1
Lời nói đầu
Thế giới đã và đang diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc. Những thay
đổi đó, một mặt tạo ra những cơ hội thuận lợi cho các nớc đang trên đà phát
triển có thể nắm bắt vơn tới nhằm đạt đợc những mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội, mặt khác đang đặt ra những thách thức, những vấn đề phức tạp hơn mà
mỗi quốc gia phải đối phó giải quyết.
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới đang phát
triển nh vũ bão với tốc độ nhanh trên tất cả các lĩnh vực. Sự phát triển của khoa
học công nghệ đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới.
Hợp tác quốc tế đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển đi lên của mỗi
quốc gia. Để hội nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới, Việt nam cần
phải có các chiến lợc phát triển kinh tế đúng đắn, phù hợp với khả năng của
mình. Chiến lợc tăng trởng dựa vào xuất khẩu là một chiến lợc của toàn bộ
nền kinh tế, của toàn xã hội.
Để khắc phục nguy cơ tụt hậu về kinh tế và thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội đến năm 2000 và các năm tiếp theo. Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VIII đã khẳng định và nhất quán thực hiện Chiến lợc tăng trởng dựa
vào xuất khẩu.
Đã có nhiều bài viết về vấn đề này, tuy nhiên mỗi bài viết lại đề cập đến
một khía cạnh khác nhau, cha nêu lên đợc toàn cảnh trong quá trình thực
hiện. Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề, em lựa chọn đề tài: Chiến lợc tăng
trởng dựa vào xuất khẩu của Việt nam từ nay đến năm 2003.
Trong bài viết, em xin trình bày các nội dung:
Chơng I: Tổng quan chiến lợc tăng trởng dựa vào xuất khẩu.
Chơng II: Chính sách trong chiến lợc thúc đẩy xuất khẩu.
Chơng III: Tình hình xuất khẩu của Việt nam trong thời gian qua.
Chơng IV: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh chiến
lao động sử dụng máy móc. Điều này là hoàn toàn đúng với thực chất của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Song quá trình chuyển biến kỹ thuật đó nh thế nào.
Trong lịch sử đã có các kiểu chuyển biến nào là có hiệu quả và phù hợp với mọi
quá trình phát triển. Đó là vấn đề cần đợc nghiên cứu sâu sắc hơn để tìm ra con
đờng, cách đi công nghiệp hoá thích hợp với nớc ta trong điều kiện khoa học
phát triển nh vũ bão.
Kinh nghiệm công nghiệp hoá của các nớc chỉ ra là có ba kiểu thực hiện
công nghiệp hoá.
Thứ nhất, bằng con đờng cải tiến kỹ thuật sản xuất trong nớc từ kỹ
thuật thủ công lên nửa cơ khí rồi cơ khí hoá, tự động hoá, hoá học hoá hoặc kết
hợp giữa cách tiến tuần tự nhảy vọt từ thủ công lên cơ khí tự động hoá gắn liền
với nó là chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang công - nông nghiệp - dịch vụ.
Đây là chiến lợc truyền thống về công nghiệp hoá.
Thứ hai, vào những năm 50 của thế kỷ này, một số nớc đang phát triển,
sau khi giành đợc độc lập dân tộc đã áp dụng chiến lợc công nghiệp hoá thay
thế nhập khẩu. Về cơ bản, chiến lợc này dựa vào độc lập dân tộc, muốn xây
dựng một nền công nghiệp dân tộc bằng cách tự tạo cho mình một nền khoa học
công nghệ trên cơ sở đóng cửa, bảo hộ sản xuất trong nớc, nhằm sản xuất ra
hàng hoá tiêu dùng trớc đây vẫn phải nhập khẩu.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN3
Thứ ba, thông qua con đờng nhập khẩu ngay từ đầu để tranh thủ những
tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới dựa vào lợi thế so sánh của đất
nớc nhằm đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu, từ đó tiến hành hiện đại hoá đất
nớc. Cách đi này gọi là công nghiệp hoá theo hớng xuất khẩu.
Đối với cách đi thứ nhất, đã có nhiều công trình nghiên cứu và đã có
nhiều kết luận khá rõ ràng. Trong khi đó, cách đi thứ hai và thứ ba đối với nớc
ta và các nớc đang phát triển nói chung còn nhiều vấn đề cần phải đợc tổng
chiến lợc phát triển kinh tế chủ đạo. Phơng pháp luận của chiến lợc thay thế
hàng nhập khẩu là: trớc hết, cố gắng tự sản xuất để đáp ứng đại bộ phận nhu
cầu về hàng hoá và dịch vụ cho thị trờng nội địa. Đảm bảo các nhà sản xuất
trong nớc có thể làm chủ đợc kỹ thuật sản xuất hoặc các nhà đầu t nớc
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN4
ngoài cung cấp công nghệ, vốn và quản lý hớng vào việc cung cấp cho thị
trờng nội địa là chính. Lập các hàng rào bảo hộ để hỗ trợ cho sản xuất trong
nớc có lãi, khuyến khích các nhà đầu t trong những ngành công nghiệp là
mục tiêu phát triển. Các biện pháp thực hiện thay thế nhập khẩu thờng là thuế
quan, bảo hộ, hạn ngạch nhập khẩu và tỉ giá cao.
Việc áp dụng chiến lợc thay thế nhập khẩu đã đem lại sự mở mang nhất
định các cơ sở sản xuất, giải quyết công ăn việc làm bớc đầu thực hiện đô thị
hoá, hình thành các chủ doanh nghiệp có đầu óc kinh doanh. ở Việt nam, trong
giai đoạn hiện nay, áp dụng chiến lợc thay thế hàng nhập khẩu còn nhằm bảo
vệ nền công nghiệp, các nhà sản xuất non trẻ trong nớc có điều kiện phát triển.
Song kinh nghiệm của các nớc đi trớc cho thấy: nếu chúng ta dừng lại
quá lâu ở giai đoạn chiến lợc thay thế nhập khẩu sẽ vấp phải những trở ngại
lớn.
Chiến lợc sản xuất hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu thực chất nhằm
vào thoả mãn nhu cầu trong nớc là chính, chú trọng nhiều đến tự cấp của thị
trờng nội địa. Với chiến lợc nh vậy, ngoại thơng không đợc coi trọng, coi
nhẹ mặt tích cực của kinh tế thế giới đối với sự phát triển kinh tế trong nớc.
Điều này sẽ hạn chế khai thác tiềm năng của đất nớc trong việc phát triển
ngoại thơng. Kinh tế các nớc đang phát triển trong giai đoạn đầu công nghiệp
hoá là nền kinh tế thiếu thốn đủ thứ nh: vốn ít, tổng cầu vợt quá tổng cung,
thờng thông qua nhập khẩu để cân bằng xu thế này và không thể khắc phục
đợc ngay trong thời gian ngắn. Nếu chúng ta hạn chế quá mức việc nhập khẩu,
Thay thế cho việc kiểm soát nhập khẩu để tiết kiệm ngoại tệ và kiểm soát
tài chính là khuyến khích mở rộng nhanh chóng khả năng xuất khẩu.
Hạn chế bảo hộ công nghiệp địa phơng mà thực chất thay thế vào đó là
nâng đỡ, hỗ trợ cho các ngành hàng xuất khẩu. Mục tiêu cơ bản của chiến lợc
này là dựa vào mở mang đầu t trong nớc và đầu t trực tiếp cũng nh hỗ trợ
của T bản nớc ngoài để tạo ra khả năng cạnh tranh cao của hàng xuất khẩu.
Nhờ áp dụng chiến lợc này, nền kinh tế nhiều nớc đang phát triển trong
vài ba thập kỷ qua đã đạt đợc một tốc độ tăng trởng cao, một số ngành công
nghiệp, đặc biệt là các ngành chế biến xuất khẩu đạt trình độ tiên tiến, có khả
năng cạnh tranh trên thị trờng thế giới.
Tuy nhiên áp dụng chiến lợc này cũng bộc lộ những nhợc điểm:
Do tập trung hết khả năng cho xuất khẩu và các ngành có liên quan, nên
dẫn đến tình trạng mất cân đối trầm trọng giữa các ngành xuất khẩu và không
xuất khẩu.
Do ít chú ý tới các ngành công nghiệp phát triển thiết yếu nhất nên mặc
dù tốc độ tăng trởng nhanh, nhng nền kinh tế đã gắn chặt vào thị trờng bên
ngoài và dễ bị tác động bởi những sự biến đổi thăng trầm của thị trờng các
nớc lớn.
Các nớc NIC
s
và các nớc ASEAN đã nhanh chóng trở thành các con
rồng chính là nhờ thực hiện thành công chiến lợc hớng về xuất khẩu. Tuy
nhiên quá trình thực hiện chiến lợc này không phải ở các nớc đều nh nhau
mà thờng đợc vận dụng phù hợp với những nét đặc thù của mỗi nớc. Có
nớc thực hiện chiến lợc hớng về xuất khẩu gắn bó hoàn toàn với thị trờng
bên ngoài. Có nớc kết hợp giữa hớng vào xuất khẩu với việc củng cố thị
trờng nội địa... Thực tế cho thấy nếu nền kinh tế mở cửa nhng phụ thuộc
hoàn toàn vào thị trờng quốc tế sẽ dẫn đến mất ổn định kinh tế trong nớc.
Trong điều kiện thế giới diễn ra cạnh tranh gay gắt, chính sách mở cửa phù
hợp là mở cả hai hớng: thị trờng thế giới và thị trờng nội địa.
giới. Với một nớc nhỏ, thị trờng hạn hẹp. Để nền kinh tế hoạt động có hiệu
quả, tăng trởng dung lợng thị trờng. Một nền kinh tế hớng vào xuất khẩu có
thể tăng trởng nhanh vì sức gia tăng của tổng cầu không bị bó hẹp trong khuôn
khổ cầu nội địa.
Thứ hai, xét về khả năng thực hiện. Chiến lợc công nghiệp hoá hớng về
xuất khẩu, về thực chất là dựa trên lôgic của kinh tế thị trờng trong điều kiện
nền kinh tế thế giới vận động theo xu hớng toàn cầu hoá. Chiến lợc này có
nhiều quốc gia thực hiện và cũng đã thu đợc những thành công vì nó cho phép
tận dụng tối đa lợi thế so sánh của đất nớc là hiệu quả kinh tế theo quy mô và
khả năng chiếm dụng vốn.
Hiệu quả kinh tế theo quy mô hay lợi suất tăng dần theo quy mô có nghĩa
là hầu hết các hàng hoá đợc sản xuất ra đắt hơn khi sản xuất với khối lợng
nhỏ và trở lên rẻ hơn khi quy mô sản xuất tăng lên. Hiệu quả kinh tế theo quy
mô rất quan trọng cho nền thơng mại quốc tế của các nớc nhỏ nh Việt nam,
phạm vi các hàng hoá mà theo đó họ có thể có đợc quy mô hiệu quả trong sản
xuất bị giới hạn nhiều hơn so với nớc lớn. Điều này cho thấy tại sao Việt nam
mở rộng thơng mại quốc tế với các nớc.
Khả năng chiếm dụng nguồn lực, một lý do chủ yếu của việc hớng ngoại
là ở chỗ các nớc có những khả năng chiếm dụng khác nhau về nguồn lực, tức là
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN7
họ có những nguồn cung cấp khác nhau về cái mà nhà kinh tế gọi là các yếu tố
sản xuất. Với một nguồn lực riêng lẻ tơng đối phong phú của Việt nam thì
việc sản xuất ra các sản phẩm sử dụng nhiều loại nguồn lực cũng rẻ hơn. Do đó,
việc hớng tới xuất khẩu các sản phẩm này là một tất yếu.
Ngoài những tất yếu trên của việc chuyển sang chiến lợc hớng về xuất
khẩu, còn một tất yếu quan trọng khác nữa đó là do vai trò quan trọng của xuất
khẩu đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
khẩu thu hút đợc hàng triệu lao động trong các ngành sản xuất các mặt hàng
xuất khẩu, đặc biệt là trong ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp,
những ngành đó đòi hỏi ngời lao động phải có kỹ thuật khéo léo, chăm chỉ.
Chẳng hạn nh mấy năm gần đây, mặt hàng dệt may của Việt nam đã đợc xuất
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN8
khẩu sang Nhật Bản với số lợng đáng kể. Trớc đây, Nhật Bản chủ yếu nhập
khẩu nguyên liệu dệt may (vải và sợi) thì nay nghiêng về nhập khẩu những quần
áo may sẵn với yêu cầu cao về chất lợng, mẫu mã, kiểu dáng và màu sắc. Từ
việc thay đổi cơ cấu mặt hàng trong t duy ngời Nhật Bản đã giải quyết phần
nào số lao động của ta trong ngành may.
Đồng thời với việc thu hút sử dụng lao động, hoạt động xuất khẩu cũng có
tác động tích cực tới trình độ tay nghề cũng nh nhận thức về công việc của
công nhân làm hàng xuất khẩu. Những sản phẩm mà thị trờng nớc ngoài yêu
cầu mà ta có khả năng sản xuất đã đợc đa vào sản xuất một cách nhanh chóng
và kịp thời. Nhờ vậy đã giải quyết công ăn việc làm cho một số ngời.
Mặt khác, thông qua hoạt động xuất khẩu cũng góp phần thúc đẩy quan
hệ đối ngoại với tất cả các nớc nhất là đối với các nớc trong khu vực Đông
Nam á nhằm nâng cao uy tín của Việt nam trên trờng quốc tế, thực hiện tốt
chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nớc Đa dạng hoá và đa phơng hóa
quan hệ kinh tế, tăng cờng hợp tác khu vực. Thật vậy, xét về mặt hiệu quả và
tác dụng thì việc xuất khẩu là một vấn đề không thể thiếu đợc đối với nhập
khẩu và cũng là để tranh thủ tín dụng quốc tế. Hiện tại trong điều kiện phát triển
một nền kinh tế đối ngoại thì xuất khẩu tạo ra thị trờng kích thích phát triển
sản xuất trong nớc đặc biệt là nông nghiệp và công nghiệp chế xuất. Qua đó
xuất khẩu kích thích việc tăng năng suất lao động nâng cao chất lợng và cải
tiến cơ cấu hàng hoá để có thể cạnh tranh đợc với các bạn hàng trên thế giới.
Không những thế, việc xuất khẩu còn cho phép mở rộng quy mô sản xuất và từ
nghệ, gốm sứ, mây tre... vốn có truyền thống nay đã xuất khẩu đợc khối lợng
đáng kể và cũng đã chiếm lĩnh đợc thị trờng khu vực và thế giới.
Ngoài ra xuất khẩu còn có vai trò lớn trong sự tăng cờng hợp tác quốc tế
giữa các nớc, nâng cao vị trí của Việt nam trên trờng quốc tế. Chẳng hạn nh
nhờ chúng ta xuất khẩu dầu thô và gạo đạt đến khối lợng lớn mà nhiều nớc
muốn thiết lập quan hệ buôn bán và đầu t với nớc ta. Nh vậy trong điều kiện
nớc ta hiện nay, việc đẩy mạnh xuất khẩu là biện pháp hữu hiệu và đồng thời là
hớng phát triển có tính chiến lợc.
III. Những căn cứ và điều kiện để thực hiện chiến
lợc tăng trởng dựa vào xuất khẩu.
1. Những căn cứ để xây dựng định hớng phát triển xuất khẩu.
Trên thực tế ta thấy, bất cứ một ngành sản xuất hay kinh doanh nào muốn
thu đợc kết quả cao đều phải biết khai thác và phát huy triệt để những lợi thế
sẵn có ở bên trong cũng nh bên ngoài một cách đúng đắn và hợp lý. Đối với
hoạt động xuất khẩu của Việt nam cũng cần phải tận dụng những nguồn tiềm
năng để mang lại hiệu quả ngày một cao hơn.
1.1. Những thuận lợi và thách đố trong nớc.
Thuận lợi:
Về vị trí địa lý nớc ta là một nớc Đông Nam á, nằm trong khu vực
Châu á - Thái Bình Dơng - khu vực đợc coi là năng động, có tầm chiến
lợc ngày càng quan trọng trong đời sống chính trị và kinh tế thế giới. Vị trí của
Việt nam nằm trên tuyến đờng giao lu hàng hải quốc tế từ các nớc SNG,
Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Triều Tiên sang các nớc Nam á, Trung Đông và
Châu Phi. Với vị trí thuận lợi nh vậy tạo điều kiện thuận lợi cho Việt nam tham
gia vào phân công lao động quốc tế và trong sự hợp tác với các nớc trong khối
ASEAN, trong khu vực và các nớc trên thế giới một cách dễ dàng. Mặt khác nó
cũng góp phần đẩy mạnh hoạt động thơng mại nói chung, đặc biệt là hoạt động
xuất nhập khẩu.
Không những thế, Việt nam còn có biển chạy dọc chiều dài đất nớc.
vực và trên thế giới. Cụ thể nh năm 1995, tốc độ tăng trởng 9,5%; năm 1996
là 9,3%; năm 1997 là 9%. Chúng ta có sự cải thiện liên tục tình hình kinh tế
pháp luật và chính sách thơng mại thông thoáng. Đó là những nhân tố tạo niềm
tin và sức hấp dẫn cho các đối tác nớc ngoài.
Thách đố:
Bên cạnh những cơ hội thì chúng ta cũng còn gặp rất nhiều khó khăn
trong sự nghiệp công nghiệp hoá đất nớc. Bởi vì xuất phát điểm của chúng ta
quá thấp. Thách thức gay gắt nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới. Mỹ và phơng tây tiếp tục mu toan
thực hiện chiến lợc diễn biến hoà bình ở Việt nam, gây áp lực đối với nớc ta
về vấn đề dân chủ, nhân quyền, đa nguyên đa đảng. Nền kinh tế trong
nớc còn nhiều yếu kém, hiện tợng tham ô tham nhũng vẫn xảy ra nghiêm
trọng - có thể gọi là một quốc nạn. Đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế đối
ngoại, cụ thể là cán bộ ngành xuất nhập khẩu vừa thiếu lại vừa yếu, tổ chức bộ
máy kém hiệu quả.
1.2. Những nhân tố quốc tế và khu vực.
Thế giới ngày nay đang có những thay đổi nhanh chóng và sâu sắc trên
nhiều mặt. Một trật tự thế giới mới đang từng bớc hình thành theo hớng tạo
nên một sự cân bằng mới về lực lợng giữa các quốc gia. Ngày nay các nớc
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN11
đều giành u tiên cao cho phát triển kinh tế, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm
chuẩn mực. Hơn nữa, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ
với nội dung nổi bật là điện tử và tin học hoá, vật liệu mới... làm quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhiều nớc diễn ra nhanh hơn. Xu thế toàn cầu
hoá và khu vực hoá đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy quốc gia mở rộng thị
trờng.
Hiện nay trong quan hệ kinh tế quốc tế ở Việt nam đã có nhiều thay đổi
chính thức gia nhập APEC. Khi chúng ta gia nhập vào các tổ chức này, chúng ta
phải làm theo những quy định của tổ chức này. Trong đó quan trọng nhất là
những quy định về hàng rào thuế quan giữa các nớc. Chúng ta phải đối phó với
sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng quốc tế, chịu ảnh hởng của xu thế tự do
hoá thơng mại, của biến động giá cả quốc tế, lãi suất, tình hình cung cầu hàng
hoá và vốn đầu t, nhu cầu đa dạng của thị trờng.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN12
Kể từ đầu tháng 7/1997 khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực với tâm
điểm là Thái lan đã lan rộng sang các nớc Đông Nam á, khiến đồng tiền của
các nớc cũng bị giảm giá theo, ảnh hởng xấu đến tình hình kinh tế - chính trị
trong khu vực. Khủng hoảng đang và sẽ tiếp tục tác động tới Việt nam theo tất
cả các kênh. Nguy cơ lớn nhất mà cuộc khủng hoảng đặt ra cho chúng ta là nếu
không nhận thức đầy đủ những thách thức trong quá trình phát triển kinh tế đất
nớc, hội nhập và bắt kịp trình độ khu vực... thì rất có thể sau một vài năm nữa
thôi, khoảng cách chênh lệch, sự tụt hậu giữa Việt nam và các nớc khu vực
càng đậm nét.
2. Điều kiện để thực hiện chiến lợc tăng trởng dựa vào xuất khẩu.
Phải giữ mức tăng trởng cao và ổn định, giữ lạm phát ở mức vừa phải,
lạm phát một con số là tốt, ( tỉ lệ lạm phát dới 10%), đồng thời phát huy nội lực
để phát triển. Nghị quyết Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng lần thứ 4 (Khoá
VIII) với t tởng xuyên suốt là tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khơi dậy
và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, ra sức cần kiệm để
công nghiệp hoá, hiện đại hoá...
Tiếp tục đa dạng hoá các quan hệ kinh tế thơng mại và đa dạng hoá thị
trờng. Việt nam hội nhập vào kinh tế thế giới khi mà thị trờng đã bị phân chia
hoặc là cha đợc phân chia nhng độ ổn định thấp.
Từ đặc điểm cơ bản ấy đòi hỏi chúng ta phải xâm nhập vào thị trờng thế
chuyển sang chất lợng phù hợp với nhu cầu của ngời tiêu dùng.
Các nớc nh Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan và nhiều nớc khác trên
thế giới đã rất thành công trong chiến lợc hớng về xuất khẩu, phần là họ đã
vận dụng tốt quan điểm này để đa ra thị trờng các hàng hoá dịch vụ có độ đa
dạng về cấp chất lợng. Việt nam chúng ta nên học tập những thành tựu đã đạt
đợc của họ.
Hoàn thiện hệ thống tổ chức và phơng thức kinh doanh có hiệu quả
nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế và các loại hình
doanh nghiệp. Để đẩy mạnh xuất khẩu không chỉ có nhờ thị trờng tiêu thụ
hàng hoá hoặc chờ hàng hoá đợc sản xuất ra có đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu mà
còn phải có các doanh nghiệp và các doanh gia có khả năng tổ chức và thực hiện
tốt nhiệm vụ xuất khẩu. Trong quá trình hoàn thiện hệ thống tổ chức sản xuất và
kinh doanh thơng mại nhằm thực thi chiến lợc hớng mạnh về xuất khẩu còn
quan tâm đến các vấn đề sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh xuất khẩu cần dựa chủ yếu vào các doanh nghiệp của
Việt nam hoặc doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn nớc
ngoài, nhng chúng ta vẫn phải dựa vào các doanh nghiệp trong nớc của ta là
chủ yếu.
Thứ hai, để định hớng và phát triển bền vững theo định hớng xã hội chủ
nghĩa của Đảng và nhà nớc ta, cần củng cố, nâng cao hiệu quả kinh tế của
doanh nghiệp nhà nớc nhng đồng thời cũng hỗ trợ các thành phần kinh tế
khác đẩy mạnh xuất khẩu.
Thứ ba, để xâm nhập vào thị trờng thế giới cần tập trung hỗ trợ một số
doanh nghiệp mạnh hoặc chú trọng các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiện nay, vị
trí các nhà xuất khẩu của Việt nam trên thị trờng thế giới còn thấp. Vì vậy cần
củng cố một số tổng công ty mạnh để tạo đà phát triển và có vị trí mới không
chỉ cho họ mà còn cho cả Việt nam. Bên cạnh đó, do xu hớng hội nhập vì thế
một số doanh nghiệp vừa và nhỏ nên liên kết với nhau tạo ra sức mạnh mới.
Thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp.
Điều kiện về môi trờng kinh doanh: phải xác lập môi trờng kinh doanh
nghĩa là xem nhẹ nhu cầu trong nớc, không chú ý thay thế nhập khẩu.
Chiến lợc tăng trởng dựa vào xuất khẩu nhằm:
Để đảo bảo kim nghạch nhập khẩu phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nớc
Gắn sản xuất và nền kinh tế trong nớc với các hoạt động của nền kinh tế thế
giới, nối kết các nền kinh tế với nhau và tạo ra một không gian kinh tế rộng
lớn hơn nhờ liên kết và buôn bán quốc tế.
Tăng kim ngạch xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trởng kinh tế và tạo ra
ngoại tệ để nhập khẩu. Khai thác có hiệu quả lợi thế tuyệt đối và tơng đối
của đất nớc, kích thích các ngành kinh tế phát triển. Buộc các ngành kinh
tế, các cơ sở sản xuất kinh doanh phải đổi mới công nghệ, tiếp thu kỹ thuật
mới, phát huy lợi thế của các nớc đi sau để đi tắt vào kỹ thuật tiên tiến nhất.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN15
Góp phần tăng tích luỹ và sử dụng vốn trong nớc. Tận dụng đợc nguồn vốn
của nớc ngoài có tính đến kinh nghiệm của các nớc đi trớc.
Nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nớc.
Thúc đẩy phát triển quan hệ đối ngoại giữa các nớc, nâng cao uy tín của
Việt nam trên trờng quốc tế và khu vực.
II. Chính sách phát triển thúc đẩy xuất khẩu ở
Việt nam.
Việc đa ra một chính sách hớng về xuất khẩu với những nội dung phù
hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt nam là vô cùng quan trọng. Chiến lợc
tăng trởng dựa vào xuất khẩu thực chất là chiến lợc phát triển kinh tế. Nó
không phải là nhiệm vụ của một ngành cụ thể mà nó là nhiệm vụ của các ngành
kinh tế, dịch vụ khác. Nó không phải chỉ là nhiệm vụ của cơ quan xuất nhập
khẩu mà nó còn là của cơ quan quản lý, cơ quan sản xuất, cơ quan ra quyết
định. Phấn đấu đạt một nền ngoại thơng tơng đối phát triển, năm 2000 bình
một mặt nâng cao giá trị hàng xuất khẩu mặt khác tận dụng đợc lao động trong
nớc. Kêu gọi vốn đầu t nớc ngoài để chế biến thành sản phẩm những ngành
cần đầu t nhiều vốn để một phần thay thế hàng nhập khẩu.
Thứ ba, nâng cao chất lợng hàng hoá xuất khẩu để tăng sức cạnh tranh
hàng hoá của ta trên thị trờng quốc tế.
Thứ t, tạo ra những ngành hàng xuất khẩu mới có giá trị cao mạnh dạn
đào thải những mặt hàng xuất khẩu không mang lại hiệu quả kinh tế. Tiến hành
phát triển quy hoạch các mặt hàng chủ lực để xuất khẩu.
2. Chính sách gắn sản xuất với xuất khẩu.
Chính sách này có tầm quan trọng trong việc đẩy mạnh hàng xuất khẩu.
Chúng ta cần phải thấy đợc mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại giữa sản
xuất và xuất khẩu. Sản xuất tốt thì xuất khẩu tốt, kinh tế tăng trởng và ngợc
lại. Sản xuất là điều kiện cần của xuất khẩu. Muốn tạo ra đợc hàng hoá xuất
khẩu chiếm lĩnh đợc thị trờng thì khâu sản xuất phải đợc chú trọng, để tạo ra
sản phẩm chất lợng tốt, giá thành hạ. Muốn vậy phải tạo điều kiện để ngời sản
xuất hiểu biết về thị trờng của từng nớc, từng khu vực trên thế giới và thị
trờng trong nớc. Thiết lập tốt mối quan hệ bạn hàng với các tổ chức và cá
nhân kinh doanh xuất nhập khẩu trong và ngoài nớc thực hiện phơng châm
Buôn có bạn, bán có phờng thực hiện các chính sách u đãi đối với các nhà
sản xuất hàng xuất khẩu nh: các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đợc
miễn thuế doanh thu. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu tăng lợi nhuận
đầu t vào sản xuất hàng xuất khẩu đợc giảm thuế lợi tức, các doanh nghiệp
gia công hàng hoá cho nớc ngoài đợc miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị,
vật t tiêu dùng cho gia công hàng, tiền gia công hàng đợc miễn thuế doanh
thu. Vật t hàng nhập khẩu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu đợc hoàn lại thuế
nhập khẩu đã nộp.
3. Chính sách mở cửa thị trờng.
Để thúc đẩy chiến lợc hớng về xuất khẩu, Đảng và nhà nớc chủ trơng
mở rộng và tăng cờng hoạt động kinh tế đối ngoại, thực hiện phơng châm mở
cửa. Việt nam muốn làm bạn với tất cả các nớc, các tổ chức kinh tế quốc tế,
chế biến thức ăn gia súc, sản xuất hàng dệt, hàng tiêu dùng...
Với Philippin, ta cần thúc đẩy buôn bán hai chiều đồng thời xúc tiến các
liên doanh về lắp ráp ôtô, khai thác cát trắng, công nghiệp chế biến nông, lâm,
hải sản...
Với Indonesia ta có điều kiện tiếp tục buôn bán hai chiều nhập phân bón,
sắt thép thành phẩm và có thể hợp tác với Indonesia về các lĩnh vực dịch vụ
khách sạn, ngân hàng, hơi đốt, sản xuất URE, khai thác than...
Với Brunei, ta có thể liên doanh về hàng không, dịch vụ tranh thủ vốn và
hợp tác lao động.
Thị trờng Nhật bản: nhật bản hiện nay đã trở thành trung tâm giao dịch
chứng khoán, tiền tệ lớn thế giới. Nhật bản có thế mạnh về kinh tế, công nghiệp,
thơng mại và thị trờng. Nhật bản đang hớng vào các hoạt động tiền tệ vào
Châu á muốn tăng cờng buôn bán, đầu t vào các nớc Châu á. Trong nhiều
năm qua Nhật bản là thị trờng quan trọng của Việt nam. Nhật bản nhập khẩu
phần lớn là dầu thô, than đá, hàng thuỷ sản của Việt nam. Chính sách của Việt
nam chú trọng vào thị trờng này là vì Nhật bản đã mở lại viện trợ phát triển
cho Việt nam vay. Nhật bản cần nhiều thứ của Việt nam nh dầu thô hàng công
nghiệp may mặc, than đá, các mặt hàng thuỷ sản. ngợc lại, nớc ta cần nhập
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN18
khẩu nhiều thứ của Nhật nh máy móc, trang thiết bị điện tử tin học, nguyên
liệu, phân bón, hàng tiêu dùng...
thị trờng liên hiệp Châu âu Eu (European Union). Eu là thị trờng lớn.
Trong quá khứ chúng ta ít buôn bán với thị trờng này bởi chính sách phong toả
kinh tế đối với các nớc XHCN của các nớc đế quốc. Nhng từ khi Liên xô và
các nớc Đông Âu tan rã quan hệ thơng mại, đầu t Việt nam vào Eu đợc cải
thiện. Đặc biệt sau những chuyến viếng thăm của các vị lãnh đạo cao cấp nhà
nớc ta. Quan hệ kinh tế giữa Eu và Việt nam đợc tăng cờng. Việt nam tiếp
mỏ của toàn thế giới; hầu hết các nớc trong khu vực đã có quan hệ ngoại giao
với Việt nam (trừ Saudi Arabi), một số nớc đã có quan hệ kinh tế, thơng mại,
đã có ký kết hiệp định thơng mại và thành lập uỷ ban hỗn hợp liên Chính phủ
với Việt nam nh Iraq, Libi, Ai cập... Các mặt hàng xuất khẩu của Việt nam
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN19
sang khu vực Trung Đông là gạo, chè đen. Để tăng kim ngạch xuất khẩu của ta
trong những năm tới, việc tìm kiếm và mở rộng thị trờng cho hàng xuất khẩu là
cần thiết. Trung Đông - một thị trờng có sức tiêu thụ lớn, các công ty xuất
khẩu của ta cần thâm nhập hơn nữa vào thị trờng này.
4. Chính sách đầu t trong và ngoài nớc.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ: "Cần huy động mọi nguồn
vốn trong và ngoài nớc để đầu t phát triển, trong đó vốn trong nớc có ý nghĩa
quyết định, vốn ngoài nớc có ý nghĩa quan trọng ...
Đầu t nớc ngoài là một bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động đầu t
của quốc gia. Trong những năm trớc mắt khi mà nguồn vốn tích luỹ nội bộ còn
hạn hẹp thì đầu t nớc ngoài chiếm vị trí quan trọng. Thông qua đầu t trực
tiếp của nớc ngoài chúng ta tranh thủ đợc vốn, kỹ thuật và công nghệ mới, mở
rộng thị trờng ngoài nớc, tiếp thu kinh nghiệm tiên tiến, trên cơ sở đó xây
dựng những cơ sở kinh tế mới, hiện đại hoá cơ sở hiện có nhằm tạo việc làm cho
ngời lao động, khai thác một phần những tiềm năng của đất nớc để tăng
nhanh nguồn hàng xuất khẩu.
Hoạt động đầu t nớc ngoài đóng vai trò to lớn trong việc thực hiện
chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu. Hiện nay khu vực có đầu t
nớc ngoài chiếm 100% sản lợng dầu thô, 44,8% sản lợng thép... Trong tổng
kim ngạch xuất khẩu năm 1996 phần đóng góp của khu vực có vốn đầu t nớc
ngoài chiếm 11% nếu tính cả xuất khẩu dầu thô thì tỷ lệ này nên đến 25%.
Trong thời gian vừa qua, khủng hoảng tài chính tiền tệ ở các nớc Đông
doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt.
Việt nam đã có những u đãi cần thiết cho nhà đầu t chẳng hạn: Toàn bộ
thiết bị đầu t nhập khẩu để hình thành xí nghiệp, nguyên vật liệu nhập khẩu để
sản xuất hàng xuất khẩu đều đợc miễn thuế nhập khẩu. Tuỳ theo từng dự án,
các nhà đầu t phải nộp thuế lợi tức 10%, 15%, 20% hoặc 25% (trừ dầu khí,
vàng bạc, đá quý, thuế lợi tức có thể cao hơn). Các dự án đầu t có thể đợc
miễn giảm thuế lợi tức tối đa là miễn 4 năm và giảm 4 năm tiếp theo kể từ khi
liên doanh có lãi. Các nhà đầu t đợc phép chuyển lợi nhuận về nớc hoặc sang
nớc thứ 3 và chịu mức thuế chuyển lợi nhuận 5%, 7% hoặc 10% tuỳ theo từng
dự án. Trong trờng hợp họ không chuyển lợi nhuận ra khỏi Việt nam mà tái
đầu t ở Việt nam thì đợc hoàn lại toàn bộ thuế lợi tức cho số lợi nhuận tái đầu
t đó.
Trong kỳ họp Quốc hội vừa qua, luật thuế giá trị gia tăng đã đợc thông
qua và sẽ đợc áp dụng từ 1/1/1999 trong đó quy định mức thuế 0% đối với tất
cả các hàng hoá xuất khẩu và các hàng hoá này còn đợc thoái trả thuế giá trị
gia tăng ở các khâu trớc. Đây thực sự là biện pháp tài chính khuyến khích xuất
khẩu tích cực của Việt nam
5.2. Hạn ngạch xuất khẩu.
Hàng năm bộ thơng mại công bố danh mục các mặt hàng quản lý bằng
hạn ngạch. Bên cạnh đó giảm dần các mặt hàng quản lý hạn ngạch kể cả xuất
khẩu và nhập khẩu trừ các hạn ngạch đối với các mặt hàng có cam kết số lợng
với nớc ngoài mà Việt nam cần phải thực hiện.
Việc dành hạn ngạch xuất khẩu để phân bố cho các địa phơng, đơn vị
sản xuất thông qua các bộ, ngành hàng nh hiện nay vừa gây phiền hà cho cơ
sở, vừa không phù hợp với kinh tế thị trờng. Các địa phơng, các đơn vị sản
xuất cố giành cho đợc quota mặc dù thiếu vốn, không có thị trờng, thiếu
phơng tiện kinh doanh, không có khả năng thực hiện. Điều đó tất yếu dẫn đến
tình trạng mua bán quota vòng vèo. Do vậy cần hoàn thiện phơng thức phân bố
quota theo nguyên tắc Một cửa chỉ phân cho các đơn vị đã có quyền xuất
khẩu trực tiếp theo nhóm hàng xuất khẩu đem lại hiệu quả cao. Tiến tới phân bổ
Khi làm thủ tục hải quan thông thờng phải kiểm tra t cách pháp nhân
của doanh nghiệp cũng nh kiểm tra các chứng từ có hợp lệ và đúng quy định
không.
5.5. Quản lý ngoại tệ.
Đa số các nớc đang phát triển đều quy định cho các nhà xuất khẩu phải
chuyển khoản ngoại tệ thu đợc vào ngân hàng thơng mại đợc phép kinh
doanh ngoại tệ. Nhng cũng có nhiều nớc cho phép dùng số ngoại tệ thu đợc
do xuất khẩu để nhập khẩu hàng hoá cần thiết. ở Việt nam, nhà nớc cấm gửi
ngoại tệ thu đợc do xuất khẩu vào các ngân hàng ở nớc ngoài.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN22
5.6. Tỉ giá hối đoái.
Sự thay đổi tỷ giá hối đoái là nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến hiệu quả
xuất khẩu và đơng nhiên nó ảnh hởng đến việc khuyến khích xuất khẩu. Tỷ
giá hối đoái liên quan chặt chẽ đến quản lý kinh tế vĩ mô. Vì vậy chính sách tỷ
giá hối đoái luôn đợc xem xét trong bối cảnh của chính sách quản lý kinh tế vĩ
mô. Vấn đề là cần phải có chính sách về tỷ giá hối đoái linh hoạt đáp ứng sự
thay đổi nhanh chóng của thị trờng trong và ngoài nớc. Bởi vì tỷ giá hối đoái
có thể làm cho những cố gắng trong sản xuất để xuất khẩu tăng thêm phần lớn
giá trị hoặc hoàn toàn uổng công. Một chính sách về tỷ giá linh hoạt là một
chính sách luôn giữ cho kim ngạch xuất khẩu có thể cân bằng với kim ngạch
nhập khẩu trong mọi biến động giá cả ở thị trờng nội địa và thị trờng thế giới.
Không nên để tỷ giá đồng tiền Việt nam và đồng tiền nớc ngoài chênh lệch quá
xa so với tỷ giá trên thị trờng.
6. Chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu.
Việc đẩy mạnh xuất khẩu đòi hỏi phải có một khuôn khổ tổ chức có hiệu
quả để giải quyết các lĩnh vực nh: thu thập thông tin, phân phối thông tin và
phơng pháp kinh doanh của các đơn vị kinh tế của ta không thể thoát ly khỏi
thông lệ quốc tế, trái lại phải phù hợp và tuân thủ với thông lệ quốc tế. Chính vì
vậy, vấn đề đào tạo cán bộ về luật thơng mại quốc tế, về cách làm ăn với nớc
ngoài, về tiếp thị thị trờng, bạn hàng... cần đợc giải quyết trong các năm tới.
8. Tham gia các tổ chức kinh tế thế giới.
Trên thị trờng thế giới đang diễn ra sự đấu tranh gay gắt giữa hai xu
hớng tự do hoá thơng mại và xu hớng bảo hộ mậu dịch. Trong điều kiện đó
tham gia các tổ chức quốc tế có vai trò nh một giải pháp trung hoà để tạo nên
các khu vực thị trờng tự do cho các thành viên.
Liên kết kinh tế quốc tế nhằm thc hiện điều chỉnh có ý thức và phối hợp
các chơng trình phát triển kinh tế với những thoả thuận có đi có lại của các
thành viên. Nó là bớc quá độ trong quá trình vận động của nền kinh tế thế giới
theo hớng toàn cầu hoá.
Thông qua việc phối hợp các chơng trình phát triển mà khai thác triệt để
lợi thế so sánh của mỗi bên, tạo nên một cơ cấu sản xuất và cơ cấu xuất nhập
khẩu có hiệu quả cao, thúc đẩy mở rộng trao đổi mậu dich quốc tế cũng nh
kích thích đầu t quốc tế và các hoạt động khác giữa các thành viên.
Vì vậy, Việt nam cần phải tích cực tham gia các tổ chức kinh tế ở khu vực
và trên thế giới. Việt nam đang là thành viên của ASEAN thì cần phải phát huy
và nâng cao hơn nữa địa vị và vai trò của mình. Việt nam tham gia và cam kết
thực hiện tốt các vấn đề với AFTA, tiến tới ra nhập Apec (tháng 11/1998 Việt
nam sẽ ra nhập Apec) và tham gia vào tổ chức thơng mại quốc tế WTO.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN24
Chơng iii
tình hình xuất khẩu của việt nam
trong thời gian qua
25
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu của việt nam
qua những năm đổi mới 1986-1998
Đơn vị tính:triệu USD
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu
1986 789 2155 2944
1987 854 2455 3309
1988 1038 2756 3794
1989 1946 2566 4512
1990 2402 2752 5154
1991 2087 2388 4475
1992 2581 2641 5125
1993 2985 3924 6904
1994 3600 4500 8100
1995 5300 6500 11.800
1996 7255 11.144 18.399
1997(ớc) 8700 11.100 19.800
1998(KH) 11.000 13.200 24.200
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 1995-1996 và 1996-1997.
Bộ Kế hoạch & đầu t.
Từ số liệu cho chúng ta thấy kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 1991-1995 tăng
gấp 2 - 3 lần so với thời kỳ 1986 - 1990. Trong đó xuất khẩu tăng 3 lần, nhập
khẩu tăng xấp xỉ 2 lần. Trong 5 năm 1991 - 1995 tốc độ tăng xuất khẩu bình
quân là 20% năm, nhập khẩu tăng 22% năm. Kim ngạch xuất khẩu tính theo
bình quân đầu ngời tăng đều qua các năm (năm 1991 là 30USD/ngời/năm,
năm 1995 là 73USD/ngời /năm, năm 1996 từ 90 - 100 USD/ngời/ năm). Tốc
độ xuất khẩu tăng nhanh vợt xa tốc độ tăng GDP. Thời kỳ 1991 - 1995 tốc độ
tăng xuất khẩu gần gấp 3 lần tốc độ tăng GDP.
Trong 5 năm 1991-1995 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 17 tỷ USD,