BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG PHÁP TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
DẦU KHÍ TOÀN CẦU
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Hải Tùng
Mã sinh viên
: A16244
Chuyên nghành
: Tài Chính –Ngân Hàng
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tại trường Đại học Thăng Long cũng như trong suốt thời
gian thực tập tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn cầu chi nhánh Thăng
Long, em đã học hỏi được nhiều kiến thức cơ bản và những kinh nghiệm bổ ích cho
bản thân mình, đó chính là nền tảng vững chắc để em bước vào công việc thực tế một
cách tốt đẹp.
Để hoàn thành bài luận văn này, trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn đến Ban
Giám Hiệu nhà trường và cùng toàn thể các Thầy Cô trường Đại học Thăng Long, đặc
biệt là các Thầy Cô trong khoa Kinh tế Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá
trình học tập.
Bên cạnh đó, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Đốc Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long cùng các anh chị
1.1.1. Khái niệm 1
1.1.2. Phân loại thư tín dụng 2
1.1.3. Các bên có liên quan trong phương thức tín dụng chứng từ 7
1.1.4. Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 8
1.1.5. Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ 9
1.2.
Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ 11
1.2.1. Khái niệm 11
1.2.2. Các loại rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ 11
1.2.3. Biểu hiện của rủi ro thanh toán thư tín dụng 17
1.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng
từ 18
1.2.5. Ý nghĩa của việc hạn chế rủi ro tín dụng chứng từ 19
1.2.6. Các nguyên nhân gây ra rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức
tín dụng chứng từ 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN DẦU KHÍ TOÀN CẦU CHI
NHÁNH THĂNG LONG 23
2.1.
Tổng quan về Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu 23
2.1.1. Những nét chính về Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu
23
2.1.2. Các thành tựu đạt được 25
2.1.3. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban 25
2.2.
Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC
TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN DẦU KHÍ TOÀN CẦU
TẠI CHI NHÁNH THĂNG LONG 59
3.1.
Định hướng và triển vọng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 59
3.2.
Định hướng chung 59
3.3.
Định hướng phát triển thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi
nhánh Thăng Long 60
3.4.
Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu
chi nhánh Thăng Long 61
3.4.1. Xây dựng đội ngũ cán bộ tại ngân hàng có trình độ chuyên môn và đạo đức
nghề nghiệp 61
3.4.2. Phòng ngừa rủi ro hối đoái 63
3.4.3. Phòng ngừa rủi ro đạo đức 63
3.4.4. Tăng cường hợp tác quốc tế trong thanh toán quốc tế 64
3.4.5. Phòng ngừa rủi ro về kinh tế, chính trị, pháp lý 65
3.4.6. Thành lập quỹ dư phòng rủi ro cho hoạt động thanh toán quốc tế 65
3.5.
Một số kiến nghị 66
3.5.1. Kiến nghị đối với chính phủ 66
3.5.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67
KẾT LUẬN 68
Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ
MỘT SỐ MẪU ĐIỆN SWIFT TRONG NGHIỆP VỤ THƯ TÍN DỤNG L/C
Ngân hàng đã
Ngân hàng
Nội dung nghiệp vụ
trao đổi khóa
chưa trao đổi
SWIFT
khóa SWIFT
1. Mở L/C
MT 700/701
0
2. Tu chỉnh L/C, hủy L/C
MT 707
0
3. Thông báo từ chối chứng từ có sai biệt
MT 734
MT 999
4. Các nội dung khác liên quan tới L/C
MT 799
MT 999
5. Thông báo sai biệt
MT 750
MT 999
(Nguồn: Giáo trình thanh toán quốc tế của ThS. Thân Tôn Trọng Tín)
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1. So sánh giữa thư tín dụng thương mại và thư tín dụng dự phòng 7
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của GP.Bank chi nhánh Thăng Long 26
Bảng 2.1. Hoạt động huy động vốn giai đoạn 2011 – 2013 30
này ma phương thức tín dụng chứng từ được ưa chuộng hơn. Ước tính có khoảng 80%
các hợp đồng ngoại thương thỏa thuận phương thức thanh toán bằng tín dụng thư
không hủy ngang.
Bản thân phương thức thanh toán tín dụng đã tỏ ra ưu việt, song nó không phải là
phương thức thanh toán tránh được rủi ro cho các bên tham gia một cách tuyệt đối.
Thực tế cho thấy, các bên tham gia của Việt Nam bước vào thị trường thế giới đa phần
là mới lạ, kinh nghiệm còn non trẻ. Trong điều kiện đú, các ngân hàng và các doanh
nghiệp đã gặp nhiều khó khăn khi phát sinh những rủi ro trong thanh toán bằng
phương thức tín dụng chứng từ, có trường hợp bị thiệt hại lên đến cả triệu đụla. Do
vậy, việc hoàn thiện và phát triển công tác thanh toán quốc tế, cụ thể là nghiên cứu và
phòng chống rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ là một trong những mối quan
tâm thường xuyên của mỗi ngân hàng.
Chỉ trong vài năm đi vào hoạt động, Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí
Toàn Cầu Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long đã triển khai và thực hiện tốt các nghiệp
vụ thanh toán quốc tế nói chung và nghiệp vụ tín dụng chứng từ nói riêng, song việc
hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ này còn gặp không ít khó khăn. Vì thế, trong thời
gian thực tập tại ngân hàng, dựa trên kiến thức đã học và qua nghiên cứu tài liệu, em
đã lựa chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu Toàn Cầu
chi nhánh Thăng Long”.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là đưa ra một cái nhìn về rủi ro trong thanh toán
quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu
khí Toàn cầu chi nhánh Thăng Long và đề xuất một số giải pháp để nhằm hạn chế và
phòng ngừa những rủi ro đó xảy ra.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu các rủi ro trong phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ và đưa ra
một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro khi sử dụng phương thức này tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long từ giai đoạn 1/1/2011
đến 31/12/2013
toán tín dụng chứng từ được định nghĩa như sau:
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một
ngân hàng- ngân hàng mở thư tín dụng hành động theo yêu cầu và chỉ thị của khách
hàng (người xin mở):
Thanh toán tiền theo lệnh của một người thứ ba (người hưởng lợi) hoặc phải
chấp nhận và trả tiền cho các hối phiếu do người hưởng lợi ký phát.
Ủy quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận trả tiền
các hối phiếu đó.
Ủy quyền cho một ngân hàng khác đến chiết khấu khi các chứng từ quy định
được xuất trình phù hợp với các điều khoản, điều lệ của thư tín dụng.
Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được áp dụng
trong nội thương và ngoại thương: Trong ngoại thương, theo yêu cầu của nhà NK,
ngân hàng phát hành một thư tín dụng cho nhà XK. Nội dung chủ yếu của thư tín dụng
là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ trả tiền cho nhà XK, khi nhà XK tuân
thủ theo những điều kiện quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để
được thanh toán.
Thuật ngữ “Tín dụng –Credit” ở đây được dùng theo định nghĩa rộng, nghĩa là
“Tín nhiệm” chứ không để chỉ “Một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường. Điều
này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người NK ký quỹ 100% giá trị L/C thì thực
chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào, mà chỉ cho người NK vay
sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong trường hợp người NK không hề ký quỹ, thì một
khoản tín dụng thực sự chỉ xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho
nhà XK và ghi nợ nhà NK. Như vậy, thuật ngữ “Tín dụng” trong phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ chỉ thể hiện khoản “Tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền
1
của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà NK, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn
nhà NK.
Qua phân tích cho thấy trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ngân
hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ mà còn:
Là người đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng cho nhà NK, đảm bảo cho
2
ngân hàng phát hành L/C hoặc họ lo lắng về tình hình an ninh chính trị của nước người
nhập khẩu. Khi ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người hưởng theo đúng quy
định của L/C nó có quyền truy đòi số tiền thanh toán từ ngân hàng phát hành. Để đảm
bảo an toàn, ngân hàng xác nhận có thể yêu cầu ngân hàng phát hành ký quỹ theo một
tỷ lệ nhất định. Ngược lại, để đảm bảo quyền lợi của mình, ngân hàng phát hành sẽ
thoả thuận với khách hàng để chọn ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu
làm ngân hàng xác nhận, tránh những rủi ro về vốn ký quỹ tại ngân hàng xác nhận.
L/C này, người hưởng lợi được đảm bảo chắc chắn của ngân hàng xác nhận, cộng
thêm vào sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C, người hưởng lợi sẽ được ngân
hàng các nhận thanh toán miễn truy đòi nếu xuất trình chứng từ phù hợp, ngay cả trong
trường hợp ngân hàng phát hành không thanh toán được, người thụ hưởng cũng tránh
được cả những rủi ro về ngoại hối hay rủi ro quốc gia khác của ngân hàng phát hành
L/C.
L/C trả ngay (Sight Payment Credits): là loại L/C không thể huỷ ngang và phải
thanh toán ngay khi hối phiếu được xuất trình. Rủi ro trong loại L/C này là thường
phải thanh toán trước khi nhận hàng, vì hối phiếu và chứng từ thường đến trước hàng
hoá cập cảng.
L/C trả chậm (L/C available by deffered Payment): là loại L/C trong đó ngân
hàng phát hành cam kết thanh toán cho người hưởng lợi số tiền của L/C một số ngày
sau khi bộ chứng từ hoàn hảo được xuất trình hoặc sau ngày giao hàng.
Loại L/C này có 2 dạng:
L/C có kỳ hạn: là loại L/C không huỷ ngang trong đó ngân hàng phát hành
sẽ chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn do người hưởng lợi ký phát khi họ xuất
trình được bộ chứng từ hoàn hảo. Những hối phiếu này nhà xuất khẩu có
thể giữ cho đến thời hạn thanh toán và lúc ấy trình nộp ngân hàng để nhận
tiền hoặc bán, chuyển nhượng trên thị trường, các ngân hàng có thể mua hối
phiếu chấp nhận thanh toán cho chính mình.
L/C trả dần: là loại L/C không thể huỷ ngang, trong đó quy định cho người
hưởng sẽ được thanh toán dần toàn bộ số tiền của L/C theo những thời hạn
trình đủ chứng từ hợp lệ trong thời hạn quy định. Số tiền ứng trước được thực hiện
theo yêu cầu của người mở L/C. Rủi ro trong thanh toán L/C điều khoản đỏ là tiền ứng
trước có thể bị sử dụng sai mục đích, chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình có thể
không phù hợp hoặc người chứng khoán không hoàn thành được việc sản xuất hàng
hoá mà cũng không hoàn lại được tiền ứng trước.
Để tăng thêm độ an toàn cho các khoản tiền ứng trước các bên có thể thoả thuận
về việc phát hành một L/C điều khoản đỏ có bảo đảm, còn gọi là tín dụng điều khoản
xanh. Nghĩa là bên cạnh các chứng từ như bình thường, người hưởng lợi còn phải xuất
trình thêm thư bảo lãnh của một ngân hàng hoặc giấy phép chứng minh việc hàng tập
kết chuẩn bị giao cho mua. Điều khoản ứng trước này phải được người yêu cầu mở
L/C quy định cụ thể và chịu trách nhiệm đối với ngân hàng phát hành L/C về điều
khoản cụ thể.
4
L/C tuần hoàn (Revolving L/C): là loại L/C mà người hưởng lợi sau khi sử
dụng hết kim nghạch hoặc hết thời hạn hiệu lực, thì nó tự động có hiệu lực trở lại một
số lần tuần hoàn nhất định cho đến khi tổng trị giá của hợp dồng được thực hiện xong.
Nếu sự dụng L/C tuần hoàn cần được nghi rõ rang, ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng, số
lần tuần hoàn và giá trị mỗi lần đó. Đồng thời cũng phải quy định rõ, số dư của hạn
nghạch L/C dùng chưa hết lần trước, được hay không được cộng dồn vào hạn nghack
L/C sử dụng lần kế tiếp này.
Có 5 loại tuần hoàn sau đây:
Tuần hoàn tích lũy: loại L/C tuần hoàn trong đó điều khoản, nếu trong thời
gian quy định, nhà xuất khẩu không giao hàng thì trong thời hạn hiệu lực kế
tiếp, phần giá trị gián đoạn trước đó sẽ được cộng thêm vào giá trị của L/C
ở vòng tuần hoàn lần sau
Tuần hoàn không tích lũy: loại L/C không cho phép chuyển trị giá L/C
trước vào L/C sau, tức là việc cộng dồn phần giá trị L/C chưa được sử dụng
hết ở vòng tuần hoàn trước vào giá trị L/C ở vòng tiếp theo là không được
phép thực hiện.
Tuần hoàn tự động: Nếu L/C trước hết thời hạn thì L/C sau tự động có giá
cho nhà nhập khẩu, khi đó họ không cần phải giữ bí mật về người cung cấp hàng hoá,
còn trong trường hợp người hưởng lợi chỉ là người trung gian cung cấp hàng hoá cho
nhà nhập khẩu thì họ rất muốn giữ bí mật về người cung cấp. Trong nghiệp vụ L/C
chuyển nhượng thì người hưởng lợi thứ 2 chịu nhiều rủi ro hơn cả. Họ chỉ nhận được
tiền khi người hưởng lợi thứ nhất được người mua thanh toán. Vì vậy họ gánh chịu rủi
ro không những về người mua và ngân hàng phát hành mà còn phải gánh chịu cả rủi ro
về người hưởng lợi thứ nhất và ngân hàng chuyển nhượng.
L/C giáp lưng (Back to back L/C): khi người hưởng nhận được một L/C (L/C
gốc) không phải chuyển nhượng song không thể tự mình cung cấp hàng hoá, khi đó họ
có thể thoả thuận với ngân hàng của mình phát hành một L/C thứ 2 (L/C giáp lưng)
với nội dung tương tự cho người cung cấp hàng hoá. Điều khác biệt cơ bản nhất ở đây
giữa L/C gốc và L/C chuyển nhượng là L/C gốc và L/C giáp lưng hoàn toàn độc lập
với nhau, ngân hàng phát hành L/C giáp lưng hoàn toàn chịu trách nhiệm thanh toán
bộ chứng từ hợp lệ của L/C giáp lưng. Hay nói cách khác nghĩa vụ và trách nhiệm của
hai ngân hàng phát hành L/C gốc và L/C giáp lưng hoàn toàn độc lập với nhau. Vì vậy
người cung cấp hàng hoá (người hưởng lợi L/C giáp lưng) có thể yên tâm về mặt thanh
toán. Về nguyên tắc L/C gốc sẽ là vật thế chấp hoặc sự đảm bảo cho việc thanh toán
L/C giáp lưng, song việc thanh toán cho nhà cung cấp sẽ được thực hiện trước khi
ngân hàng phát hành L/C giáp lưng nhận được L/C gốc. Đây chính là rủi ro đối với
ngân hàng phát hành L/C giáp lưng. Để đảm bảo an toàn cho mình, ngân hàng phát
hành L/C giáp lưng phải kiểm tra chặt chẽ chứng từ của L/C giáp lưng, phối hợp với
khách hàng của mình để hoàn thiện các chứng từ thanh toán L/C gốc hoặc phải thực
hiện nghiêm ngặt chế độ ký quỹ và thế chấp đối với người hưởng lợi thử nhất.
6
L/C dự phòng (standby L/C): Loại L/C được mở nhằm đảm bảo quyền lợi của
nhà NK trong trường hợp nhà XK nhận được L/C nhưng không có khả năng giao
hàng. Ngân hàng mở cam kết với nhà NK sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp
nhà XK không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và bồi thường các khoản thiệt hại cho
nhà NK như đã ứng trước tiền hàng, tốn phí mở L/C, tiền đặt cọc,… Ngoài ra L/C dự
phòng cũng có thể được nhà XK áp dụng để đảm bảo khả năng trả nợ của nhà NK. Nó
nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
7
Ngân hàng thông báo (advising bank) là ngân hàng được ngân hàng phát hành
yêu cầu thông báo cho nhà xuất khẩu về việc mở thư tín dụng.
Ngoài ra còn có thể cho một số ngân hàng khác tham gia vào phương thức thanh
toán này như:
Ngân hàng xác nhận (confirming bank) là ngân hàng nhận trách nhiệm thanh
toán cuối cùng nếu ngân hàng phát hành không thể thanh toán chứng từ phù hợp với
điều khoản của L/C. Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo L/C hay
là một ngân hàng khác do bên xuất khẩu yêu cầu.
Ngân hàng được chỉ định (nominated bank) là ngân hàng được ngân hàng phát
hành chỉ định để thực hiện việc thương lượng, chiết khấu hay thanh toán L/C. Lúc đó
ngân hàng đóng vai trò là ngân hàng chiết khấu (negotiating bank) hoặc ngân hàng
thanh toán (paying bank).
Ngân hàng hoàn trả (reimbursing bank) là một ngân hàng được ngân hàng mở
L/C hoặc ngân hàng xác nhận chỉ định thay mình trả tiền.
Ngân hàng chiết khấu (negotiating bank) là ngân hàng được ngân hàng được
ngân hàng mở L/C cho phép đứng ra mua hối phiếu hay thương lượng chứng từ do
người bán ký phát cho ngân hàng.Tuỳ theo quy định của L/C mà ngân hàng chiết khấu
thường là ngân hàng thông báo hoặc là ngân hàng thứ ba nào đó do ngân hàng mở L/C
quy định.
Người được chuyển nhượng là người nhận các quyền và nghĩa vụ do người
hưởng lợi chuyển.
1.1.4. Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
(8)
NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
(7)
xuất khẩu thụ hưởng thông qua ngân hàng đại lý của mình (ngân hàng thông
báo) ở nước người xuất khẩu để kiểm tra đối chiếu có phù hợp với yêu cầu
trong Đơn yêu cầu mở hay không.
(3) Ngân hàng thông báo sẽ thông báo chuyển nguyên văn nội dung của L/C đến
người xuất khẩu.
(4) Người xuất khẩu kiểm tra nội dung của L/C, đối chiếu với hợp đồng nếu chập
nhận thì tiến hành giao hàng đến nước người nhập khẩu thông qua người
chuyên chở. Nếu không chấp nhận L/C thì đề nghị nhà nhập khẩu và ngân
hàng phát hành của họ tu chỉnh lại cho phù hợp lại với nội dung hợp đồng rồi
tiến hành giao hàng.
(5) Người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của
L/C để xuất trình vào ngân hàng thông báo để chuyển sang ngân hàng phát
hành yêu cầu thanh toán. Người xuất khẩu cũng có thể đề nghị thương lượng
chiết khấu bộ chứng từ tại ngân hàng thông báo của mình hoặc tại một ngân
hàng khác tùy theo L/C yêu cầu.
(6) Ngân hàng thông báo giúp nhà xuất khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu sai sót sẽ
trả lại yêu cầu người xuất khẩu chỉnh sửa, bổ sung, còn phù hợp sẽ chuyển
đến ngân hàng phát hành yêu cầu thanh toán, đồng thời có thể chiết khấu bộ
chứng từ theo yêu cầu của nhà xuất khẩu
(7) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp sẽ thông báo đến
người nhập khẩu yêu cầu trả tiền để nhận bộ chứng từ.
(8) Nhà nhập khẩu trả tiền để nhận chứng từ đi làm thủ tục nhận hàng.
(9) Ngân hàng phát hành chuyển tiền cho người xuất khẩu (người hưởng lợi)
thông qua ngân hàng thông báo.
(10) Ngân hàng thông báo thanh toán cho người thụ hưởng.
1.1.5. Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ
Ngày nay, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế
được sử dụng ngày càng nhiều do những thuận lợi mà nó mạng lại cho cả người XK và
người NK. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi nó cũng không tránh khỏi những sai
9
Đối với nhà nhập khẩu
Người mua phải thận trọng khi làm đơn mở L/C, phải đưa ra những điều kiện để
cho người XK có thể thực hiện được vừa phải đảm bảo quyền lợi của mình. Ngoài ra
10
không tránh được trường hợp người NK bị người XK gian lận lập bộ chứng từ không
để thanh toán.
Đối với ngân hàng
Tuy nhiên trong phương thức tín dụng chứng từ L/C, ngân hàng chỉ có thể khống
chế về mặt hình thức chứng từ, mà không thể kiểm soát được tính chất pháp lý hay
tính chân thực của các loại chứng từ đó. Hơn nữa việc thanh toán diễn ra tương đối
phức tạp bởi sự tham gia của nhiều bên, quá trình thanh toán tỷ mỉ và máy móc. Và
nếu xảy ra rủi ro, sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng với khách hàng không chỉ trong
nghiệp vụ thanh toán nói riêng mà còn trong tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân
hàng nhất là trong môi trường gay gắt hiện nay.
1.2.
Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ
1.2.1. Khái niệm
Theo nghĩa chung, rủi ro là khả năng một sự kiện không mong muốn,
không thuận lợi có thể xảy ra dẫn đến sự mất mát hoặc hư hỏng. Trong thanh toán
L/C, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một hoặc các bên tham gia bị vi phạm, rủi ro
không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ không được thanh toán mà còn
phải được hiểu theo nghĩa rộng của nó là bất kỳ một sự khúc mắc, chậm trễ nào trong
các khâu của quá trình thanh toán. Rủi ro trong thanh toán bằng L/C có thể xảy ra đối
với các bên: đối với người bán, đối với người mua và đối với các ngân hàng.
(Nguồn: )
1.2.2. Các loại rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ
1.2.2.1. Rủi ro kỹ thuật
Là những rủi ro hình thành do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình
e. Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận
Nếu bộ chứng từ được xuất trình là hoàn hảo thì NH xác nhận phải trả tiền cho
nhà XK bất luận là có truy hoàn tiền từ NH phát hành hay không. Như vậy, NH xác
nhận chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành.
Nếu NH xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không
có sự kiểm tra bộ chứng từ một cách thích đáng, để bộ chứng từ có lỗi, NH phát hành
không chấp nhận thanh toán thì NH xác nhận không thể đòi tiền NH phát hành
f. Rủi ro đối với ngân hàng được chỉ định
Các NH được chỉ định không có trách nhiệm thanh toán cho nhà XK trước khi
nhận được tiền hàng từ NH phát hành. Tuy nhiên trong thực tế, trên cơ sở bộ chứng từ
được xuất trình, các NH được chỉ định thường ứng trước cho nhà XK với điều kiện
truy đòi để trợ giúp nhà XK, do đó NH này phải chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát
hành hoặc nhà XK
g. Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu (Negotiating Bank)
Ngân hàng chiết khấu có thể là ngân hàng xác nhận nếu là L/C xác nhận hoặc là
ngân hàng thông báo nếu người hưởng không muốn xuất trình chứng từ qua ngân hàng
12
thứ 3 nhưng thông thường là ngân hàng được chỉ định cụ thể hoặc bất cứ ngân hàng
nào nếu L/C cho phép chiết khấu. Đối với ngân hàng chiết khấu, rủi ro xảy ra phần
nhiều phụ thuộc vào thiện chí của ngân hàng mở và nhà nhập khẩu. Ngân hàng chiết
khấu sẽ không thu hồi được tiền hoặc thu hồi chậm là do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh
toán, thậm chí từ chối thanh toán thông qua việc kiểm tra chứng từ của ngân hàng mở.
Đối với ngân hàng chiết khấu, thời gian trì hoãn thanh toán càng dài ngân hàng bị
chiếm dụng vốn càng lâu.
Rủi ro đối với người nhập khẩu
Rủi ro khi nhà nhập khẩu không nhận được hàng hóa đúng như đơn đặt hàng.
Tình trạng này xảy ra do người xuất khẩu lợi dụng tính độc lập giữa L/C và hợp
đồng thương mại. Việc thanh toán của ngân hàng cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào
bộ chứng từ xuất trình, mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hóa. Ngân hàng chỉ
kiểm tra sự trùng khớp bề ngoài của bộ chứng từ với L/C, chứ không chịu trách nhiệm
quan nhưng không có khả năng đòi hoàn trả. Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến
tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên. Phương thức tín dụng chứng từ
liên quan trực tiếp đến các rủi ro tín dụng nói trên. Cụ thể là:
Đối với ngân hàng phát hành
Khi phát hành L/C, ngân hàng phát hành đã thực hiện việc cấp tín dụng cho nhà
nhập khẩu vì thông thường L/C được phát hành với mức ký quỹ dưới 100%. Nhà nhập
khẩu chưa phải trả tiền nhưng đã được nhà xuất khẩu giao hàng vì tin tưởng vào cam
kết của ngân hàng phát hành. Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành xảy ra khi
nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản: Ngân hàng phát hành phải
thực hiện thanh toán cho ngưòi thụ hưởng theo quy định của L/C nhưng không có khả
năng đòi hoàn trả từ nhà nhập khẩu.
Đối với ngân hàng chiết khấu
Khi thực hiện chiết khấu miễn truy đòi bộ chứng từ xuất khẩu, ngân hàng chiết
khấu đã thực hiện việc mua lại quyền đòi tiền của nhà xuất khẩu từ ngân hàng phát
hành L/C. Nếu ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản thì rủi ro
tín dụng thuộc về ngân hàng chiết khấu.
Đối với ngân hàng xác nhận
Khi thực hiện việc xác nhận L/C nhưng không yêu cầu ngân hàng phát hành ký
quỹ 100% trị giá L/C, ngân hàng xác nhận có thể phải đối mặt với rủi ro tín dụng khi
ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản.
1.2.2.3. Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất phát từ sự thay đổi tỷ giá hối đoái giữa đồng ngoại
tệ và đồng nội tệ.
Đối với ngân hàng
Khi đồng nội tệ giảm giá, ngân hàng sẽ phải mất thêm một khoản tiền bù vào
mức giảm đó. Bên cạnh đó, nếu trạng thái ngoại hối của ngân hàng không tốt, một mặt
ngân hàng sẽ không đáp ứng được nhu cầu mua ngoại tệ của khác hàng, mặt khác bản
thận ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn trong quá trình thanh toán cho ngân hàng. Thiệt
14
hại xảy ra có thể về mặt tài chính vì ngân hàng phải đi vay ngoại tệ của ngân hàng
hình hoạt động kinh doanh cũng như về uy tín và tính trung thực của đối tác. Chính vì
vậy mà đưa ra những phán quyết sai lầm gây nên rủi ro thanh toán. 15
1.2.2.5. Rủi ro thanh khoản
Đối với ngân hàng
Rủi ro thanh khoản là những thiệt hại do ngân hàng phải gánh chịu khi không có
đủ tiền để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên rủi ro này rất ít khi xảy ra, đối
với những quốc gia mà đồng tiền của họ không có thể mạng trong thanh toán quốc tế
thì họ phải dự trữ một lượng lớn ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu nhà nhập khẩu trong
thanh toán. Vì vậy, thanh toán chậm cho nhà xuất khẩu làm giảm uy tín của ngân hàng,
thậm chí còn bị phạt vì trả chậm.
Đối với nhà nhập khẩu
Không có khả năng chi trả, dẫn đến giảm uy tín trong mắt các bên tham gia. Ảnh
hưởng tới khả năng huy động vốn trong tương lai.
Rủi ro ngân hàng đại lý
Khi triển khai hoạt động thanh toán quốc tế, các ngân hàng đều coi nhiệm vụ
phát triển quan hệ đại lý ra nước ngoài là một nhiệm vụ mang tính quyết định cho việc
mở cửa hoạt động của ngân hàng. Việc thiết lập và phát triển rộng rãi hệ thống ngân
hàng đại lý tạo long tin lẫn nhau, giúp các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ thanh toán
quốc tế thuận tiên, nhánh chóng, giảm chi phí trung gian.
Đứng trên góc độ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu khí Toàn Cầu
(GP.Bank), những tài khoản mà ngân hàng đó mở tại một ngân hàng khác được gọi là
tài khoản Nostro. Ngược lại, những tài khoản mà ngân hàng khác mở tại Ngân hàng
GP.Bank được gọi là tài khoản Vostro. Mỗi ngân hàng khi tham gia hoạt động thanh
toán quốc tế đều chọn cho mình một số ngân hàng trung gian uy tín để đảm bảo an
toàn trong thanh tán. Nếu ngân hàng giữ tài khoản Nostro bị phá sản, đóng cửa sẽ là
một rủi ro vô cùng nghiêm trọng đối với hoạt động của ngân hàng, thậm chí có thể dẫn
đến phá sản theo. Do vậy, để phân tán rủi ro, các ngân hàng không nên duy trì một tài
1.2.3. Biểu hiện của rủi ro thanh toán thư tín dụng
Các rủi ro trong thanh toán thư tín dụng luôn luôn tiềm ẩn trong suốt quá trình
thời gian thanh toán. Các biểu hiện để nhận biết rủi ro này thể hiện ở trước, trong và
sau khi thực hiện thanh toán L/C. Có những biểu hiện rất dễ nhận biết, tuy nhiên có
những biểu hiện cần phải có những kiến thức chuyên môn mới phát hiện ra được.
Trong thanh toán hàng nhập khẩu, ngân hàng thương mại với chức năng là ngân
hàng mở L/C. Để quyết định có mở L/C cho khách hàng ngân hàng phải xem xét kỹ
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Với một doanh nghiệp mà tình hình tài chính có
vấn đề thì đó là dấu hiệu đầu tiên cho biết rủi ro thanh toán thư tín dụng có thể xảy ra.
Chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp nhập khẩu là biểu hiện để ngân hàng
nhận biết rủi ro có thể xảy ra hay không. Với những doanh nghiệp kinh doanh những
mặt hàng đang có nhu cầu lớn trong nước cũng như có thị trường tiêu thụ rộng thì khả
năng thanh toán cao và rủi ro đối với ngân hàng thấp. Ngoài ra quan hệ giữa khách
hàng và ngân hàng từ trước cũng là nguyên tố nhận biết rủi ro. Đặc biệt với những
khách hàng giao dịch lần đầu thì rất khó thẩm định được thiện chí của khách hàng.
17
Khi nhà nhập khẩu đã nhận hàng hoá từ cảng về rồi thì biểu hiện nhận biết rủi ro
là khách hàng trì hoãn việc thanh toán, cũng như kiếm cớ bộ chứng từ có lỗi để thanh
toán chậm.
Trong thanh toán hàng xuất khẩu, rủi ro có thể xảy ra với những L/C được mở
bởi ngân hàng chưa có quan hệ thanh toán tín nhiệm, cũng nh tình hình tài chính kém
mà chưa có xác nhận của ngân hàng uy tín. Với những L/C trả chậm kèm theo những
điều khoản quy định về đòi tiền rắc rối(ngân hàng trả tiền không phải là ngân hàng
mở) là dấu hiệu của rủi ro thanh toán L/C có thể xảy ra.
1.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng
từ
Khi nhà nhập khẩu vì lý do nào đó không thanh toán cho ngân hàng khi đến hạn,
thì buộc ngân hàng phải trích tiền trong tài khoản tiền gửi của khách để thanh toán.
Nếu trong tài khoản tiền gửi không đủ thì ngân hàng phải cho vay bắt buộc với lãi xuất
quá hạn hiện hành. Người ta có thể xem xét mức độ rủi ro thanh toán thư tín dụng qua
vay hay tổng giá trị thanh toán chiếm tỷ lệ bao nhiêu.
Các chỉ tiêu trên cho ta thấy khái quát về tình hình quản trị rủi ro trong phương
thức tín dụng chứng từ tại một ngân hàng thương mại, từ đó có biện pháp để quản lý
rủi ro trong một ngân hàng một cách có hiệu quả nhất.
1.2.5. Ý nghĩa của việc hạn chế rủi ro tín dụng chứng từ
Rủi ro trong kinh doanh là điều khó thể tránh khỏi đối với doanh nghiệp hoạt
động trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là hoạt động của ngân hàng thương mại. Rủi
ro trong thanh toán thư rín dụng là một trong những rủi ro nằm trong nghiệp vụ trung
gian của ngân hàng. Tuy thiệt hại của nó không lớn bằng rủi ro tín dụng trong nghiệp
vụ của ngân hàng nhưng nó gây phản ứng “dây truyền” đến nhiều đối tượng tham gia
thanh toán. Ngân hàng thương mại đóng vai trò là chất xúc tác kết nối thúc đẩy sự phát
triển của hoạt động XNK. Ngày nay xu hướng các nhà XNK thanh toán thư tín dụng
ngày càng lớn do những ưu việt mà phương thức này mang lại. Tuy nhiên đã có không
ít những rủi ro xảy ra gây tổn thất cho cả ngân hàng và nhà XNK. Vì vậy việc quản lý
và hạn chế rủi ro trong thanh toán thư tín dụng có ý nghĩa rất thiết thực. Ngoài việc
giảm những tổn thất không đáng có trong thanh toán L/C còn tăng khả năng cạnh tranh
và uy tín của các ngân hàng để thu hút khách hàng giao dịch. Quản lý rủi ro nói chung
quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại.
1.2.6. Các nguyên nhân gây ra rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức
tín dụng chứng từ
1.2.6.1. Nguyên nhân khách quan
Có nhiều nguyên nhân xuất phát từ môi trường kinh doanh bên ngoài có thể đem
đến nhiều rủi ro cho ngân hàng. Ngân hàng phải có chọn lựa và nghiên cứu kĩ thuật tốt
ngay từ đầu để giảm thiểu đến mức tối đa những rủi ro này.
Khách hàng trong nước gặp khó khăn kinh doanh và tài chính nên không có khả
năng thực hiện những cam kết thanh toán với ngân hàng, hoặc lợi dụng sự sơ hở,
19
buông lỏng trong hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng để ràng buộc ngân hàng
vào những hoạt động sai mục đích, phi pháp.
Đối tác nước ngoài không có khả năng thực hiện hợp đồng, không có thiện chí
soát được, nhưng nếu không chú ý sẽ gây ra những rủi ro rất lớn
20
Trình độ cán bộ thanh toán quốc tế còn nhiều bất cập, nhiều khi còn thiếu tinh
thần trách nhiệm, yếu kém về nghiệp vụ chuyên môn, không nắm chắc và tuân thủ quy
trình thanh toán quốc tế.
Chưa có các cơ chế thống nhất, đồng bộ để đảm bảo khả năng thanh toán như cơ
chế thành lập quỹ dự phòng rủi ro thanh toán quốc tế, cơ chế phối hợp giữa nghiệp vụ
thanh toán quốc tế và quản lý tín dụng xuất nhập khẩu.
Các hình thức dịch vụ còn đơn điệu, một chiều, chưa đa dạng hoá để giảm thiểu,
phân tán rủi ro và thu hút nguồn ngoại tệ mạnh.
Công nghệ ngân hàng còn lạc hậu, chưa đồng bộ và phát triển kịp thời so với xu
thế phát triển và nhu cầu thanh toán quốc tế, làm ảnh hưởng đến tốc độ thanh toán, gây
rủi ro cho ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ còn thiếu tính chủ động, mới chỉ dừng lại ở việc
mua bán phục vụ từng giao dịch cụ thể, chưa thực sự kinh doanh để thu lợi nhuận và
tăng cường tính chủ động về nguồn ngoại tệ cung cấp cho các khách hàng khi phát
sinh nhu cầu về ngoại tệ.
21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương một, luận văn đã đề cập tới cơ sở lý luận chung về thanh toán quốc
tế, trong đó tập trung tìm hiểu các rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ
Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ, các văn bản pháp lý quốc tế điều
chỉnh và khái niệm về rủi ro… từ đó làm nền tảng cho việc đi sâu vào phân tích những
rủi ro xảy ra trong thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long.
Một mặt, rút ra được một số bài học kinh nghiệm trong chương hai tiếp theo.Mặt
khác, góp phần hoàn thiện hạn chế phương thức tín dụng chứng từ, từ đó đẩy mạnh
dịch vụ thanh toán quốc tế là góp phần quảng bá hình ảnh thương hiệu của Ngân hàng,
thành công phần mềm Hệ thống Ngân hàng lõi T24 (Core Banking) của hãng Temenos
của Thụy Sỹ, với khả năng xử lý trên 10.000 giao dịch/giây đã đáp ứng được hầu hết
các yêu cầu của khách hàng cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ. Đây là công nghệ
ngân hàng mới, hỗ trợ cho việc triển khai các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại,
đang được triển khai tại hơn 400 tổ chức tài chính-ngân hàng trên thế giới. Công nghệ
mới này cho phép ngân hàng quản lý dữ liệu khách hàng theo chuẩn mực quốc tế, khả
năng ứng dung, triển khai nhiều sản phẩm mới và quản trị tốt nhất rủi ro trong hoạt
động.
Là một ngân hàng mới, GP.Bank có những thế mạnh cũng như lợi thế nhất định.
Với cơ cấu gọn nhẹ, tính chuyên nghiệp hóa và chuyên môn hóa cao, đội ngũ nhân
viên năng động, sáng tạo, kinh nghiệm, chuyên môn đào tạo tốt, Ngân hàng TMCP
23
Dầu Khí Toàn Cầu hứa hẹn là một trong những Ngân hàng Thương mại cổ phần đầy
tiềm năng.
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu Thăng Long là đơn vị trực
thuộc Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu, Ngày 08/7/2009, chi nhánh chính thức đi
vào hoạt động. GP.Bank Thăng Long là chi nhánh thứ 9 của GP.Bank được đưa vào
phục vụ khách hàng sau 03 năm ngân hàng được thành lập và là Chi nhánh thứ 2 của
GP.Bank chính thức được thành lập kể từ đầu năm 2009.Xuất phát từ nhu cầu thị
trường, GP bank đã tiến hành thành lập chi nhánh GP bank Thăng Long vào
8/10/2007. Trong 3 ngày giao dịch đầu tiên đã có trên 100 lượt khách đến giao dịch và
gửi tiền, số tiền huy động từ dân cư và các doanh nghiệp được trên 4 tỷ đồng, có gần
30 khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp đến mở tài khoản giao dịch. Ngay từ những
ngày hoạt động đầu tiên, chi nhánh GP bank Thăng Long đã có thể cung ứng cho
khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trên địa bàn Hà Nội và các vùng phụ cận đầy
đủ gói sản phẩm dịch vụ tài chính – ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
và theo sự ủy quyền của Hội sở. Đồng thời, chi nhánh GP bank Thăng Long đã được
kết nối với các điểm giao dịch của GP bank trên toàn quốc để thực hiện các giao dịch
trực tuyến.Là một ngân hàng mới, GP bank có những thế mạnh cũng như lợi thế nhất
định. Với cơ cấu gọn nhẹ, tính chuyên nghiệp hóa và chuyên môn hóa cao, đội ngũ
hoạt động theo mô hình tổng công ty 90, hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng, có
tư cách pháp nhân, thời hạn hoạt động là 99 năm, có quyền tự chủ về tài chính, tự chịu
trách nhiệm về hoạt động kinh doanh.
Từ khi được thành lập và đi vào hoạt động, chi nhánh đã sắp xếp tổ chức bộ máy
theo mô hình chi nhánh cấp I gồm có 5 phòng nghiệp vụ tại trụ sở chính của chi nhánh