tăng cường thu hút và sử dụng vốn oda của ngân hàng thế giới (wb) trong lĩnh vực giao thông vận tải ở việt nam đến năm 2020. - Pdf 24

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng khẳng định
được vị thế của mình trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội
tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt
Nam. Nước ta đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thực hiện chính sách
đổi mới, mở cửa thị trường từ năm 1986, cho đến nay đã thu được một số
thành tựu hết sức to lớn, tạo tiền đề chắc chắn để đưa nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Và để có được
những kết quả này, một phần không nhỏ đó là sự đóng góp của nguồn vốn
ODA từ các tổ chức tài chính quốc tế, các chính phủ viện trợ cho Việt Nam.
Dù cho chúng nằm dưới dạng vốn vay ưu đãi hoặc viện trợ không hoàn lại thì
cũng hết sức hữu ích đối với công cuộc phát triển kinh tế của nước ta.
Trong những năm qua, Việt Nam nhận được một khối lượng lớn vốn
ODA từ rất nhiều nguồn tài trợ, trong đó có nguồn vốn ODA từ Ngân hàng
Thế giới (WB) vào lĩnh vực giao thông của Việt Nam. Chúng ta dã gặt hái
được rất nhiều những thành tựu tích cực nhờ sử dụng nguồn vốn này để xây
dựng và phát triển ngành giao thông bằng nhiều dự án, chương trình khác
nhau. Hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy đã có
những chuyển biến tích cực, ngày càng đáp ứng đầy đủ yêu cầu chung của xã
hội. Tuy nhiên, công tác thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn này còn bộc lộ
rất nhiều hạn chế đáng phải quan tâm, đặt ra câu hỏi là làm như thế nào để thực
hiện tốt công tác này, nhất là sau khi Việt Nam đạt mức thu nhập trung bình thì
nguồn vốn này đang có xu hướng giảm. Vì những lý do trên, em đã quyết định
chọn đề tài có tên là “ Tăng cường thu hút và sử dụng vốn ODA của Ngân
1
hàng Thế giới (WB) trong lĩnh vực giao thông vận tải ở Việt Nam đến năm
2020” làm chuyên đề thực tập.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đề tài tìm hiểu về thực trạng thu hút và sử dụng ODA từ WB trong lĩnh
vực giao thông của Việt Nam trong những năm qua. Qua đó giúp đánh giá

Quốc tế, đặc biệt là từ thầy Đỗ Đức Bình để em tiếp tục hoàn thiện chuyên đề
thực tập của mình và nâng cao sự hiểu biết.
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Tình hình tai nạn giao thông ở nước ta (trang 12)
Bảng 2: Tình hình ký kết hiệp định giữa Việt Nam và WB giai đoạn
2008 – 2011 theo ngành, lĩnh vực (trang 19)
Bảng 3: Tốc độ giải ngân vốn ODA các năm (trang 24)
4
BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. WBG hoặc WB : World Bank Group
Nhóm Ngân hàng Thế giới
2. ADB: Asian Development Bank
Ngân hàng Phát triển Châu Á
3. ODA: Official Development Aid
Hỗ trợ Phát triển Chính thức
4.IBRD: The International Bank for Reconstruction and Development
Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển
5.IDA: International Development Association
Hiệp hội phát triển quốc tế
6.IFC: International Finance Corporation
Công ty tài chính quốc tế
7.ICSID: International Center for Settlement of Investment Disputes
Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư
8.MIGA: Multilateral Investment Guarantee Agency
Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương
9.FDI: Foreign Director Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
10. CPS: Country Partnership Strategy
Chiến lược hợp tác quốc gia

25. CV: Cheval
Mã lực
26. AEF: Aid Effectiveness Forum
Diễn đàn hiệu quả viện trợ
27. PPP: Public - Private Partner
Hợp tác Công - Tư
7
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NHÓM NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB)
VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN ODA CỦA WB ĐỐI VỚI LĨNH VỰC HẠ
TẦNG GIAO THÔNG CỦA VIỆT NAM
1.1. Sơ lược chung về nhóm ngân hàng thế giới (WB) : chức năng và
nhiệm vụ
1.1.1. Giới thiệu chung
Nhóm Ngân hàng Thế giới (tiếng Anh: World Bank Group, thường được
gọi tắt là Ngân hàng Thế giới và được viết tắt là WB) là một tổ chức tài chính
đa phương có mục đích trung tâm là thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội ở các
nước đang phát triển bằng cách nâng cao năng suất lao động ở các nước này.
Nhóm Ngân hàng Thế giới bao gồm năm tổ chức tài chính thành viên,
đó là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, Hội Phát triển Quốc tế, Công
ty Tài chính Quốc tế, Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư, và Cơ
quan Đảm bảo Đa phương.
 Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD): được chính thức
thành lập ngày 27/12/1945 với trách nhiệm chính là cấp tài chính cho
các nước Tây Âu để họ tái thiết kinh tế sau Chiến tranh thế giới II và sau
này là cho phát triển kinh tế ở các nước nghèo. Sau khi các nước này
khôi phục được nền kinh tế, IBRD cấp tài chính cho các nước đang phát
triển không nghèo.
 Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA): được thành lập năm 1960 chuyên cấp
tài chính cho các nước nghèo.
 Công ty Tài chính Quốc tế (IFC): thành lập năm 1956 chuyên thúc đẩy

9
IFC cho các dự án tư nhân ở các nước đang phát triển vay theo giá thị
trường nhưng là vay dài hạn hoặc cấp vốn cho họ. Sự tham gia của IFC như
một sự bảo đảm đối với các nhà đầu tư khác quan tâm tới dự án và khuyến
khích họ đầu tư vào dự án.
MIGA cung cấp những bảo đảm trước các rủi ro chính trị (rủi ro phi
thương mại) để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư trực tiếp vào các
nước đang phát triển.
Cùng vói các liên minh thành lập giữa các năm 1956 và 1988, IBRD là
một phần của nhóm Ngân hàng thế giới. Trụ sở đặt tại Washington, D.C. Nó là
một tổ chức quốc tế do các chính phủ thành viên nắm giữ. Mực dù nó đem lại
lợi nhuận nhưng lợi nhuận của nó được tái sử dụng để góp phần vào nỗ lực xóa
đói giảm nghèo.
Về mặt kỹ thuật mà nói thì WB là một phần của hệ thống Liên Hợp
Quốc, nhưng cơ cấu về nước thành viên thì lại khác, mỗi chi nhánh của Nhóm
ngân hàng thế giới nằm dưới sự quản lý của chính phủ đó được đại diện bởi
phần góp vốn và tỷ lệ phiếu bầu tương ứng. Thành viên có quyền bỏ phiếu như
các quốc gia khác nhưng có thể có thêm số phiếu tùy thuộc vào đóng góp tài
chính vào tổ chức
Kết quả là, Ngân hàng thế giới được hoạt động chủ yếu bởi các quốc gia
phát triển, trong khi khách hàng hầu hết là các quốc gia đang phát triển. Một
vài ý kiến ghi nhận rằng cơ cấu chính phủ ấy đã làm lợi phần lớn cho các quốc
gia phát triển. Ví dụ vào 1/11/2006 Mỹ giữ 16,4% tổng số phiếu; Nhật:7,9%;
Đức:4,5% và Anh, Pháp mỗi bên giữ 4,3%. Và kết quả chỉ được thông qua khi
đạt được 85% trên tổng số phiếu.
Như thế chứng tỏ Mỹ có thể khống chế được hầu hết chính sách hay
thay đổi của WB.
1.1.3. Nguồn vốn ODA của WB tại Việt Nam
10
Kể từ khi nối lại quan hệ tín dụng với WB vào 10/1993, WB cung cấp 3

tài chính, kỹ thuật và điều phối viện trợ giữa các nhà tài trợ. Nhờ đó, vốn viện
trợ được sử dụng hiệu quả hơn phục vụ cho công cuộc cải cách kinh tế của
Việt Nam. WB đã tái khẳng định cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt nam theo Chiến
lược Hợp tác Quốc gia (CPS) cho Việt nam trong thời kỳ 4 năm tới, từ 2010 -
2015.
Tóm lại, các hỗ trợ dưới hình thức cho vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật và tư
vấn của IDA cho Việt nam chiếm vai trò chủ đạo trong mối quan hệ giữa Việt
nam với nhóm WB. Đặc biệt, bên cạnh hỗ trợ về tài chính, Chính phủ Việt nam
đánh giá cao vai trò tư vấn về chính sách để thực hiện thành công Chương trình
Tín dụng Điều chỉnh Cơ cấu (SAC I), các Chương trình Tín dụng Hỗ trợ Giảm
nghèo (PRSC ) và các Chương trình Hỗ trợ theo ngành. Với vai trò đồng chủ
tọa Hội nghị CG hàng năm, WB đã làm tốt vai trò điều phối và kêu gọi tài trợ
trực tiếp để hỗ trợ Việt nam phát triển kinh tế, qua đó tăng uy tín của Việt nam
trong cộng đồng tài chính quốc tế, góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt nam. Điều này thể hiện qua việc đồng tổ chức thành công Hội nghị
CG năm 2010 với mức cam kết hơn 7,88 tỉ USD cho Việt nam trong năm
2011.
1.2. Sự cần thiết của việc thu hút ODA của WB vào lĩnh vực giao thông
tại Việt Nam
12
1.2.1. Tình hình giao thông tại Việt Nam hiện nay
Hạ tầng giao thông phát triển là điều kiện tiền đề quan trọng để thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội. Một hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ,
hiện đại sẽ tạo không gian phát triển kết nối giữa các vùng để biến các lợi thế
so sánh của từng vùng thành lợi thế cạnh tranh. Kinh tế ngày càng phát triển,
quá trình đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ, nhu cầu phát triển hệ thống hạ tầng
giao thông ngày càng cao.
Do hạ tầng giao thông hiện tại nhìn chung vẫn còn thấp kém nên đã gây
ra nhiều xung đột, tai nạn hàng ngày gây thiệt hại đối với người và tài sản. Vì
vậy, nhu cầu cấp bách phải nâng cấp, xây dựng mới hệ thống giao thông là một

Mặc dù, đầu tư cơ sở hạ tầng, giao thông ở Việt Nam những năm gần
đây là rất lớn, nhưng chất lượng còn thấp, dàn trải và xảy ra lãng phí lớn. Thể
hiện ở chỉ số ICOR các năm gần đây tương đối cao, trung bình khoảng 5,1 cao
hơn các nước trong khu vực.
Số lượng phương tiện vận tải tăng nhanh nhưng đi kèm là chất lượng
giao thông phát triển không tương xứng, lệch lạc. Hệ thống giao thông phát
triển thiếu đồng bộ; chưa kết nối được các loại phương tiện nên không có khả
năng phát triển vận tải đa phương thức. Chất lượng đường giao thông nông
thôn thấp. giao thông vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.
Thêm vào đó, chất lượng của nhiều tuyến đường hiện nay đang bị xuống
cấp nghiêm trọng, do công tác quản lý và đầu tư còn lỏng lẻo, cũng là một
14
nguyên nhân dẫn đến tình hình tai nạn đang diễn biến hết sức phức tạp như
hiện nay. Đây có lẽ là một hồi chuông đáng báo động đối với các cơ quan chức
năng nói riêng và xã hội nói chung. (Bảng 1)
Bảng 1: tình hình tai nạn giao thông ở nước ta
Nguồn: Bộ Giao thông Vận tải
Nhìn vào bảng trên, ta thấy, số vụ tai nạn giao thông trong vài năm trở
lại đây có chiều hướng giảm. Từ 12800 vụ trong 2008 xuống còn 12235 vụ
trong năm 2011. Điều này có được bởi công tác tăng cường phổ biến luật giao
thông, sự tăng cường quản lý của các cơ quan chức năng và sự nâng cao nhận
thức của người tham gia giao thông đã giúp cho một bộ phận dân chúng có
trách nhiệm hơn khi tham gia giao thông. Ngoài ra, do chất lượng đầu tư hạ
tầng giao thông, đường sá được cải thiện, giúp cho số vụ tai nạn giảm mạnh
trong năm 2011.
15
Hơn nữa, số người chết vì tai nạn giao thông cũng giảm từ 11600 người
trong năm 2008 xuống còn 10229 người trong năm 2011. Nhưng lại tăng số
người bị thương. Điều này đã phản ánh việc nhận thức của người tham gia giao
thông là chưa đầy đủ, vẫn còn nhiều hạn chế và chất lượng của ngành giao

Nhà nước tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng đường bộ và đường sắt
cao tốc Bắc – Nam, một số cảng biển và cảng hàng không đạt đẳng cấp quốc
tế, hạ tầng đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Bằng mọi hình thức
đầu tư, khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư
nước ngoài tham gia phát triển kết cấu hạ tầng. Từng bước hình thành đồng bộ
trục giao thông Bắc – Nam, các hành lang Đông – Tây đảm bảo liên kết các
phương thức vận tải; xây dựng các tuyến đường bộ đối ngoại đạt tiêu chuẩn kỹ
thuật quốc tế.
Để giải quyết những vấn đề có tầm chiến lược, vĩ mô như đã nêu, Chính
phủ chỉ đạo xây dựng một đề án tổng thể phát triển kết cấu hạ tầng báo cáo Bộ
Chính trị, Trung ương Đảng xin ý kiến chỉ đạo. Đề án phát triển kết cấu hạ
tầng là cơ sở để đưa ra những chủ trương, giải pháp, chính sách lớn làm căn cứ
xây dựng và hoàn thiện các chiến lược (quy hoạch) phát triển các phân ngành
kết cấu hạ tầng trong một thể chế thống nhất hướng tới thực hiện thành công
mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2.2. Vai trò của vốn ODA của WB đối với lĩnh vực giao thông của Việt
Nam
Nâng cao chất lượng hệ thống giao thông ở Việt Nam, đặc biệt là giao
thông đô thị, góp phần thực hiện quy hoạch đã được phê duyệt luôn là một yêu
17
cầu cấp bách trong bối cảnh hiện nay ở nước ta. Điều này, ngoài việc phải có
chiến lược cụ thể trong từng giai đoạn phát triển, còn đòi hỏi phải có một
nguồn vốn đủ lớn để xây dựng, cải tạo cũng như nâng cao chất lượng hệ thống
giao thông của Việt Nam.
Tuy nhiên, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, địa phương còn khá eo
hẹp, thâm hụt ngân sách đang cao, rất khó để đáp ứng được toàn bộ yêu cầu về
cơ sở hạ tầng giao thông. Trong khi đó, có rất nhiều các quốc gia, các tổ chức
quốc tế trên thế giới, với khả năng tài chính dồi dào của mình, sẵn sang cung
cấp ODA cho các nước đang phát triển trên thế giới. Một trong những nhà tài
trợ đó chính là WB, một tổ chức quốc tế có quan hệ hết sức chặt chẽ với Việt

giao thông ở nước ta đã có rất nhiều tiến bộ, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, tạo
tiền đề vững chắc để Việt Nam có thể thực hiện được những mục tiêu phát
triển, mà gần đây nhất là chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-
2020.
Thêm vào đó, công tác giám sát, giải ngân nguồn vốn này ở Việt Nam
đang ngày càng được nâng cao do mối quan hệ giữa nước ta và WB ngày một
chặt chẽ hơn. Đó cũng là một trong những ưu điểm của việc sử dụng vốn ODA
của WB.
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới vẫn chưa thoát ra khỏi khủng hoảng,
thất nghiệp cao, lạm phát gia tăng ở nhiều nước trên thế giới … nhưng số vốn
cam kết mà WB dành cho Việt Nam những năm gần đây vẫn rất cao và có xu
hướng gia tăng. Vì vậy, việc tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn
19
vốn này là một yêu cầu rất bức thiết hiện nay mà Việt Nam phải nghiên cứu
thực hiện.
20
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA
CỦA WB TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG CỦA VIỆT NAM
2.1. Thực trạng tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA từ WB trong lĩnh
vực giao thông của Việt Nam trong những năm qua
2.1.1. Tình hình hợp tác giữa Việt Nam và WB trong những năm qua
Nhờ những thành tựu phát triển và cải cách, Việt Nam đang từng bước
trở thành nước nhận vốn vay/viện trợ lớn nhất của WB. Nguồn vốn IDA cho
Việt Nam kể từ 1993 tới nay liên tục tăng, trong 2 năm tới IDA cho Việt Nam
dự kiến sẽ tăng mạnh, năm 2007 khoảng 849,4 triệu USD, 2008 có thể đạt
1.068 triệu USD tuỳ thuộc vào tình hình tiếp nhận và thực hiện nguồn vốn IDA
của phía Việt Nam. Vừa qua Chủ tịch WB đã chính thức tuyên bố Việt Nam đủ
điều kiện tiếp nhận nguồn IBRD, điều này khẳng định sự hợp tác ngày càng
tăng cường giữa WB và Việt Nam.
Hiện nay có 36 dự án vốn vay IDA với tổng trị giá 3.850,6 triệu $ đang

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Theo đó, số vốn ký kết giai đoạn 2008 – 2011 đạt khoảng 23 tỷ USD tập
trung chủ yếu vào lĩnh vực giao thông vận tải, chiếm tới 53,44% tổng số vốn;
kế đến là năng lượng (24,03%), nông nghiệp 6,81% Điều này cho thấy lĩnh
vực giao thông vận tải vẫn được chính phủ ưu tiên và tạo điều kiện rất nhiều,
không chỉ bởi nó đòi hỏi số vốn lớn và còn bởi vì tầm quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong thời gian tới. Tuy nhiên, tỷ
trọng trong lĩnh vực nông nghiệp còn thấp, cần được tăng cường hợp tác hơn
nữa trong những năm tới.
22
Về tiến độ giải ngân, mặc dù một số dự án đã có những cải thiện nhưng
nhìn chung tỷ lệ giải ngân còn thấp so với với khu vực. Tính trong tổng số hơn
6 tỷ USD tổng cam kết tài trợ của WB từ trước tới nay, Việt Nam hiện mới chỉ
giải ngân được hơn 3 tỷ USD.
Về hiệu quả thực hiện, theo đánh giá của WB, các dự án thực hiện nhìn
chung có hiệu quả. Năm 2004 Việt Nam được đánh giá là 1/3 nước đứng đầu
về hiệu quả thực hiện dự án, đặc biệt khi xét tới những tác động đem lại của dự
án tới giảm nghèo, cải cách chính sách và thể chế. Sự hỗ trợ của WB cho Việt
Nam đã mang lại những hiệu quả rất tích cực, một số dự án sử dụng vốn vay
IDA sau khi hoàn thành đã bắt đầu phát huy hiệu quả như dự án Phục hồi và
phát triển ngành điện, dự án phục hồi Quốc lộ 1 đoạn Hà Nội – Vinh và TP.
HCM- Cần Thơ, Hiện đại hoá hệ thống thanh toán Ngân hàng, Chương trình
tín dụng giảm nghèo (PRSC),
Về hoạt động hỗ trợ của WB trong giai đoạn 2007 – 2010, Chiến lược
hỗ trợ quốc gia (CAS) đã được chuyển thành Chiến lược đối tác quốc gia giai
đoạn 2007-2011 (CPS 2007-2011) thể hiện sự hướng tới một tầm cao mới
trong quan hệ hợp tác giữa WB và Việt Nam. Nội dung của Chiến lược nhìn
chung gắn kết chặt chẽ với Kế hoạch phát triển Kinh tế – xã hội 2006-2010 với
mục tiêu hỗ trợ Chính phủ thực hiện thành công các mục tiêu phát triển của
mình, đã đưa Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình vào năm

triệu USD đó là dự án giao thông đô thị Hải Phòng (2011), dự án Phát triển
giao thông vận tải đồng bằng Bắc Bộ (2008), dự án đường cao tốc từ TP Đà
24
Nẵng - TP Tam Kỳ, Hiệp định tài chính bổ sung cho dự án giao thông nông
thôn III, dự án Đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi … đưa tổng vốn ODA
ký kết trong tất cả các lĩnh vực trong giai đoạn này đạt khoảng trên 23 tỷ USD,
trong đó cao nhất năm 2011 ở mức 7,5 tỷ USD.
Các hiệp định và dự án có giá trị lớn được ký kết giữa Việt Nam và WB
chẳng hạn như Dự án Đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi có trị giá 414
triệu USD, dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn bền vững các tỉnh vùng
núi phía Bắc trị giá 108 triệu USD, dự án quản lý thủy lợi phục vụ phát triển
nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long trị giá 160 triệu USD, dự án đường
cao tốc từ TP Đà Nẵng - TP Tam Kỳ với trị giá khoản vay 331 triệu USD, Dự
án Đầu tư Cơ sở hạ tầng ưu tiên thành phố Đà Nẵng (152 triệu USD), Dự án
Tài chính Nông thôn giai đoạn III (200 triệu USD), Dự án Phát triển Giao
thông vận tải Đồng bằng Bắc bộ (170 triệu USD) Hiệp định vay cho dự án Xây
dựng đường giao thông các tỉnh miền núi phía Bắc có giá trị khoảng 100 triệu
USD…
Mặc dù nguồn vốn ODA trên thế giới có dấu hiệu giảm sút do nền kinh
tế của một số nước thành viên của OECD – DAC gặp khó khăn do tình trạng
nợ công cao (châu Âu, châu Mỹ) , thiên tai nặng nề (Nhật Bản) trong khi nhu
cầu vốn ODA để hỗ trợ các quốc gia đang phát triển chẳng hạn Việt Nam ngày
càng tăng, nhưng chính phủ Việt Nam đã đạt được một số thành công trong
việc vận động, thu hút nguồn vốn này từ các nhà tài trợ, trong đó có WB. So
với chỉ tiêu đề ra trong Đề án định hướng thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) thời kỳ 2006-2010 và Quyết định số 290/2006/QĐ-
TTg (19-21 tỷ USD ODA cam kết) thì đã đạt và vượt cận dưới. Đây là một
bước đệm để chuẩn bị cho những mục tiêu phát triển trong tương lai.
2.1.3. Tình hình giải ngân
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status