khảo sát quy trình chăn nuôi lợn nái, lợn con, tình hình bệnh phân trắng lợn con - Pdf 24

MỤC LỤC
Cs là cộng sự vii
Phần I 1
MỞ ĐẦU 1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI 2
Phần II 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN
CON TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 3
2.1.1 Những nghiên cứu trong nước 3
2.1.2 Những nghiên cứu trên thế giới 4
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ LỢN CON 5
2.2.1. Đặc điểm tiêu hóa của lợn con 5
2.2.2. Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con 6
2.2.3. Đặc điểm thích ứng của lợn con 7
2.2.4. Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con 8
2.3. BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON 10
2.3.1. Nguyên nhân 11
2.3.2. Cơ chế gây bệnh 16
2.3.3. Triệu chứng - bệnh tích 17
2.3.4. Biện pháp phòng và trị bệnh 18
Phần III 23
ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG – NGUYÊN LIỆU 23
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 23
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23
3.2.1. Tình hình chăn nuôi, thú y và vệ sinh của trại lợn 23
i
3.2.2. Điều tra tình hình bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn theo mẹ từ
năm 2008 đến tháng 4 năm 2010 23

Phần V 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1. KẾT LUẬN 54
5.2. KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các Thầy, Cô giáo trong
khoa Thú y - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những
kiến thức chuyên ngành bổ ích trong suốt khóa học vừa qua.
Với tấm lòng thành kính và biết ơn, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới
Thầy giáo TS. Nguyễn Bá Tiếp Bộ môn Giải Phẩu - Tổ Chức, Khoa Thú y-
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và dành
nhiều sự giúp đỡ quý báu để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn BSTY Lê Văn Thơ – Trạm trưởng Trạm Thú y
huyện Khoái Châu – Hưng Yên và chú Tường Duy Toản – Chủ trang trại, đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Cuối cùng với tình cảm đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình,
bạn bè đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng
như trong thời gian tôi thực hiện đề tài.
Hà Nội, Ngày 30 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
iii
Tường Tuấn Anh
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VAC là Vườn ao chuồng

tuỳ thuộc vào sự thay đổi ít, nhiều của các yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng và sự
thay đổi của thời tiết khí hậu. Chính vì vậy mà bệnh lợn con ỉa phân trắng đã
được nghiên cứu từ rất lâu, để từ đó tìm ra nguyên nhân, biện pháp phòng và trị
hiệu quả sao cho đạt kết quả tốt nhất.
Để củng cố và đáp ứng nhu cầu của sản xuất cũng như để góp phần tư liệu
về tình hình dịch bệnh của đàn lợn, nhất là của các trại lợn giống tư nhân tôi tiến
1
hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát quy trình chăn nuôi lợn nái, lợn con, tình
hình bệnh phân trắng lợn con và một số phác đồ điều trị bệnh ở quy mô trang
trại nhỏ” tại trại Ông Tường Duy Toản Xã Liên khê - Khoái Châu - Hưng Yên
2. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
- Nắm bắt được quy trình chăn nuôi lợn lái và lợn con ở quy mô nông hộ
- Nắm được thực trạng bệnh lợn con ỉa phân trắng của trại để từ đó đề ra
phác đồ điều trị phù hợp và hiệu quả.
2
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN
CON TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
2.1.1 Những nghiên cứu trong nước
Bệnh phân trắng lợn con là một bệnh xảy ra từ rất lâu và ngày càng phổ
biến ở các trang trại nuôi tập trung và ở các nông hộ. Bệnh xảy ra quanh năm
nhưng thường phát triển mạnh vào lúc giao mùa thay đổi thời tiết đột ngột từ
mùa Đông sang mùa Xuân, Xuân sang Thu. Ngày nay, với sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, bệnh đã được khống chế phần nào nhưng việc loại trừ hoàn
toàn gần như là không thể và gặp rất nhiều khó khăn.
Đỗ Ngọc Thuỵ, Cù Hữu Phú (2002), các tác giả đã phân lập E. coli. Ở lợn
mắc bệnh tiêu chảy và đã xác định được các chủng E. coli mẫn cảm cao với các
loại thuốc như Nitrofurazolidon tới 85%, Neomycine tới 80% và Sufonamid là
75%.

có tần suất cao để sản suất vacxin E.coli vô hoạt có bổ
trộ keo phèo, tiêm 2 lần cho lợn mẹ phòng bệnh phân trắng cho lợn con. Lê Văn
Tạo (1993) đã phân lập, chọn chủng E.coli điểm hình từ bệnh phẩm lợn con chết
do bị tiêu chảy để điều chế vacxin chết dưới dạng cho uống. Vacxin dùng cho
lợn sau khi đẻ 2 giờ uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3-5 ngày. Kết quả làm
giảm tỷ lệ bệnh từ 30-35% so với bình thường.
Theo Đỗ Trung Cứ và cs (2000), sử dụng chế phẩm Biosubtyp phòng
bệnh tiêu chảy cho lợn con, có thể giảm được 42% số lợn bị tiêu chảy ở giai
đoạn từ 1- 60 ngày tuổi. Trần Thị Hạnh và cs (2000), dùng chế phẩm E.coli sữa
bước đầu có hiệu quả trong việc phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con từ 23,5% xuống
còn 13%, làm chậm thời gian nhiễm bệnh, giảm tỷ lệ chết do tiêu chảy và tăng
khối lượng lợn con lúc cai sữa.
2.1.2 Những nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh tiêu biểu như:
Theo A-Vkovashiki, ở giai đoạn chưa trưởng thành, dạ dày lợn con chưa
có axit HCl tự do nên tác dụng diệt khuẩn của dạ dày chưa cao bên cạnh đó khả
năng tiêu hoá của dạ dầy và ruột ở mức độ thấp. Đây là một nguyên nhân hết
sức quan trọng tạo điều kiện cho bệnh phát triển.
4
Theo Bakhtin (1956), nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con chủ yếu
do vệ sinh chuồng trại, quản lý chăm sóc kém, thức ăn thiếu chất dinh dưỡng và
áp dụng các phương thức chăn nuôi lạc hậu.
Nagy (1990) cho rằng tiêu chảy lợn con trong thời kỳ bú mẹ phần lớn do
các chủng E.coli là O
8
, O
129
, O
138
, O

thẩm thấu vào máu.
Tuy nhiên lợn con 14-16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl trong dạ dày
không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và
cs, 1986). Việc tập cho lợn ăn sớm, đặc biệt là cai sữa sớm đã rút ngắn được giai
đoạn thiếu HCl, hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh
5
chóng các đáp ứng miễn dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng
miễn dịch của cơ thể. Vì vậy, trong quá trình nuôi dưỡng lợn con theo mẹ cần
chú ý đến những thời kỳ phát triển của lợn. Lợn con sau khi sinh cần cho bú sữa
đầu càng sớm càng tốt, bởi vì trong sữa đầu có nhiều kháng thể, chất khoáng,
vitamin. Sau đẻ 19 ngày lượng sữa mẹ giảm dần nhưng nhu cần của lợn con lại
tăng lên. Đây là giai đoạn rất khó khăn đối với lợn con. Để khắc phục tình trạng
này cần tập cho lợn con ăn sớm, vừa để bổ sung chất dinh dưỡng, vừa có tác
dụng kích thích tăng tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và enzyme, vừa kích thích sự
phát triển của dạ dày và ruột để thích ứng với chế độ dinh dưỡng của lợn con sau
cai sữa.
Về mặt cơ bản thì lợn con theo mẹ có 5 điểm bất lợi thuộc các yếu tố nội
tại khiến lợn con thích ứng kém với môi trường là (1) Điều hòa thân nhiệt kém,
(2) dự trữ năng lượng cơ thể kém, (3) hệ thống enzyme tiêu hóa chưa hoàn
chỉnh, (4) thiếu sắt và (5) hệ thống miễn dịch và hormone chưa phát triển.
2.2.2. Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng với chất lạ đối với cơ thể. Phần
lớn các chất lạ chính là mầm bệnh. Các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con
tương đối dễ dàng do chức năng các tuyến chưa hoàn chỉnh. Trong hệ thống tiêu
hóa của lợn con, lượng enzyme tiêu hóa và lượng HCl tiết ra còn chưa đủ để đáp
ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa kém, hấp thu
kém. Giai đoạn này mầm bệnh như Salmonella, E.coli, Proteus… dễ dàng xâm
nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và gây bệnh.
Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch không đặc hiệu như bổ thể, Profecdin và
Lysozin được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào của gia súc còn rất yếu nhất là

có một quá trình thích nghi, tạo điều kiện thích hợp trong quá trình sống để
chúng có thể làm quen và thích nghi dần với môi trường sống mới.
7
Nhờ quá trình oxy hóa mô mỡ nên lợn con điều chỉnh được nhân nhiệt
của mình so với môi trường bên ngoài. Khả năng điều chỉnh thân nhiệt khác
nhau ở lợn con là do mức độ phát triển khác nhau của mô mỡ của từng cá thể,
từng loại gia súc (Đào Trọng Đạt, 1986). Mặt khác, sau khi sinh ra lợn con còn
phải chống chịu với các yếu tố bất lợi của môi trường, chúng rất nhạy cảm với
các yếu tố đó nên thường rơi vào trạng thái Stress dẫn tới mất năng lượng,
không giữ được thân nhiệt từ đó suy giảm miễn dịch dễ mắc các bệnh về đường
ruột và hô hấp.
Lợn con có nhu cầu cao về dinh dưỡng, axit amin là nguyên liệu chủ yếu
cho sự sinh trưởng và phát dục của lợn con. Tốc độ sinh trưởng của gia súc non
rất nhanh, trong vòng 10-14 ngày thể trọng tăng gấp 1,3 lần, sau 2 tháng tuổi
khối lượng lợn con có thể tăng 14-15 lần so với lúc sơ sinh. Nếu cai sữa mẹ
không đảm bảo đủ chất lượng, trong khẩu phần ăn thiếu đạm, sự sinh trưởng của
cơ thể sẽ bị chậm lại hoặc ngừng lại, khả năng chống chịu với mầm bệnh suy
giảm nên cơ thể rất dễ bị nhiễm bệnh.
Trong nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con thường xuyên xuất hiện hiện
tượng lợn con bị tiêu chảy, một trong những bệnh gây thiệt hại cho người chăn
nuôi do những đặc điểm sinh lý chưa hoàn thiện của lợn con. Vì vậy, nuôi
dưỡng lợn con cần phải đầu tư nhiều công sức mới đạt được hiệu quả tăng trọng
và tỷ lệ nuôi sống cao.
2.2.4. Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con
Trong đường ruột của gia súc nói chung, có rất nhiều loại vi khuẩn sinh
sống và phát triển. Số lượng và thành phần của chúng ở từng đoạn ruột là không
giống nhau, tăng dần từ tá tràng đến trực tràng và biến động theo lứa tuổi.
Nguyên nhân là do sự thay đổi pH và thành phần chất chứa trong từng đoạn ruột
và ở mỗi lứa tuổi. Theo Nguyễn Tài Lương (1982), những vi khuẩn đường ruột
chứa những chức năng nhất định trong quá trình tiêu hóa và có vai trò sinh lý

Vi khuẩn E.coli gây bệnh thường có một hay nhiều yếu tố gây bệnh khác
nhau ở những chủng vi khuẩn E.coli không gây bệnh không tìm thấy những yếu
tố này. Trong những năm gần đây những hiểu biết về những yếu tố gây bệnh và
vai trò của chúng trong quá trình gây bệnh đường ruột đã tăng lên rất nhanh, do
vậy vi khuẩn E.coli đã xếp loại theo hướng gây bệnh và dựa trên khả năng sản
xuất các yếu tố gây bệnh.
Vi khuẩn Clostridium spp gây bệnh thường thấy trong thức ăn, môi
trường và nước uống, lợn ăn phải Clostridium spp vào ruột sản sinh độc tố, sinh
sôi nảy nở rất nhanh và gây bệnh tiêu chảy. Lợn chết có bệnh tích viêm ruột,
thoái hóa gan và thận.
Clostridium perfingens typ C gây bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn ở lứa
tuổi 1- 14 ngày tuổi đặc biệt xảy ra trầm trọng ở giai đoạn từ 1-7 ngày tuổi, tỷ lệ
chết cao có thể tới 50% phân là chất chứa mầm bệnh.
Clostridium perfingens sản sinh ra 12 loại độc tố khác nhau trong đó có
các loại α, β, ε và iota là độc tố gây chết chủ yếu (Donel, 1986).
Nhiều công trình nghiên cứu khảng định vi khuẩn Salmonella spp có vị trí
quan trọng trong bệnh tiêu chảy ở gia súc. Tiêu chảy ở lợn do Salmonella
cholerasuis gây ra. Bệnh lây nhiễm từ môi trường (đất, nước, thức ăn không hợp
vệ sinh) vào đường tiêu hóa, vi khuẩn tiết ra độc tố gây bệnh cho lợn, bệnh có
thể lây nhiễm từ mẹ sang con.
2.3. BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
Bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng bao gồm nhiều nguyên nhân.
Theo Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (2000), bệnh phân trắng lợn con là một bệnh
truyền nhiễm cấp tính làm chết nhiều lợn con đang bú mẹ, thể hiện đặc trưng
bằng triệu chứng ỉa chảy phân trắng - vàng kèm theo cả bại huyết.
Các tác giả Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên (2002)
cho rằng, bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh và suốt trong thời kỳ
bú mẹ. Tỷ lệ mắc bệnh có thể lên tới 50- 90%, trong đó tỷ lệ chết có thể lên tới
10
60-70% nếu bệnh không được can thiệp kịp thời. Bệnh có thể xảy ra quanh năm,

trong máu, hậu quả là giảm sức đề kháng của lợn con, nhất
là lợn con, đặc biệt là lợn con sơ sinh dẫn đến hiện tượng ỉa chảy.
Nói đến nguyên nhân do vi khuẩn gây bệnh phân trắng lợn con phải kể
đến vi khuẩn E.coli. E.coli là vi khuẩn đường ruột có ở khắp mọi nơi, lây lan
11
chủ yếu bằng con đường tiêu hóa, ít khi qua con đường không khí, qua niêm
mạc mắt và qua nhau thai.
Tiêu chảy ở lợn con sơ sinh do vi khuẩn E.coli thường thấy ở lợn con sơ
sinh đến 4 ngày tuổi. Các chủng gây bệnh đều sản sinh độc tố đường ruột nên
được gọi là ETEC. ETEC bám vào màng nhầy của ruột non của lợn con sơ sinh
bằng một hay nhiều kháng thể bám dính F
4
(K
88
), F
5
(K
99
) hoặc F
41.
Chúng phát
triển ở tế bào biểu mô ruột non và sản xuất một hay nhiều độc tố ruột STa (ST
1
),
STb (ST
2
) hoặc LT.
Tiêu chảy ở lợn con trong các thời kỳ bú mẹ phần lớn được gây ra do O
8,
O

, Enteroxin, Hly và R để chế tạo vacxin.
Nguyên nhân do ngoại cảnh
Gầy đây có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã thống nhất bệnh
phân trắng lọn con xảy ra là do nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau và chúng có
liên quan đến hàng loạt các yếu tố. Do đó, việc phân chia nguyên nhân chỉ là
tương đối, nhằm mục đích xác định nguyên nhân nào là chính, nguyên nhân nào
là phụ để có biện pháp phòng trị có hiệu quả.
Qua các tài liệu chúng tôi có thể chia thành các nguyên nhân bao gồm:
Điều kiện thời tiết khí hậu, tình trạng nuôi dưỡng, vi khuẩn mà chủ yếu là E.coli
và do virus
12
- Do điều kiện thời tiết khí hậu
Những điều kiện phát sinh bệnh phân trắng lợn con như:
+ Thời gian bệnh phát sinh mạnh thường vào lúc độ ẩm không khí cao.
Bệnh phân trắng lợn con thường phát triển mạnh khi độ ẩm không khí trong
chuồng nuôi tăng cao, bệnh càng trầm trọng khi thời tiết lạnh và ẩm. Chính vì
thế việc sưởi ấm cho lợn con có tác dụng làm cho lợn con tăng sức đề kháng với
bệnh. Theo nhiều tác giả thì việc sưởi ấm là biện pháp cơ bản nhất, không những
trong vụ đông xuân giá rét mà ngay cả trong những ngày hè ấm áp.
Theo các tác giả Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phương, Lê Ngọc Mỹ,
Huỳnh Văn Kháng (1996), khi được đẻ ra, lợn con chịu ảnh hưởng trực tiếp của
môi trường sống như nóng, lạnh, mưa, hanh khô, ẩm thấp thất thường do cơ thể
lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, nên các phản ứng thích nghi và bảo vệ rất
yếu. Vì vậy, khi thời tiết thay đổi đột ngột, lợn con dễ bị cảm lạnh, đó cũng là
điều kiện thuận lợn để bệnh phân trắng lợi con phát triển.
Trong các yếu tố về khí hậu thì quan trọng nhất là độ ẩm và nhiệt độ. Độ
ẩm thích hợp cho lợn con vào khoảng 75 – 85%. Do đó, trong những tháng mưa
nhiều thì số lượng lợn con bị phân trắng tăng lên rõ rệt, có khi tới 90% tổng toàn
đàn. Vì vậy, việc làm khô chuồng là vô cùng cần thiết, nền chuồng ẩm thấp, khó
thoát nước trong mùa nóng bức làm bệnh phân trắng lợn con bùng phát mạnh

hệ thống miễn dịch chưa hoạt động, nên việc tạo sữa tốt cho lợn con bú rất quan
trọng và sự tạo sữa của lợn mẹ khác nhau ở các giai đoạn là khác nhau, 1-3 ngày
đầu sau khi sinh có quá trình tiết sữa đầu có hàm lượng protein rất cao 18 -19%,
protein huyết thanh là 34 – 38% protein tổng số. Do đó, phải có quá trình tập ăn
thích hợp cho lợn con.
14
- Nguyên nhân do vi khuẩn E.coli
Nhiều tác giả đã nghiên cứu và đã chứng minh được vai trò của E.coli
trong bệnh phân trắng lợn con.
Lê Văn Tạo và cs (2006), đã phân lập từ phân của lợn con mắc bệnh phân
trắng được 75 chủng E.coli thuộc 13 serotyp kháng nguyên là O
111,
O
86,
O
26
, O
149
,
O
1
, O
55
, O
124
, O
127
, O
8


kịp thời tỷ lệ chết cao tới 60 – 70%, đặc biệt lợn con mắc bệnh vào tuần tuổi
đầu. Những lợn con khỏi bệnh thường bị còi cọc, phát triển chậm trong giai
đoạn sau, gây thiệt hạn cho người chăn nuôi.
- Nguyên nhân do virus
Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu vai trò của virus trong
bệnh lợn con phân trắng. Một số nhà khoa học công bố Rotavirus thuộc họ
Reovindae gây bệnh phân trắng lợn con. Bệnh hay xảy ra ở lợn con từ 1 – 5
ngày tuổi, tỷ lệ chết cao 50 – 100%. Có triệu chứng điển hình là phân nhão như
hồ rồi đến phân lẫn nhiều nước màu vàng hoặc xám chứa nhiều chất vón.
2.3.2. Cơ chế gây bệnh
Bệnh phân trắng lợn con có liên quan tới trạng thái Stress như thời tiết ẩm
lạnh hoặc nóng ẩm đột ngột, thức ăn cho lợn mẹ thay đổi bất thường về lượng
đạm và chất béo, chất khoáng và vitamin.
Hệ thống dạ dày – ruột đặc biệt mẫn cảm với Stress. Ngay ở giai đoạn báo
động của quá trình Stress, nhu động ruột tăng, thậm chí gây ra ỉa chảy cấp tính.
Nếu tác nhân Stress tác động với cường độ mạnh, kéo dài thì chắc chắn xảy ra
viêm dạ dày - ruột. Tiếp theo quá trình viêm của dạ dày – ruột bởi Stress, các vi
khuẩn có trong đường tiêu hóa đã làm bệnh trầm trọng hơn, tổn thương nặng
hơn.
Các tác nhân Stress sẽ tạo điều kiện “mở đường” cho vi khuẩn phát triển,
nhất là vi khuẩn E.coli.
Vi khuẩn E.coli bằng cách trực tiếp hay gián tiếp xâm nhập vào đường
ruột của lợn. Trong ruột khi có đủ các điều kiện thuận lợi vi khuẩn nhân lên với
số lượng lớn, sản sinh yếu tố kháng khuẩn Colicin (Col V). Yếu tố này tiêu diệt
hoặc hạn chế sự phát triển của các vi khuẩn đường ruột khác, đặc biệt là các vi
khuẩn có lợi như: B.subtylis, các vi khuẩn lactic, trở thành vi khuẩn có số lượng
lớn trong đường ruột. Khi số lượng đã lớn và chiếm ưu thế vi khuẩn tràn lên ruột
16
non. Ở ruột non nhờ kháng nguyên bám dính, vi khuẩn bám dính vào lớp tế bào
biểu mô, nhung mao ruột, nhờ yếu tố xâm nhập, vi khuẩn xâm nhập vào trong

lần/ ngày, phân có mùi tanh khắm, trong phân có lẫn những hạt sữa chưa tiêu lổn
nhổn như vôi, hay có lẫn nhiều bọt khí. Có trường hợp mới mắc bệnh, đến ngày
thứ ba phân đã loãng như nước, tháo ra tung tóe, lúc này lợn mất nước nặng, lợn
rơi vào trạng thái hôn mê, hấp hối và chết, tỷ lệ chết cao có thể là 40 – 70%.
- Giai đoạn khỏi bệnh, lợn đi ỉa chảy phân từ trạng thái màu trắng xám
chuyển thành xám đen hay đen, phân đặc dần thành khuôn như phân lợn khỏe.
Bệnh tích
Lợn chết do mất nước nghiêm trọng, xác chết khô, gan màu nâu đen. Dạ
dày chứa những đám nhồi máu. Ruột non trương giãn to và xuất huyết. Niêm
mạc ruột bị hoại tử từng đám. Trong ruột già có thể thấy từng đám máu. Viêm
ruột là hiện tượng phổ biến, viêm thành ruột, xuất huyết ở màng treo ruột. Dạ
dày chứa một ít sữa đông đặc, vón có thể có máu, mùi tanh. Trong ruột chứa
phân mầu vàng hay xám. Hạch màng treo ruột sưng.
Một số trường hợp có thể thấy viêm phổi, xoang ngực, xoang bụng và
màng phổi sưng chứa dịch thẩm xuất.
2.3.4. Biện pháp phòng và trị bệnh
2.3.4.1. Phòng bệnh
Bệnh lợn con ỉa phân trắng xảy ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Để
công tác phòng bệnh có hiệu quả chúng ta phải kết hợp nhiều biện pháp kết hợp
cùng một lúc:
- Vệ sinh và chăm sóc tốt
+ Tạo ra tiểu khí hậu chuồng nuôi ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa
hè, khô ráo sạch sẽ nhất là trong đợt nồm và mưa to.
18

Trích đoạn TÌNH HÌNH MẮC BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN CỦA TRẠI Kết quả điều tra bệnh phân trắng lợn con từ năm 2008 đến tháng Kết quả điều tra bệnh phân trắng lợn con qua 4 tháng đầu năm Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status