tóm tắt luận án tiến sĩ giao thoa nghệ thuật giữa hai khuynh hướng văn xuôi lãng mạn và văn xuôi hiện thực thời kì 1932 - 1945 - Pdf 24

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THÀNH ĐỨC BẢO THẮNG
GIAO THOA NGHỆ THUẬT GIỮA HAI KHUYNH HƯỚNG
VĂN XUÔI LÃNG MẠN VÀ VĂN XUÔI HIỆN THỰC
THỜI KÌ 1932-1945
Chuyên ngành
Mã số
: Văn học Việt Nam
: 62.22.34.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
1
HÀ NỘI - 2014Công trình được hoàn thành
Tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: 1- PGS. TS. Lê Thị Dục

2- PGS. TS. Lê Quang Hưng
Phản biện 1: PGS. TS. Lã Nhâm Thìn
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Đăng Điệp
Khoa Văn học – Học viện Khoa học Xã
hội
Phản biện 3: PGS. TS. Lý Hoài Thu
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện

nói riêng cũng như văn học nói chung. Tác phẩm văn học
không chỉ bó hẹp trong các khuynh hướng, trào lưu mà luôn
vận động trong sự gặp gỡ, tác động qua lại lẫn nhau, có sự kế
thừa, phát triển trong nội dung tư tưởng và hình thức thể
hiện. Mặt khác, tránh được cái nhìn cơ giới hóa vẫn còn tồn
tại rải rác trong một số giáo trình bằng việc cắt nghĩa, lý giải
sự phong phú, đa dạng, phức tạp, từ đó đưa ra các đánh giá,
nhận định một cách khách quan, khoa học về tác giả cũng
như tác phẩm văn học.
5
7
1.3. Đây là thời kì văn học phát triển triển rực rỡ với
những thành tựu phong phú, những vấn đề mang ý nghĩa sâu
sắc đối với đời sống xã hội, đánh dấu bước tiến quan trọng
trong tiến trình vận động, phát triển của lịch sử văn học. Tìm
hiểu sự giao thoa về tư tưởng và nghệ thuật giữa hai khuynh
hướng này cũng chính là tìm hiểu sự gặp gỡ, kế thừa giữa các
tác giả của hai khuynh hướng, giữa truyền thống và hiện đại,
giữa Đông và Tây, thấy rõ hơn được những giá trị bất biến,
những giá trị mới trong quá trình vận động hòa nhập với văn
học hiện đại thế giới.
1.4. Trong thực tế, quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn
học thời kỳ này trước 1986, các nhà nghiên cứu với nhiều lý
do thường chỉ tập trung chú ý tới khuynh hướng văn học hiện
thực. Sau 1986, vấn đề về văn học lãng mạn (đặc biệt là văn
xuôi khuynh hướng lãng mạn) mới được chú ý nghiên cứu
nhiều, trên tinh thần khách quan, khoa học và đã chỉ ra những
đóng góp nổi bật của khuynh hướng này trong tiến trình vận
động và phát triển của văn học dân tộc nói chung và văn xuôi
nói riêng. Đồng thời, thấy rõ hơn tính phức tạp nhiều mặt, sự

mạn và hiện thực trong văn xuôi Việt nam giai đoạn 1930-1945,
khảo sát qua một số cây bút tiêu biểu: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng
Đạo, Thạch Lam, Trần Tiêu, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân,
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,
Nguyên Hồng.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ đặt ra của đề tài, trong qua
trình triển khai các nội dung của luận án, chúng tôi đã sử
dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử; tiếp cận hệ
thống; phân tích, tổng hợp; so sánh.
4. Đóng góp của luận án
− Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên đi sâu tìm hiểu sự giao
thoa nghệ thuật giữa hai khuynh hướng văn học lãng mạn và hiện
9
11
thực trong văn xuôi thời kì 1932 – 1945. Qua đó, góp phần khẳng
định thêm về lí thuyết về sự cộng hưởng, tác động lẫn nhau giữa các
khuynh hướng, các hiện tượng văn học.
− Từ việc tìm hiểu này, luận án chỉ ra những đặc trưng lịch sử của văn
học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, những đặc trưng này có ý nghĩa
chi phối tiến trình phát triển của một giai đoạn văn học dân tộc nhất
định.
− Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh
viên về văn văn xuôi thời kỳ 1932 – 1945 nói riêng và văn học thời
kì này nói chung.
5. Cấu trúc của luận án
Luận án ngoài các phần: Mở đầu; Kết luận; Thư mục
tham khảo; Nội dung luận án gồm có bốn chương: Chương 1:
Tổng quan tình hình nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở xã hội,
văn hóa của sự giao thoa văn học; Chương 3: Giao thoa về tư

(đất nước bị chia cắt) và đã thu được kết quả nhất định.
Năm 1960, ở miền Nam, nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ
đã trình bày công trình nghiên cứu công phu, đầy đặn về Tự
lực văn đoàn cũng như các cây bút nổi bật của tổ chức văn
13
15
học này trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3,
Văn học hiện đại 1862-1945 . Trong mục Tổng luận về Tự
lực văn đoàn, ông rất chú ý tới giá trị hiện thực trong nội
dung phản ánh của các cây bút tiêu biểu cho khuynh hướng
lãng mạn đặc biệt là các tiểu thuyết hướng tới tố cáo, đả kích
lễ giáo phong kiến: Nhân vật (Mai và Lộc, Lan và Ngọc,
Minh và Liên, Loan và Dũng) cũng có những yếu tố chân
thực chứ không hoàn toàn xa lạ; Thái độ mạnh mẽ, quyết liệt
đến dữ dội khi phê phán lễ giáo phong kiến; Kết án tội ác của
lễ giáo phong kiến. Viết về Thạch Lam, Phạm Thế Ngũ gặp
gỡ Vũ Ngọc Phan khi cho rằng: Thạch Lam là nhà văn có
khuynh hướng xã hội. Ông đưa ra kết luận rất tinh tế và chính
xác về nét riêng khi hướng tới phản ánh hiện thực của Thạch
Lam: tác giả không có ý bi thảm hóa bức tranh xã hội mà
muốn giữ một ngòi bút chừng mực và trung thực, làm một
thứ nghệ thuật “hiện thực nhân bản”.
− Năm 1961, ở miền Bắc, văn học lãng mạn và văn học hiện thực
được nghiên cứu có hệ thống hơn và được đưa vào giáo trình bậc đại
học: Văn học Việt Nam 1930-1945 (Nxb Giáo dục). Nhà nghiên cứu
Bạch Năng Thi đã chú ý tới sự đan xen giữa những yếu tố lãng mạn
và hiện thực trong văn xuôi của Tự lực văn đoàn. Theo ông, sức hấp
dẫn của các nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có được vì
đó là những nhân vật “tiêu biểu cho một vài tầng lớp “tồn tại thực
sự” trong xã hội Việt Nam khi ấy”. Ông nhấn mạnh: “Những cái

Nhận định về văn học hiện thực phê phán, các tác giả đã
chỉ ra sự pha trộn, không thuần nhất trong tư tưởng: “Nhìn
chung, văn học hiện thực phê phán Việt Nam là một hiện
tượng không thuần nhất. Trong quá trình phát triển, đôi khi
nó bị pha trộn bởi những khuynh hướng lãng mạn và tự nhiên
chủ nghĩa”.
− Nhận định về công thức “ba dòng” trong các sách văn học sử và các
sách giáo khoa Việt Nam trước 1989, nhà nghiên cứu Nguyễn
Hoành Khung nhấn mạnh: “Văn học lãng mạn và văn học hiện thực
phê phán tuy có chỗ khác nhau về chất, có khi chống đối nhau gay
gắt, song vẫn có những cơ sở thống nhất chung, nên thường có mối
liên hệ qua lại, chịu ảnh hưởng của nhau, thâm nhập lẫn nhau tới
17
19
mức khó phân ranh giới giữa chúng.”. Theo ông, điều đó không xảy
ra một cách ngẫu nhiên, cá biệt bởi: “Nhân tố hiện thực, nhân đạo
vẫn có cơ sở trong chiều sâu tư tưởng nghệ thuật của nhiều nhà văn,
nhà thơ lãng mạn”
− Khi nhận định, đánh giá về sự giao thoa, tương đồng giữa hai
khuynh hướng này, đã có sự thống nhất của các nhà nghiên cứu Hà
Minh Đức, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh. Từ sự khẳng định
ranh giới khó phân định giữa hai khuynh hướng, họ cho rằng: không
có sự đối lập tuyệt đối và không nên đối lập một cách cực đoan giữa
hai khuynh hướng văn xuôi lãng mạn và văn xuôi hiện thực (Hà
Minh Đức viết về Thừa tự ; Phan Cự Đệ: Văn học Việt Nam 1900
-1945; Nguyễn Đăng Mạnh: Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam
1930-1945.
− Trần Đình Hượu trong bài viết: Tự lực văn đoàn, nhìn từ góc độ tính
liên tục của lịch sử, qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử văn
học phương Đông cũng đã đề cập tới những yếu tố hiện thực trong

văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX”
− Nhà nghiên cứu Lê Thị Dục Tú chú ý tới sự chuyển biến trong cảm
quan hiện thực trong những năm 1939-1940 trong truyện ngắn Khái
Hưng: “Bên cạnh tình yêu, đề tài về người bình dân cũng là một
mảng đề tài chính trong truyện ngắn Khái Hưng Khái Hưng viết
một loạt truyện mang đậm chất hiện thực: Cái Ve, Anh phải sống,
Người vợ mù, Dưới ánh trăng, Đào mơ, Hòn Gay, Biến đổi, Cô
hàng nước ”
Gần đây, một số nhà nghiên cứu hải ngoại chú ý tới sự
giao thoa giữa các khuynh hướng văn học. Chú ý tới hai yếu
tố: giao thoa giữa các khuynh hướng nghệ thuật như một hiện
tượng “xâm lấn”, “tràn bờ” và giao thoa như một ý thức nghệ
thuật tự giác.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA SỰ GIAO
THOA VĂN HỌC
2.1 Khái niệm giao thoa, giao thoa văn học
2.1.1 Khái niệm giao thoa
Giao thoa là một khái niệm được sử dụng trong vật lí chỉ
21
23
sự chồng chập của hai hay nhiều sóng mà tạo ra một hình ảnh
sóng mới. Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, Giao thoa
là “Hiện tượng xảy ra khi hai chấn động có tần số bằng nhau
chồng lên nhau, có thể làm cho ánh sáng hay âm mạnh lên,
hoặc yếu đi đến triệt tiêu.” (tr 432, Nxb KHXH, HN, 1977).
Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ Giao thoa cũng được sử
dụng rộng rãi hơn khi nói tới sự gặp gỡ, tương đồng trong
hình thức, tính chất khi so sánh các sự vật, hiện tượng.
2.1.2 Khái niệm giao thoa văn học

tốt đẹp, tích cực mà chỉ khi các yếu tố giao thoa cùng hướng
tới những giá trị nhân bản.
2.2 Kết cấu xã hội và sự nảy nở những tư tưởng, tình cảm mới
2.2.1 Kết cấu xã hội mới
− Những năm 30 của thế kỉ XX, ở Việt Nam, giai cấp phong kiến đã
mất vai trò lãnh đạo đất nước và trở thành tay sai đắc lực của thực
dân. Để phục vụ cho chính sách kinh tế, thực dân chủ trương mở
rộng mạng lưới giao thông giữa các vùng miền và việc mở mang
giao thông đã tạo đà cho sự phát triển nhiều mặt của xã hội. Sự trao
đổi trong quá trình thông thương, buôn bán hàng hóa đã hình thành
nhiều đô thị mới, khác với đô thị cũ của nhà nước phong kiến. Đô
thị giờ đây là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự… của
nhà nước thực dân với tính chất và nhịp sống mới.
Về chính trị, văn hóa, cuộc sống người dân đô thị chịu
ảnh hưởng trực tiếp chính sách bảo hộ của thực dân. Làm
quen và tiếp thu với lối sống ngày càng hiện đại, cuộc sống
đô thị có sự đổi mới rõ rệt theo chiều hướng vận động của xã
hội tư sản. Ảnh hưởng của triều đình phong kiến đối với cuộc
sống người dân đô thị đã trở nên mờ nhạt. Ở nông thôn, vai
trò và ảnh hưởng của triều đình phong kiến vẫn chi phối nặng
nề đời sống xã hội. Về văn hóa, mặc dù cũng chịu ảnh hưởng
của văn hóa đô thị, song về cơ bản, nông thôn Việt Nam vẫn
là thành lũy vững chắc của lễ giáo cổ hủ.
25
27
− Như quy luật tất yếu, chính sách khai thác thuộc địa và sự ra đời của
những đô thị mới kéo theo những biến động lớn trong kết cấu xã
hội. Kết cấu xã hội phong kiến vẫn tồn tại và được duy trì chủ yếu ở
nông thôn. Kết cấu xã hội theo hướng tư sản xuất hiện và được duy
trì chủ yếu ở các đô thị kiểu mới. Xã hội xuất hiện nhiều giai tầng

tự cường. Tư tưởng yêu nước giờ đây là hành động chống
thực dân, là ý thức duy tân với các hành động cách mạng, cải
cách xã hội trên tinh thần dân chủ.
Từ 1930, tư tưởng dân chủ ngày càng ngấm sâu và thể
hiện trên nhiều phương diện trong xã hội, đặc biệt là ở xã hội
tư sản thị thành, nơi tập trung các giai tầng mới. Các tầng lớp
quay cuồng chạy theo lối sống hưởng thụ văn minh vật chất.
Giai cấp tư sản và tiểu tư sản đề cao, ca ngợi văn minh Âu -
Mỹ, chống lại tư tưởng phong kiến bảo thủ lạc hậu đang kìm
hãm sự phát triển của đời sống cá nhân con người. Quan
niệm nhân sinh trong họ thay đổi, cùng với đó là sự mở rộng
trong quan niệm đạo đức.
2.3 Sự tiếp nhận văn hóa, văn học phương Tây
Từ 1930 trở đi, tiếp nhận văn hóa, văn học phương Tây
trở thành ý thức tự giác, thường trực trong đời sống văn hóa,
xã hội Việt Nam. Sự bừng tỉnh ý thức cá nhân, thay đổi quan
niệm thẩm mĩ, ý thức học hỏi tinh thần dân chủ, tư tưởng
khoa học là những biểu hiện nổi bật trong quá trình tiếp
nhận.
2.3.1 Sự bừng tỉnh ý thức cá nhân
− Thực tế cuộc sống thành thị với lối sống cạnh tranh kiếm lời của xã
hội tư sản, với quyền lực ngày càng mạnh mẽ của đồng tiền đã buộc
con người phải thay đổi cách nghĩ, quan niệm để tồn tại, thích nghi
với cuộc sống hiện đại tư sản. Sự thay đổi về ý thức cá nhân là vấn
đề mang tính quy luật được ý thức trong xã hội và văn học.
Con người trở thành những cá nhân đang bứt phá những
ràng buộc của tôn ti, trật tự phong kiến và là sản phẩm tất yếu
của nền kinh tế tư bản. Sống trong xã hội phát triển theo
hướng tư sản, con người được tiếp cận cuộc sống ngày càng
29

mới, hiện đại. Cái đẹp còn là ý thức sống mạnh mẽ, là khát
31
33
vọng sống có ý nghĩa của mỗi cá nhân. Gắn với sự bừng tỉnh
của ý thức cá nhân, cái đẹp trong quan niệm hiện đại phải là
sự hài hòa giữa vẻ đẹp bên trong (nội dung) và vẻ đẹp bên
ngoài (hình thức).
Có thể khẳng định, sự thay đổi trong trong quan điểm
thẩm mĩ thể hiện cảm quan hiện đại và sự tiến bộ của xã hội
khi hướng về con người. Con người trong xã hội hiện đại
luôn ý thức về vẻ đẹp của tạo hóa ban cho mình và từ đó biết
tôn thêm vẻ đẹp bằng nhiều cách khác nhau.
2.3.3 Tiếp nhận tinh thần dân chủ, tư tưởng khoa học
Tư tưởng khoa học và tinh thần dân chủ của văn hóa
phương Tây tác động sâu sắc và chi phối nhiều mặt trong đời
sống tinh thần xã hội Việt Nam thời kì này. Đây là yếu tố cốt
lõi, có vai trò quyết định và tạo nên luồng sinh khí mới trong
đời sống văn học, mở ra quan niệm về xã hội nhân sinh mới.
Biểu hiện đầu tiên của tư tưởng khoa học và tinh thần dân
chủ trong văn học thời kì này là thái độ tôn trọng hiện thực
khách quan khi hướng tới khám phá, miêu tả xã hội. Trước
hết là thái độ khách quan khi khám phá, miêu tả con người
trong xã hội. Giờ đây, trong quan niệm của các nhà văn, con
người cá nhân trở thành trung tâm, được chú ý tìm hiểu,
khám phá trong sự vận động và phát triển theo quy luật nội
tại của nó. Thái độ tôn trọng hiện thực khách quan còn thể
hiện qua quan điểm khi miêu tả hiện thực cuộc sống, qua ý
thức sáng tạo trong quá trình tiếp thu văn học phương Tây.
Trước sự đổi thay nhiều mặt trong đời sống xã hội, vấn đề
tiếp nhận văn học mới trở thành một nhu cầu bức thiết trong

1939. Các nhà văn hiện thực phê phán, trước tác động của cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp đã tập trung miêu tả hiện
thực làm nổi bật tình trạng bất công. Bước sang chặng tiếp theo
(1936 - 1939), khi gặp điều kiện thuận lợi ý thức phản ánh hiện thực
mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc hơn. Hàng loạt các tác phẩm có giá trị
ra đời như Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng, Bước đường
35
37
cùng và các truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, Tắt
đèn của Ngô Tất Tố, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng.
2.5 Sự vận động nhanh chóng của nền văn học theo tiến trình hiện
đại hóa
Một trong ba đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ
đầu thế kỉ XX đến 1945 được đề cập tới trong nhiều giáo
trình và có được sự thống nhất của nhiều nhà nghiên cứu là:
Nền văn học được hiện đại hóa. Khái niệm hiện đại, theo GS
Nguyễn Đăng Mạnh dùng để phân biệt với khái niệm văn học
trung đại: “Văn học hiện đại có nghĩa là thoát khỏi hệ thống
thi pháp của văn học trung đại để xác lập một hệ thống thi
pháp mới, thi pháp văn học hiện đại”. Quá trình hiện đại hóa
có thể chia làm ba bước: Từ đầu thế kỉ XX đến 1920, từ 1920
đến 1930 và từ 1930 đến 1945. Nhìn chung, từ đầu thế kỉ XX
đến 1930, diện mạo và bản chất của văn học đã dần thay đổi
theo hướng hiện đại. Có sự đổi mới trong tư tưởng chính trị,
xã hội… song chưa thật sự đổi mới về quan điểm thẩm mĩ.
Từ 1930, văn học Việt Nam thực sự hiện đại từ nội dung tới
hình thức biểu hiện. Quan niệm về chức năng của văn học và
chức năng của người cầm bút thực sự đổi mới, phù hợp yêu
cầu của cuộc sống hiện đại. Văn học phải phản ánh chân thực
và sinh động cuộc sống hàng ngày, đồng thời văn học phải đi

khẳng định bước phát triển mạnh mẽ trong tư tưởng nghệ thuật thể
hiện qua khuynh hướng văn xuôi lãng mạn và khuynh hướng văn
xuôi hiện thực thời kì này. Con người được phản ánh trên nhiều bình
diện, nhiều góc độ:
Trước hết, con người được phản ánh trên bình diện xã hội.
Đặt nhân vật của mình trong xung đột mới - cũ, các nhà văn
lãng mạn không chỉ đề cao dân chủ, bài bác lễ giáo phong
kiến cổ hủ mà còn khẳng định vai trò của cá nhân đối với sự
39
41
tiến bộ xã hội. Văn xuôi hiện thực cũng đặt nhân vật trong
những mâu thuẫn xung đột xã hội gay gắt để tố cáo xã hội.
Bên cạnh con người cá nhân trên bình diện xã hội, văn xuôi
lãng mạn và hiện thực thời kì này còn chú ý tới con người
dưới góc độ gia đình. Văn xuôi lãng mạn tố cáo đại gia đình
phong kiến, các cây bút hiện thực phê phán cái nhìn sâu sắc
hơn về con người. Con người cá nhân trong quan hệ với
chính mình in đậm đấu ấn trong văn xuôi thời kì 1932-1945.
Con người bản năng được chú ý khám phá, lí giải. Chú ý tới
“ái tình xác thịt” là điểm gặp gỡ của Vũ Trọng Phụng với
Nhất Linh, Khái Hưng khi khám phá đời sống bản năng của
con người.
3.1.2 Giao thoa trong cảm quan hiện thực nhân đạo, tiến bộ
− Tố cáo xã hội bất công, vô nhân đạo
Giá trị nội dung được chú ý trong văn xuôi lãng mạn cũng
như văn xuôi hiện thực là tố cáo xã hội vô nhân đạo. Là trí
thức, các nhà văn cảm nhận sâu sắc nỗi đau của người dân
trong cảnh mất nước, mất tự do và phải sống buồn tẻ, tù túng
bởi cái đói, cái nghèo, bởi sự bất công đầy rẫy trong xã hội.
Thái độ đó thể hiện rõ trong tư tưởng và chủ đề của nhiều tác

3.2 Giao thoa trong quan niệm nghệ thuật về con người
3.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người cá nhân
Con người cá nhân là yếu tố nổi bật trong quan niệm nghệ
thuật về con người của văn xuôi lãng mạn và văn xuôi hiện
thực phê phán thời kì 1932-1945. Quan niệm nghệ thuật về
con người cá nhân chỉ có được từ sự bừng tỉnh ý thức cá
nhân. Văn học lãng mạn nói chung và trong tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn nói riêng, quan niệm về con người cá nhân là
một trong những vấn đề quan trọng xuyên suốt quá trình sáng
tác của khuynh hướng này.Văn học hiện thực phê phán tiếp
thu và thể hiện trên bình diện rộng, đan xen phức tạp của
nhiều yếu tố khác trong quan niệm nghệ thuật (Con người cá
nhân đan xen với quan niệm về con người xã hội - giai cấp).
Khám phá con người bên trong là cách tiếp cận mới, hiện đại,
43
45
có chiều sâu về con người, trở thành mục đích hướng tới của
các tác giả lãng mạn và hiện thực. Miêu tả thế giới nội tâm là
một đặc điểm tiêu biểu của văn học hiện đại.
3.2.2 Con người gắn với hoàn cảnh, chịu sự chi phối của hoàn cảnh
Trong quan niệm nghệ thuật về con người của các tác giả
văn xuôi lãng mạn, các nhà văn cũng cho rằng con người gắn
với hoàn cảnh, chịu sự chi phối của hoàn cảnh.
Các nhà văn hiện thực đã nhìn thấy mối quan hệ biện
chứng giữa con người với hoàn cảnh. Quan niệm nghệ thuật
về con người gắn với hoàn cảnh được các nhà văn hiện thực
thể hiện mang tính quy luật: Hoàn cảnh thay đổi tính cách.
Song không phải bất cứ tác phẩm nào cũng áp dụng một cách
máy móc nguyên tắc nghệ thuật này.
CHƯƠNG 4

chung và xu hướng tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nói riêng. Ta
cũng bắt gặp yếu tố này trong các nhà văn hiện thực tiêu
biểu: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,
4.1.2 Giao thoa trong nghệ thuật tạo dựng tình huống
− Tình huống căng thẳng, giàu kịch tính
Kiểu tình huống căng thẳng, giàu kịch tính xuất hiện với
tần suất cao trong văn xuôi lãng mạn và hiện thực thời kì
1932-1945.
Xuất phát từ ý thức khẳng định con người cá nhân trên
tinh thần dân chủ, các nhà văn lãng mạn thường được đặt
nhân vật của mình trong những tình huống éo le, căng thẳng,
đặc biệt trong các tiểu thuyết mang tính luận đề: Nửa chừng
xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Thoát ly Với tình huống này,
các nhà văn vừa thể hiện ý thức đấu tranh mạnh mẽ chống lễ
giáo phong kiến vừa nhấn mạnh giá trị tố cáo của tác phẩm
47

Trích đoạn Miêu tả tâm lí nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status