Nghiên cứu biệt hóa tế bào gốc trung mô màng dây rốn người để điều trị vết thương bỏng nhiệt thực nghiệm - Pdf 24


1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Da là cơ quan lớn nhất của cơ thể có chức năng bảo vệ. Mặc dù chỉ
gồm 2 lớp mô chuyên biệt với hai loại tế bào chủ yếu là nguyên bào sợi và tế
bào sừng nhƣng việc tái tạo khi da bị tổn thƣơng vẫn còn là một thách thức
[2],[8]. Các tấm tế bào da nuôi cấy hoặc vật liệu tƣơng đƣơng da chế tạo từ tế
bào da nuôi cấy đã đƣợc ứng dụng trong điều trị bỏng, vết thƣơng mạn tính
[6],[17],[18]… Mặc dù hạn chế đƣợc nguy cơ lây nhiễm nhƣng do khả năng
tăng sinh có hạn và tính kích thích đào thải miễn dịch của tế bào cao nên chi
phí giá thành vật liệu lớn làm hạn chế khả năng phổ biến ứng dụng trong điều
trị. Hơn nữa, thành phần các loại vật liệu chỉ là nguyên bào sợi hoặc tế bào
sừng nên còn thiếu rất nhiều các thành phần phụ của da nhƣ tế bào sắc tố, tế
bào nang lông, tế bào tuyến bã Việc khắc phục các hạn chế trên đang đƣợc
kỳ vọng vào vai trò tác dụng của các tế bào gốc bởi chúng là những tế bào
chƣa có chức năng chuyên biệt, chúng có tiềm năng phát triển thành nhiều
loại tế bào khác nhau và có khả năng tự thay mới.
Tế bào gốc trung mô tồn tại trong tủy xƣơng, máu cuống rốn, dây rốn,
mô liên kết của cơ thể và ở các khoảng kẽ của nhiều cơ quan [14],[42]. Các tế
bào này có thể đƣợc nuôi cấy và nhân lên in vitro và dƣới các điều kiện thích
hợp chúng có thể cảm ứng biệt hóa thành các tế bào xƣơng, sụn, cơ và mỡ.
Hiện nay, tế bào gốc trung mô đƣợc coi là dạng tế bào quan trọng cho công
nghệ mô [26],[43]. Trong liền vết thƣơng, tế bào gốc trung mô đƣợc xác định
là chúng biệt hóa thành các dạng tế bào da khác nhau. Tủy xƣơng là nguồn
chính của tế bào gốc trung mô nhƣng vấn đề thu tủy xƣơng gặp khó khăn và
số lƣợng ngƣới cho tủy xƣơng cũng hạn chế [14],[52]. Do sự tăng lên về tuổi
tác, khả năng tăng sinh và biệt hóa thành nhiều dòng tế bào khác nhau của tế
bào gốc trung mô tủy xƣơng bị giảm đi và các tế bào cũng đặt ra câu hỏi về

2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. QUÁ TRÌNH LIỀN VẾT THƢƠNG, VẾT BỎNG
1.1.1. Diễn biến lâm sàng vết thƣơng, vết bỏng sâu
Diễn biến vết thƣơng nói chung đều trải qua các giai đoạn viêm, tăng
sinh, tái lập mô và liền sẹo. Thông thƣờng, các vết thƣơng liền trong vòng 4 –
6 tuần [2],[8],[53]. Các vết thƣơng khuyết da hoặc bỏng sâu toàn bộ lớp da thì
quá trình liền vết thƣơng đều phải trải qua quá trình hình thành mô hạt. Khi
vết thƣơng có mô hạt tốt thì các tế bào biểu mô từ bờ mép vết thƣơng mới
tăng sinh và di cƣ vào phía trung tâm vết thƣơng để làm lành hoàn toàn vết
thƣơng hoặc phải ghép da nếu đƣờng kính tổn thƣơng trên 5 cm. Thông
thƣờng vết bỏng sâu hoặc vết thƣơng mất da sẽ có tổ chức hạt tốt sau 10-15
ngày nếu vết thƣơng không bị nhiễm khuẩn và sạch hoại tử. Hình thành mô
hạt sớm sẽ tạo điều kiện để ghép da tự thân sớm, che phủ đóng kín vết thƣơng,
hạn chế các biến chứng nhƣ suy mòn, nhiễm khuẩn [3],[7],[53].
Tùy thuộc vào diện tích, độ sâu của vết bỏng, sức đề kháng của cơ thể,
vết bỏng cơ bản tiến triển theo ba giai đoạn đan xen và kế tiếp nhau là: Giai đoạn
cấp tính, giai đoạn tái tạo và giai đoạn hình thành sẹo [53],[85].
Giai đoạn cấp tính với biểu hiện viêm cấp, xuất tiết, viêm nhiễm mủ,
rụng hoại tử và làm sạch vết bỏng.
Giai đoạn này khởi đầu ngay sau bỏng và bắt đầu bằng đáp ứng tuần
hoàn, thể hiện ở phản ứng vi mạch: sung huyết, giãn mạch, tăng tính thấm dẫn
tới thoát dịch rỉ viêm và tạo phù nề.
Tại vùng bỏng có sự đáp ứng của tế bào viêm: bạch cầu đa nhân trung
tính, tiếp theo là đại thực bào, muộn hơn là lympho bào. Tế bào viêm có nhiệm
vụ loại bỏ hoại tử, diệt vi khuẩn, khởi động và điều hòa sự liền vết thƣơng.

4
Giai đoạn viêm, tùy theo diện tích và độ sâu của tổn thƣơng bỏng mà
có thể kéo dài 3 – 7 ngày hoặc chồng lấn giai đoạn tái tạo.

Quá trình liền vết thƣơng có nhiều cơ chế phức tạp nhƣng kết quả cuối
cùng là tái lập lại các mô tế bào đã bị tổn thƣơng. Do đó quan niệm mới trong
điều trị các tổn thƣơng ở bất cứ cơ quan nào trong cơ thể là các tế bào tổn
thƣơng phải đƣợc thay thế bằng các tế bào khoẻ mạnh.
Để duy trì chức năng bảo vệ cơ thể, con ngƣời cần có da. Thành phần tế
bào da ngƣời chủ yếu gồm 2 loại là nguyên bào sợi và tế bào sừng. Nguyên
bào sợi là tế bào tạo lớp trung bì còn tế bào sừng tạo ra lớp biểu bì. Hai loại tế
bào này có những chức năng khác nhau nhƣng lại tƣơng tác, kết hợp với nhau
để tạo ra cấu trúc da hoàn chỉnh. Hai loại tế bào này cũng là những tế bào chủ
yếu làm lành các tổn thƣơng da. Khi da bị tổn thƣơng, nguyên bào sợi là tế
bào tổng hợp nên đệm gian bào, tiết các yếu tố tăng trƣởng tạo điều kiện để tế
bào sừng từ bờ mép vết thƣơng tăng sinh che phủ bề mặt làm lành vết thƣơng
[6],[7],[8],[85].
1.1.2.1. Nguyên bào sợi, vai trò của nguyên bào sợi trong liền vết thƣơng
Nguyên bào sợi là tế bào có các nét đặc trƣng tƣơng tự nhau về hình
thái, về các dấu ấn sợi trung gian trung mô, về vimentin [112],[113]. Tuy
nhiên, khi phân tích ADN thì các nghiên cứu đều cho thấy các nguyên bào sợi
khác nhau đều có các biểu hiện gen của nó, các đặc tính phenotyp, các protein
đệm gian bào và các cytokin mang tính đặc thù khu vực [112],[114].
Nguyên bào sợi đƣợc tạo ra từ các tế bào trung mô nguyên thủy type 1
có thể biệt hóa thành dạng tế bào nội mạch và quanh mạch [115],[116]. Trong
những tuần đầu tiên của sự phát triển da thai kỳ, trung bì bao gồm mạng lƣới
dày đặc các tế bào trung mô cho thấy nhiều sự tƣơng tác giữa các tế bào tiếp
xúc gần nhau để tạo ra các tín hiệu giữa các tế bào và ảnh hƣởng tới sự biệt

6
hóa tế bào [117]. Từ tuần thứ 14-21 của thai, sự tiếp xúc giữa các tế bào gần
nhau làm cho nguyên bào sợi mất dần các tua nhánh bào tƣơng và nguyên bào
sợi khi đó giống nhƣ nguyên bào sợi da trẻ sơ sinh, đó là các tế bào có dạng
hình thoi và lƣới nội bào lồi lõm cùng với nhân hình elip. Ở giữa trung bì da

phase tăng sinh tái tạo mô. Khi da bị thƣơng, nguyên bào sợi đƣợc kích hoạt
để tăng sinh, di cƣ và biệt hóa. Sau khi bị thƣơng, các tế bào đầu dòng của tế
bào sợi từ tủy xƣơng có thể di cƣ tới vùng thƣơng tổn mặc dù nguồn chính
của nguyên bào sợi vết thƣơng là đƣợc di cƣ từ các nguyên bào sợi ở vùng da
lành quanh vết thƣơng [8],[20],[25]. Các yếu tố hấp dẫn sự dịch chuyển của tế
bào đƣợc dẫn dắt bởi thành phần đệm riêng biệt. Ví dụ nhƣ đệm vết thƣơng
tạm thời là thành phần giàu fibrin, fibronectin, acid hyaluronic và sự tồn tại
của một số ít collgen. Với sự có mặt của PDGF và môi trƣờng đệm tạm thời,
thụ thể alpha5 beta1 intergrin đƣợc điều chỉnh trên bề mặt nguyên bào sợi để
cho phép chúng kết dính với fibronectin và sau đó di cƣ đến vết thƣơng
[13],[15].
Khi nguyên bào sợi lấp đầy tổn thƣơng, chúng thay thế đệm tạm thời
bằng tổ chức hạt và cùng với sự có mặt của môi trƣờng giàu collgen, có sự
biểu hiện tăng lên thụ thể alpha2 beta1 và giảm thụ thể alpha5 beta1 [13].
Theo tuần tự nhƣ thế, nguyên bào sợi gắn với collagen và không di chuyển nữa
diễn ra thông qua sự ảnh hƣởng của yếu tố hấp dẫn fibronectin. Hơn nữa, để quá
trình di cƣ tế bào diễn ra, sự giáng hóa đệm gian bào đƣợc yêu cầu thông qua sự
giải phóng các enzym giáng hóa protein, nhƣ các metalloproteinases đệm và
cystein proteinases từ tế bào sừng, nguyên bào sợi và đại thực bào, các yếu tố
này bị ảnh hƣởng bởi các cytokin nhƣ interleukin-1 (IL-1), PDGF, TGF-beta và
sự tiếp xúc của tế bào sau đó với các thành phần đệm gian bào bao gồm
fibronectin hoặc các mảnh vỡ fibronectin [50],[51],[52].
Nguyên bào sợi tạo ra các thành phần đệm gian bào làm nền cho quá
trình biểu mô hóa và cung cấp các sợi laminin, decorin, elastin, fibronectin để

8
tế bào biểu mô bám và trƣợt trên đó, giúp tăng nhanh quá trình biểu mô hóa
che phủ vết thƣơng. Chúng tạo ra protein đệm mà trong đó collagen tạo nên
sự bền vững và toàn vẹn của mô. Đồng thời nguyên bào sợi là nguồn cung cấp
quan trọng một số yếu tố tăng trƣởng (growth factors - GF) kích thích liền vết

thành nguyên bào sợi cơ đƣợc cho là kết quả của sự kết hợp các lực cơ học đƣợc
sinh ra do sự di cƣ nguyên bào sợi và sự có mặt của TGF-β cũng nhƣ fibronectin
[8],[126]. Tiếp sau quá trình tái biểu mô hóa, nguyên bào sợi cơ có thể trải qua
quá trình tự chết hoặc quay trở lại dạng tế bào không co rút [8],[31].
Trong quá trình liền vết thƣơng, đệm ban đầu chứa fibronectin và acid
hyaluronic dần đƣợc thay thế bởi các collagen khoảng kẽ gồm type I và type
III, quá trình này đƣợc kiểm soát thông qua sự ảnh hƣởng của các cytokin nhƣ
TGF-beta, IL-1, và các sản phẩm giáng hóa trong sự tƣơng tác với nguyên
bào sợi [47],[62],[64]. Các collagen khoảng kẽ đƣợc tổng hợp bởi nguyên bào
sợi tạo ra các đa peptid procollagen đƣợc trùng hợp sau khi đƣợc tiết ra khỏi
tế bào. Các nguyên bào sợi còn sản xuất ra các sợi chun và các
glycosaminiglycan. Trong giai đoạn sớm của quá trình sửa chữa vết thƣơng,
acid hyaluronic chiếm ƣu thế ban đầu nhƣng sau dần đƣợc thay thế bởi các
glycosaminoglycan sulphat, decorin và versican. Sự thay đổi này tƣơng phản
với sự phát hiện rằng da bào thai khi bị thƣơng thì không tạo sẹo vấn đề đƣợc
cho là có liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ collagen type I:III thấp hơn dẫn đến đệm
có tính đàn hồi linh hoạt hơn và mức acid hyaluronic đƣợc nâng lên làm hạn
chế tối đa sự ức chế tiếp xúc giữa các nguyên bào sợi đang tăng sinh
[62],[69],[71].
Để chuyển tổ chức mô hạt thành sẹo ổn định, nguyên bào sợi tổng hợp
protein đệm cũng nhƣ các enzym metalloproteinase. Cả hai đều quan trọng
với quá trình tái lập mô và cung cấp sự cân bằng giữa tạo mô và hủy mô. Sự

10
điều tiết các hoạt động của chúng bị ảnh hƣởng bởi vi môi trƣờng vết thƣơng,
các nghiên cứu đều chỉ ra các nét biểu hiện tƣơng đồng trong các giai đoạn
liền vết thƣơng [69],[85].
Nhờ có đặc tính tăng sinh, tạo cấu trúc trung bì và liền vết thƣơng,
nguyên bào sợi là một trong dạng tế bào đƣợc ứng dụng phổ biến trong chế
tạo vật liệu thay thế trung bì, hỗ trợ trong nuôi cấy tế bào sừng để chế tạo tấm


Hình 1.1: Sự tăng sinh của nguyên bào sợi trong các giai đoạn khác nhau
của quá trình liền vết thương
*(Nguồn: Werner S et al (2003), Physiol. Re;83:835-870), [54].
A. 12-24 giờ sau bị thương, nguyên bào sợi quanh tổn thương được
kích hoạt.
B. Từ 3-7 ngày sau bị thương, nguyên bào sợi di cư và vùng tổn
thương, tăng sinh và tổng hợp đệm gian bào.
C. Từ 1-2 tuần sau bị thương, mô hạt hình thành, nguyên bào sợi
chuyển dạng thành myofibroblast gây co hẹp vết thương và tiết
collagen.
12
1.2. GHÉP TẾ BÀO ĐIỀU TRỊ VẾT THƢƠNG
Do có vai trò quan trọng quyết định trực tiếp tới quá trinh liền vết
thƣơng nên nguyên bào sợi và tế bào sừng cũng là những tế bào đƣợc nuôi
cấy để ghép trong điều trị vết thƣơng. Với mẩu da sinh thiết nhỏ, các tế bào
này đƣợc phân lập, tăng sinh nhân rộng số lƣợng và ghép trở lại vết thƣơng.
Có nhiều cách thức ghép các tế bào này để điều trị vết thƣơng từ đơn giản đến
phức tạp nhƣ: phun lên bề mặt vết thƣơng, tiêm vào mô vết thƣơng hoặc nuôi
cấy trên giá đỡ để tạo ra tấm tế bào. Trong đó, cách thức tạo ra các tấm tế bào
đƣợc báo cáo là có hiệu quả và ứng dụng rộng rãi hơn cả. Các tấm tế bào có
thể đƣợc gọi là vật liệu tƣơng đƣơng trung bì, tƣơng đƣơng biểu bì hoặc phối
hợp cả hai loại tế bào thành vật liệu tƣơng đƣơng da hai lớp [142],[143].
1.2.1. Vật liệu tƣơng đƣơng trung bì có tế bào
Vật liệu thay thế trung bì có tế bào là vật liệu dùng nguyên bào sợi để
tạo một cấu trúc tái sinh trên giá đỡ làm từ một số nguyên liệu khác nhau. Cấu
trúc này đƣợc cấy nguyên bào sợi để tổng hợp các protein và các thành phần

phủ bằng mô tự thân chỉ từ một lƣợng nhỏ mô hiến. Đây là một lý thuyết lý
tƣởng cho những bệnh nhân có diện tích bị thƣơng rộng, có ít hoặc không đủ
da để ghép. Nhƣợc điểm của Epicel là chi phí tƣơng đối cao, thời gian để
chuẩn bị dài, sự mỏng manh của lớp da do mô ghép biểu bì mỏng nên dễ bị
trày xƣớc [12],[72],[73].
* Laserskin. Laserskin là một dạng vật liệu ghép biểu bì tự thân có sử
dụng tế bào sừng tự thân từ bệnh nhân đƣợc nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.
Tế bào sừng sau đó đƣợc cấy trên màng có hyaluronic acid este hoá 100% đã
đƣợc đục lỗ nhỏ bằng laser. Trong một nghiên cứu sử dụng Laserskin trên
những vết loét bàn chân mạn tính do đái tháo đƣờng, các tác giả đã báo cáo 11
trong 14 trƣờng hợp vết loét liền hoàn toàn sau 64 ngày. Tuy nhiên, nghiên

14
cứu này sơ bộ, không có lô đối chứng hoặc vùng đối chứng và không có theo
dõi dài hạn. Một nghiên cứu quy mô đa trung tâm mang tính hồi cứu không
đối chứng đƣợc thực hiện bởi Uccioli tại Italy đã đánh giá hệ thống công nghệ
mô ghép tự thân bao gồm kết hợp giữa nuôi cấy nguyên bào sợi tự thân trong
môi trƣờng acid hyaluronic với Laserskin [42],[46],[75].
1.2.3. Vật liệu tƣơng đƣơng da hai lớp có tế bào
Vật liệu tƣơng đƣơng da hai lớp gồm biểu bì và trung bì là sản phẩm
mới và phức tạp nhất hiện nay về cấu trúc. Vật liệu đƣợc tạo ra bởi nuôi cấy
nguyên bào sợi và tế bào sừng trên nền là giá thể collagen và cơ chất
lycosaminoglycan…[42],[43],[44]. Các tế bào sắc tố cũng có thể có mặt trong
nuôi cấy, những báo cáo chỉ ra rằng những thay đổi về sắc tố da vùng ghép
vật liệu này cũng không ổn định và khó có thể đoán trƣớc. Vật liệu này có khả
năng tạo ra diện tích che phủ gấp 60 - 70 lần so với mẩu da sinh thiết ban đầu.
Mặc dù sản phẩm này chƣa phổ biến trên thị trƣờng nhƣng đây vẫn là tiến bộ
có ý nghĩa nhất trong kỹ thuật ghép da tự thân nuôi cấy.
Vật liệu tƣơng đƣơng da đồng loại là sản phẩm mới nhất và tiến bộ nhất
gần đây, chúng đang đƣợc lƣu hành trên thị trƣờng. Hai sản phẩm nguyên

chỉnh. Việc thay thế các tế bào này bằng các nguyên bào sợi hay tế bào sừng
nuôi cấy đã góp phần cải thiện tình trạng này nhƣng vẫn còn đó những hạn
chế nhƣ khả năng tăng sinh yếu khi lấy tế bào ở ngƣời có tuổi, hoặc khả năng
đào thải miễn dịch mạnh khi ghép đồng loài. Do đó, tế bào gốc và các vật liệu
hay thuốc điều trị vết thƣơng từ tế bào gốc đang đƣợc kỳ vọng trong thế kỷ 21
để giải quyết các vấn đề nan giải của điều trị vết thƣơng nhất là các vết
thƣơng diện tích rộng hay vết thƣơng mạn tính [94],[95].
16
1.3. TẾ BÀO GỐC, TIỀM NĂNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC
1.3.1. Tế bào gốc, đặc tính và phân loại tế bào gốc
Tế bào gốc là những tế bào chƣa có chức năng chuyên biệt, chúng có
tiềm năng phát triển thành nhiều loại tế bào khác nhau và có khả năng tự thay
mới. Đây là các tế bào còn chƣa hay rất ít biệt hoá nên chúng có khả năng biệt
hoá theo nhiều hƣớng và tạo ra nhiều loại tế bào khác nhau. Ngoài ra, chúng
cũng có khả năng tự sinh ra các tế bào giống hệt nó.
Thông thƣờng các tế bào phân chia theo phƣơng thức nhân đôi đối
xứng tạo ra hai tế bào giống hệt nhau về mức độ biệt hoá. Tế bào gốc không
chỉ có khả năng phân chia đối xứng mà còn có khả năng phân chia không đối
xứng thành hai tế bào khác nhau, trong đó một tế bào giữ nguyên mức độ biệt
hoá cũng nhƣ giữ nguyên vai trò là tế bào gốc và một tế bào thứ hai đã biệt
hoá hơn, chúng sẽ tiếp tục biệt hoá thành các tế bào tiền thân để sau đó phát
triển thành tế bào chuyên biệt tham gia vào cấu trúc và chức năng của mô, cơ
quan. Nhờ đó mà số lƣợng tế bào gốc đƣợc duy trì hoặc tăng lên chứ không
mất đi do quá trình biệt hoá tế bào. Nhờ những đặc điểm này mà TBG đã thu
hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu ứng dụng để chữa một số bệnh của cơ quan
tạo máu, một số bệnh di truyền bẩm sinh liên quan đến chuyển hoá và suy
giảm miễn dịch, ung thƣ máu, và có nhiều hứa hẹn dùng để chữa đƣợc nhiều

gốc phôi nhƣng hiện tại chƣa chứng minh đƣợc tính an toàn khi cấy ghép. 18

Hình 1.2: Các loại tế bào gốc theo nguồn gốc và thời điểm phân lập
Mỗi loại tế bào gốc có tiềm năng biệt hoá khác nhau và do vậy triển
vọng ứng dụng khác nhau. Việc phân lập và duy trì mỗi loại cũng đòi hỏi
những kỹ thuật và công nghệ khác nhau. Do đó, mỗi loại tế bào gốc đều có
những ƣu điểm và hạn chế nhất định. Việc lựa chọn loại tế bào gốc để nghiên
cứu quyết định bởi mục tiêu sử dụng [6],[17],[18],[19],[115].
Trên phƣơng diện Miễn dịch, cho dù các chế phẩm TBG có đƣợc chế
tạo hoàn hảo đến đâu, kỹ thuật cấy ghép có thuần thục đến mấy, nhƣng nếu
các tế bào đó là của ngƣời khác thì khi cấy ghép vào cơ thể ngƣời nhận có đặc
điểm di truyền khác với của các TBG ngƣời cho đều xảy ra quá trình nhận
diện và tấn công miễn dịch theo hƣớng cơ thể ngƣời nhận phát hiện và loại bỏ
tế bào ghép (đáp ứng thải ghép) hoặc các TBG đƣợc ghép vào tạo ra các tế
bào miễn dịch mới tấn công cơ thể ngƣời nhận (bệnh mô ghép chống túc chủ).

19
Mức độ khốc liệt của quá trình tấn công miễn dịch này tỷ lệ thuận với mức độ
khác biệt về di truyền giữa chủ nhân sinh học của các TBG và ngƣời đƣợc cấy
ghép TBG. Vì thế việc cấy ghép mô và tế bào nói chung, TBG nói riêng, luôn
mong muốn có đƣợc các tế bào có nguồn gốc từ chính cơ thể ngƣời nhận hoặc
ngƣời có đặc điểm di truyền giống với ngƣời nhận. Để đạt đƣợc điều này thì
cần phải lấy các TBG ra khỏi cơ thể (đặc biệt là lấy ngay từ khi còn trẻ và
chƣa bị bệnh) đem bảo quản trong những điều kiện đặc biệt, duy trì chúng là
các tế bào sống và không bị thay đổi theo thời gian bảo quản dƣới dạng ngân
hàng TBG. Các tế bào này khi cần có thể lấy ra để điều trị cho chính chủ nhân
sinh học của các TBG đó hoặc những ngƣời khác trong gia đình và cộng đồng

phôi hỗ trợ sinh sản. Nuôi cấy tế bào gốc dây rốn thực hiện tại Labo ứng dụng
và nghiên cứu điều trị bỏng, Viện Bỏng Quốc Gia, Bệnh viện Y học cổ truyền
Trung ƣơng từ cuối tháng 5/2005
Vào ngày 15/2/2009, Mekostem - Ngân hàng Tế bào gốc đầu tiên của
Việt Nam đƣơc khai trƣơng [14]
Ngày 18/12/2009 hội thảo “Chia sẻ thông tin và kinh nghiệm nghiên
cứu tế bào gốc” tại Hà Nội do Bộ Khoa học công nghệ phối hợp với ban điều
phối nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp nhà nƣớc về “Xây dựng hệ thống
ngân hàng tế bào gốc và ứng dụng trong y sinh học” đã có một số nghiên cứu
nhƣ sau:
Nghiên cứu biệt hóa tế bào gốc – Trung tâm công nghệ sinh học TP. Hồ
Chí Minh.
Nghiên cứu biệt hóa tế bào gốc thần kinh, máu, mắt, răng…- Phòng thí
nghiệm tế bào gốc – Đại học khoa học tự nhiên, TPHCM [20]
Biệt hóa tế bào gốc màng dây rốn thành tế bào gan – BV Nhi Trung
Ƣơng [20].

21
Nghiên cứu biệt hóa tế bào gốc máu cuống rốn ngƣời thành nguyên bào
xƣơng, tế bào sừng, tạo tấm tế bào sừng, tạo tấm tế bào rìa giác mạc ứng dụng
điều trị - Bộ Môn di truyền – Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, TPHCM [20].
“Điều trị thử nghiệm tế bào gốc tự thân từ tủy xƣơng cho bệnh nhân suy
tim nặng sau nhồi máu cơ tim” thấy triệu chứng lâm sang sau 1 năm cải thiện
phân số tống máu trên siêu âm tim, EF tăng trung bình 9%, cải thiện EF trên
buồng tim trung bình 15% - Viện Tim mạch – BV 108 – Tháng 12/2008 [20].
“Ứng dụng tế bào gốc điều trị bệnh lý bề mặt nhãn cầu” – Ghép tế bào
gốc tự thân điều trị nhãn cầu tổn thƣơng thấy bề mặt nhãn cầu ổn định, thị lực
đƣợc cải thiện – Bv Mắt TPHCM [20].
“Đánh giá hiệu quả ghép tế bào gốc trung mô màng dây rốn trong điều
trị vết thƣơng bỏng nhiệt thực nghiệm” – Viện Bỏng Quốc Gia [20].

Hình 1.6: Khả năng ứng dụng trị liệu của tế bào gốc mỡ

24
1.3.4. Biệt hóa tế bào gốc thành các tế bào da dùng trong điều trị vết thương
Tuỷ xƣơng, máu ngoại vi, máu cuống rốn đều đã đƣợc sử dụng điều trị
vết thƣơng mãn tính để thúc đẩy các đáp ứng liền vết thƣơng. Tuy viễn cảnh
mang lại nhiều hứa hẹn nhƣng kết quả nghiên cứu hiện nay còn hạn chế và
cách thức sử dụng kết hợp mô có nguồn gốc từ tế bào gốc vẫn còn chƣa đƣợc
khẳng định một cách chắc chắn [30],[37]. Các mô hình nghiên cứu ứng dụng
tế bào gốc vẫn mong muốn biệt hóa chúng thành các tế bào chức năng trƣớc
khi ghép trở lại cơ thể.
Để sử dụng tế bào gốc trong ghép da và công nghệ mô, cần phát triển
quy trình nuôi cấy có hiệu quả và ổn định để định hƣớng tế bào gốc thành
dòng tế bào da in vitro. Điều này sẽ làm giảm sự biệt hóa tự phát của tế bào gốc
thành các dòng không mong muốn ở tại vùng đƣợc ghép [121],[122],[126].
Ghép tế bào gốc mà đã đƣợc biệt hóa thành tế bào sừng sẽ dẫn đến hiệu quả
ghép tốt hơn và có sự tích hợp tốt hơn trên bề mặt da vốn đã bị hủy hoại. Hơn
nữa, hầu hết các tiến bộ trong lĩnh vực công nghệ mô đều cần có các tế bào sừng
biệt hóa hoặc là các tế bào đầu dòng của tế bào sừng hơn là các tế bào gốc chƣa
biệt hóa để có thể cấy và tế bào bám dính đƣợc vào các loại đệm tổng hợp nhân
tạo [101],[102].
1.3.4.1. Biệt hóa tế bào gốc trung mô thành nguyên bào sợi
Tế bào gốc trung mô sở hữu khả năng tự đổi mới và biệt hóa thành
nhiều loại tế bào khác nhau và có mặt trong nhiều nguồn mô cung cấp sẵn có.
Chúng tồn tại chủ yếu trong tủy xƣơng, máu cuống rốn, dây rốn, mô liên kết
của cơ thể và ở các khoảng kẽ của nhiều cơ quan [57],[60],[62]. Các tế bào
này có thể đƣợc nuôi cấy và nhân lên in vitro và dƣới các điều kiện thích hợp
chúng có thể bị cảm ứng biệt hóa thành các tế bào xƣơng, sụn, cơ và mỡ. Hơn
nữa, tế bào gốc trung mô đƣợc coi là dạng tế bào quan trọng cho công nghệ
mô [68],[70].

Trích đoạn Nguồn lấy tế bào gốc dây rốn Kết quả phân tích bằng flowcytometry mức độ biểu hiện Hoạt độ enzym GOT, GPT huyết thanh Diện tích vùng biểu mô hóa sau khi liền Tần xuất xuất hiện vi khuẩn qua các thời điểm nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status