobility”- Mundell.
Trong nghiên cứu này dựa vào mô hình H-O-S, Mundell đã chỉ ra rằng có sự
thay thế giữa dòng thương mại quốc tế và dòng di chuyển các yếu tố sản xuất. Trong
nguyên nhân này thì ngay cả khi có sự ngang bằng về tiềm lực quốc gia đối với các
yếu tố sản xuất, ngang bằng về giá cả hàng hóa, hoạt động thương mại quốc tế vẫn sẽ
diễn ra.
2. Tác động của FDI đến xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư
Có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa FDI và thương mại
quốc tế: FDI có thể thay thế hoặc ngược lại hỗ trợ cho thương mại quốc tế phát triển.
Quan điểm FDI thay thế cho thương mại quốc tế xuất phát dựa trên thực tế kinh tế
thế giới những năm 1960. Khi đó các quốc gia thực hiện các chính sách kiểm soát
chặt chẽ nhập khẩu. Trước những hàng rào bảo hộ thương mại, các nhà xuất khẩu
phải chuyển sang đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất ngay trên nước nhập khẩu hàng
hóa của mình. Đầu tư trực tiếp nước ngoài do đó tránh được rào cản thương mại, mà
vẫn phục vụ những nhu cầu của khách hàng quốc tế. Tuy nhiên sau đó, các dự án đầu
tư trực tiếp nước ngoài phát triển mạnh, có khả năng xuất khẩu sang một nước thứ
1
Định lý Rybczynski: Nếu một yếu tố sản xuất gia tăng thì cung hàng hoá thâm dụng yếu tố sản xuất đó sẽ
gia tăng và cung cuả hàng hoá khác sẽ giảm đối với một mức giá tương đối cho trước
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
13
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
ba, hoặc xuất khẩu trở lại nước chủ đầu tư. Từ đây xuất hiện quan điểm thứ hai cho
rằng FDI có thể hỗ trợ hoạt động thương mại quốc tế ở nước nhận đầu tư.
Thực tế ở các nước trên thế giới, hai dạng ảnh hưởng này của FDI rất khó
phân biệt và rất khác nhau giữa các quốc gia. Nói chung, quan hệ giữa FDI và xuất
nhập khẩu phụ thuộc vào loại hình FDI, lĩnh vực đầu tư, chiến lược của các TNC,
chiến lược phát triển kinh tế của nước nhận đầu tư. Dưới đây là một số các tác động
chung nhất của FDI đến hoạt động xuất nhập khẩu của các nước nhận đầu tư.
2.1. FDI tác động đến kim ngạch xuất nhập khẩu của nước nhận đầu tư
Đối với nhập khẩu
FDI là một hình thức di chuyển nguồn lực giữa các quốc gia. Các nguồn lực
này không chỉ tồn tại dưới dạng tiền tệ mà còn là những máy móc thiết bị công nghệ,
Các nước đang phát triển thường có lợi thế về nguồn lao động dồi dào, giá rẻ song lại
thiếu vốn để phát triển sản xuất. FDI là nguồn quan trọng giúp các nước này khắc
phục tình trạng thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, từ đó giúp tăng kim ngạch xuất khẩu.
Đầu tư nước ngoài cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất
và sản lượng ở các nước nhận đầu tư. Với kinh nghiệm quản lí và trình độ công nghệ
cao, các nhà đầu tư nước ngoài góp phần cải thiện năng suất của khu vực sản xuất,
làm phong phú nguồn hàng xuất khẩu. Đối với một số tài nguyên đòi hỏi công nghệ
chế biến hiện đại và nhiều vốn, nếu để tự các nước này khai thác, chế biến và xuất
khẩu sẽ mất một thời gian khá dài, nhưng nếu có FDI, chỉ trong một thời gian ngắn
đã có thể xuất khẩu, và tự sản xuất để xuất khẩu.
Một tác động tích cực khác của FDI đến hoạt động xuất khẩu của nước nhận
đầu tư đó là khả năng cải thiện chất lượng của hàng hóa xuất khẩu, không chỉ ở khu
vực có FDI mà của toàn bộ nền kinh tế nói chung do tác động lan tỏa công nghệ,
nâng cao trình độ sản xuất của cả khu vực kinh tế trong nước.
2.2. FDI tác động đến cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của nước nhận đầu tư
Xét cơ cấu nhập khẩu của một quốc gia, cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của nước
này thông thường sẽ gồm có nhóm hàng tiêu dùng và nhóm tư liệu sản xuất. Khi
không có FDI, nếu nước này là một nước đang phát triển với trình độ công nghệ thấp
(dưới mức Y), thì hàng hóa sản xuất ở trình độ công nghệ cao (trên mức Y) sẽ chiếm
một tỉ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch nhập khẩu của nước này. Nếu các nhà đầu
tư nước ngoài quyết định đầu tư trực tiếp để sản xuất một số mặt hàng công nghệ cao
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
15
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
(trên mức Y) ở nước này để xuất sang các thị trường khác, ta sẽ thấy có sự thay đổi
trong cả cơ cấu hàng xuất khẩu của nước này. Trước hết, tỉ trọng hàng tư liệu sản
xuất trong tổng kim ngạch nhập khẩu của nước này sẽ tăng lên, không chỉ bởi phải
nhập khẩu các máy móc thiết bị cho sản xuất, nước này có thể phải nhập khẩu cả
những nguyên vật liệu cần thiết hiện trong nước chưa sản xuất được. Một thời gian
sau nước này sẽ không còn nhập khẩu những loại hàng hóa này từ nước chủ đầu tư
đoạn tiếp theo nhanh hay chậm chịu tác động lớn của hoạt động đầu tư nước ngoài.
FDI mà một nước thu hút vào có cơ cấu như thế nào (về ngành, về trình độ công nghệ
của từng chủ đầu tư, về mục đích đầu tư…) sẽ có tính quyết định tương đối đến cơ
cấu hàng hóa xuất khẩu và cả nhập khẩu của nước nhận đầu tư đó.
Những tác động này có thể nhận thấy rõ nhất ở hoạt động ngoại thương của
các nước Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ. So với các nước có cùng điểm xuất phát,
3 nước này đã nhanh chóng loại bỏ cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của giai đoạn 1
để chuyển sang giai đoạn 2. Thời gian dừng lại ở giai đoạn 2 của những nước này
cũng ngắn hơn so với các nước khác và đang nhanh chóng chuyển sang giai đoạn 3.
Đóng góp vào thành tựu xuất khẩu của các nước này, bên cạnh chiến lược xuất nhập
khẩu, đường lối phát triển kinh tế hợp lí, nguồn vốn FDI chính là một động lực không
thể thiếu.
2.3. FDI tác động đến thị trường xuất nhập khẩu của nước nhận đầu tư
Hàng hóa và thị trường là hai yếu tố cơ bản của hoạt động ngoại thương. Các
nước muốn đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu thì phải mở rộng thị trường xuất
nhập khẩu. Cần lưu ý, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu không chỉ có nghĩa là mở
rộng thị trường theo phạm vi địa lí mà còn là mở rộng dung lượng hàng hóa xuất
nhập khẩu đối với từng thị trường.
Nghiên cứu của khoa kinh tế trường đại học Western Michigan 2002 về mối
quan hệ giữa FDI và thương mại quốc tế dựa trên số liệu tổng hợp từ các nước nhận
đầu tư trực tiếp của Nhật Bản kết luận rằng FDI hướng tới phục vụ các thị trường
khác nhau có tác động khác nhau đến thị trường xuất nhập khẩu nước nhận đầu tư.
Tác động của FDI đến hoạt động xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư phụ
thuộc vào thị trường mục tiêu mà hoạt động đầu tư này hướng tới. Tùy thuộc nhóm
thị trường mà nó phục vụ, dòng FDI đó sẽ không hoặc có khả năng làm gia tăng
phạm vi thương mại quốc tế của nước nhận đầu tư ở mức độ nhiều ít khác nhau.
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
17
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
Các nhóm thị trường gồm có: (1) thị trường nước chủ đầu tư, (2) thị trường
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
Một tác động tích cực khác của FDI đến thị trường xuất nhập khẩu của các
nước nhận đầu tư đó là, các chủ đầu tư có nhiều khả năng và kinh nghiệm trong việc
tìm thị trường để tiêu thụ, cũng như các hoạt động xúc tiến thương mại, điều này giúp
các doanh nghiệp có FDI của nước nhận đầu tư có thể nhanh chóng nắm bắt được
nhu cầu và những biến động của thị trường thế giới.
3. Tác động của xuất nhập khẩu đến FDI ở nước nhận đầu tư
Hoạt động xuất nhập khẩu nói chung hay hoạt động thương mại, mậu dịch
quốc tế ở nước nhận đầu tư cũng có khả năng tác động trở lại đến dòng FDI vào nước
này. Đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của thương mại quốc tế đến FDI,
song những nghiên cứu đã có đều thống nhất quan điểm sau:
Chính sách thương mại của nước nhận đầu tư, mức độ tự do hóa thương mại
và các hiệp định thương mại mà nước này tham gia có ảnh hưởng lớn đến dòng FDI.
Quốc gia nào có phạm vi thương mại quốc tế càng lớn thì càng có khả năng thu hút
nhiều FDI.
Chính sách thương mại của nước nhận đầu tư luôn có tác động to lớn lên
dòng chảy FDI. Tuy nhiên tác động tổng thể là tích cực hay tiêu cực còn phụ thuộc
vào nhiều yếu tố. Một mức độ bảo hộ cao, ví như hàng rào thuế quan, được thực thi
đối với một ngành nào đó sẽ tăng thu hút FDI vào trong ngành này. Bảo hộ cao làm
tăng thuế xuất nhập khẩu đối với mặt hàng đó, các công ty nước ngoài xuất khẩu mặt
hàng này sẽ phải đối mặt với chi phí xuất khẩu cao hơn, và để duy trì hay mở rộng
qui mô sản xuất hiện tại, các công ty này thay vì là nhà xuất khẩu sẽ cân nhắc việc
đầu tư trực tiếp vào nước nhập khẩu hàng hóa của họ để tránh hàng rào thuế quan.
Tuy nhiên việc tăng thuế suất nhập khẩu nói trên sẽ đồng thời có tác động
ngược chiều khác đến FDI vào nước nhận đầu tư. Nếu hàng hóa bị tăng thuế suất
nhập khẩu là đầu vào sản xuất của một số ngành có FDI, động thái này sẽ khiến chi
phí sản xuất của các chủ đầu tư tại nước nhận đầu tư tăng lên, hạn chế dòng FDI tiếp
tục đổ vào các ngành này, thậm chí làm giảm dần FDI hiện có, nhất là các khi chủ
đầu tư sản xuất hướng về xuất khẩu, sản phẩm đầu ra cần lợi thế về giá cả, chất
các ngành thu hút FDI tại các nước này.
Với một trình độ phát triển tương đối đồng đều và không có gì vượt trội lên
hẳn về lợi thế so sánh, sẽ không thể tồn tại một khoảng cách quá lớn về chi phí sản
xuất giữa các nước thành viên trong khối. Một nhà đầu tư có ý định chinh phục thị
trường của một nước sẽ đầu tư trực tiếp vào nước này thay vì thực hiện FDI vào một
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
20
Khóa luận tốt nghiệp - 2010
nước khác trong khối sau đó lại xuất khẩu sản phẩm để phải đối mặt với hàng loạt
khó khăn phát sinh.
Ví dụ, điều tiết sản xuất, cùng các chi phí như vận chuyển, điều tra thị
trường..., chưa kể các hàng rào phi thuế quan chắc chắn sẽ tồn tại trong nước nhập
khẩu. Trong trường hợp mà FDI hướng về xuất khẩu, tác động của hiệp ước có thể
diễn ra theo hướng tích cực thông qua việc giảm chi phí đầu vào nhập khẩu có xuất
xứ từ các nước thành viên trong khối.
Tuy nhiên, khó mà thấy được những diễn tiến thật sự rõ ràng của tác động tích
cực này trong một ý nghĩa là cho phép (hoặc thúc đẩy mạnh) FDI triển khai tính kinh
tế của quy mô để xuất khẩu, vì một trong những điều kiện tiên quyết của việc này là
một tỉ trọng lớn đầu ra phải được tiêu thụ tại chỗ. Nhưng quy mô của thị trường nội
địa lại luôn là điểm yếu nhất của hầu hết các nước đang phát triển trong việc thu hút
FDI.
(1b) Vấn đề thứ hai cần đề cập đến: liệu dòng chảy FDI có nguồn gốc từ các
nước thành viên trong khối, diễn ra giữa các thành viên này, có tăng hay không? Như
đã trình bày ở trên, FDI vào trong các nước này chủ yếu là theo đuổi chiến lược tối
thiểu hóa chi phí, với chi phí sản xuất tương đối đồng đều nhau giữa các nước thành
viên, động lực thực hiện FDI giữa các nước này sẽ rất yếu. Thêm vào đó, nếu đây là
các nước đang phát triển có trình độ tương đương , dòng ra của đầu tư trực tiếp là
không đáng kể. Do vậy, cho dù được thúc đẩy bởi sự hình thành của hiệp ước, sự
tăng lên của FDI giữa các nước này khó có thể mang lại một dấu hiệu tích cực đáng
ghi nhận nào.
nước đang phát triển. Tuy nhiên, điều này sẽ chỉ thật sự gây hiệu ứng tích cực trong
trường hợp tồn tại một sự khác biệt lớn về lợi thế so sánh giữa các nước thành viên.
Trong trường hợp mà các nước này sở hữu các lợi thế so sánh tương đối tương
đồng, tác động tích cực là hạn chế, và trong một số trường hợp có thể gây hiệu ứng
ngược nếu trong số các thành viên này có một số, ngoài việc sở hữu các lợi thế so
sánh như các thành viên khác, còn sở hữu thêm lợi thế so sánh vượt trội nào đó. Nhận
xét này sẽ càng đúng khi áp dụng vào xem xét việc thu hút FDI theo ngành. Ví dụ sau
đây sẽ minh họa.
Trung Quốc, một nước đang phát triển, hơn một thập kỷ vừa qua nổi lên như
một trong những điểm đến yêu thích nhất của FDI. Có nhiều lý do để giải thích cho
Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
22