Nghiên cứu xử lý bã thải dong riềng làm phân hữu cơ sinh học tại huyện đà bắc, tỉnh hoà bình - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI








TRẦN THỊ HẢI
NGHIÊN CỨU XỬ LÝ BÃ THẢI DONG RIỀNG
LÀM PHÂN HỮU CƠ SINH HỌC
TẠI HUYỆN ðÀ BẮC - TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : KHOA HỌC ðẤT
Mã số : 60.62.15

Người hướng dẫn khoa học: TS. CAO KỲ SƠN

LỜI CẢM ƠN

Lời ñầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS.
Cao Kỳ Sơn, Giám ñốc Trung tâm Nghiên cứu phân bón và dinh dưỡng cây
trồng, Viện Thổ nhưỡng- Nông hóa, người ñã tận tình hướng dẫn, giúp ñỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn ThS. Nguyễn Thiếu Hùng, Trung tâm
Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ- Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm,
Ban lãnh ñạo Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Ban lãnh ñạo Trung
tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ, các cán bộ Bộ môn Vi sinh- Viện Thổ
nhưỡng Nông Hóa cùng các bạn ñồng nghiệp ñã tạo ñiều kiện thuận lợi cho tôi
thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới PGS. TS. Nguyễn Xuân
Thành, Trưởng khoa Tài nguyên và Môi trường, PGS.TS. Nguyễn Hữu
Thành, Trưởng bộ môn Khoa học ñất, các thầy cô Khoa Tài Nguyên và Môi
trường và anh, chị, em cán bộ Viện ñào tạo sau ñại học- Trường ðại học
nông nghiệp Hà Nội ñã giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành ñề tài.
Lời cuối cùng là lòng biết ơn vô hạn dành cho cha mẹ, cùng tất cả thành
viên trong gia ñình luôn ñộng viên, giúp sức cho tôi ñược học tập và nghiên cứu.

Tác giả Trần Thị Hải Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

iii

12

3. ðỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
34

3.1. ðối tượng nghiên cứu 34

3.2. Phạm vi nghiên cứu 34

3.3. Nội dung nghiên cứu 34

3.4. Phương pháp nghiên cứu 34

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1. Khái quát về vùng trồng dong riềng của huyện ðà Bắc 39

4.1.1. Vị trí ñịa lí và ñiều kiện tự nhiên 39

4.1.2. Vị trí của cây dong riềng trong hệ thống cây trồng hàng năm 41

4.1.3. Các ñiều kiện liên quan ñến phát triển sản xuất cây dong riềng 42

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

iv

4.1.4. Vấn ñề phát triển chế biến dong riềng 44


4.9. Hiệu quả kinh tế sản xuất phân hữu cơ sinh học từ bã thải dong
riềng
61

4.10. Xây dựng qui trình kỹ thuật xử lý bã dong riềng phế thải thành
phân hữu cơ sinh học
62

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

5.1. Kết luận 64

5.2. Kiến nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

v

DANH MỤC VIẾT TẮT
CFU Colony -forming unit
CMC Carboxymethylcellulose
CT Công thức

4.8: Kết quả theo dõi biến ñộng pH trong mẫu ủ 54
4.9 : Kết qủa ñánh giá tác ñộng của chế phẩm tới tính chất hoá học của
cơ chất sau 45 ngày ủ 55

4.10: Kết quả phân tích chất lượng phân bón hữu cơ sinh học 56
4.11: Chỉ tiêu vi sinh vật gây bệnh trong mẫu ủ sau 30 ngày ủ 57
4.12: Kết qủa ñánh giá tác ñộng của chế phẩm tới tính chất cảm quan
của cơ chất sau 45 ngày ủ 57
4.13: Kết quả ñánh giá chất lượng ñống ủ bằng phương pháp sinh học 59
4.14: Chi phí ñể ủ 01 tấn nguyên liệu 61

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

vii

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang

4.1 Bản ñồ hành chính huyện ðà Bắc- tỉnh Hòa Bình 40
4.2 Hoạt ñộng chế biến và vận chuyển dong riềng tại ðà Bắc- tỉnh
Hòa Bình
46
4.3 Vòng phân giải xenlulo của các chủng VSV ( theo phương pháp
CMC-aza) 50
4.4 Thí nghiệm ñánh giá giảm trọng lượng bã dong riềng trong bình
ủ bổ sung vi sinh vật
51
4.5 Biến ñộng nhiệt ñộ ñống ủ 53
4.6 Biến ñộng pH ñống ủ 54

cống thoát nước quanh làng. Dương Liễu có nghề làm miến và chế biến nông
sản từ rất lâu rồi nhưng cho ñến nay, các phương pháp sản xuất vẫn hoàn toàn
thủ công, nhỏ lẻ, chủ yếu là hộ gia ñình. Theo ông Nguyễn Danh Bảo, vào
mùa làm miến, trung bình mỗi hộ sản xuất ở Dương Liễu làm tới 5-7
tấn/ngày, lượng nước thải và bã thải ra rất lớn, chất ñống tại sân, cổng, ñường
làng bốc mùi khó thở. Vì vậy, chất thải ñã khiến làng nghề trong tình trạng
báo ñộng ñỏ về ô nhiễm, nhất là nước thải và bã củ dong riềng ñể làm miến
không biết xử lý thế nào.
Huyện ðà Bắc tỉnh hòa Bình cũng là một ñịa phương trồng dong riềng
với diện tích tương ñối, toàn huyện trồng khoảng 448,4 ha (nguồn NN &
PTNT năm 2009) và có xu hướng tăng. Vì cây dong riềng là một loại cây dễ
trồng, không mất công chăm sóc lại cho giá trị kinh tế cao nên những năm
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

2

gần ñây việc trồng và chế biến củ dong ngày càng phát triển. Việc chế biến
dong riềng cần dùng nhiều nước; bã và nước xả ra càng nhiều ñã làm ách
tắc dòng chảy và gây nên sự ô nhiễm môi trường trầm trọng ở huyện và các
vùng lân cận. Hàng năm mùa thu hoạch dong riềng ñến ñồng thời cũng là
lúc người dân ở huyện và các vùng lân cận phải sống chung với ô nhiễm
môi trường nặng. Nguồn nước ở mương máng, hồ ao do nước thải và bã
dong riềng xả ra không tiêu thoát ñược, ứ ñọng lại, phân huỷ gây nên mùi
hôi thối kéo dài hàng tháng.
Với mong muốn giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề chế
biến nông sản, tận dụng nguồn bã thải dong riềng xử lý thành phân bón hữu
cơ sinh học, ñề tài: "Nghiên cứu xử lý bã thải dong riềng làm phân hữu cơ
sinh học tại huyện ðà Bắc- tỉnh Hòa Bình" ñược tiến hành là rất cấp thiết.
1.2. Mục ñích và yêu cầu
1.2.1. Mục ñích nghiên cứu

nhiều. Ngày nay do dân số tăng, nhu cầu sử dụng các sản phẩm chế biến từ
nông sản tăng, hơn nữa sản phẩm còn mang tính chất hàng hóa làm tăng hoạt
ñộng sản xuất chế biến nông sản. Việc chế biến không còn ở quy mô nhỏ lẻ mà
trở thành các hợp tác xã, các làng nghề chế biến nông sản, kèm theo nó là
lượng chất thải tăng.
Chất thải ở các làng nghề cũng là vấn ñề “nóng” cần tháo gớ. Theo
thống kê của sở Công thương, Hà Nội hiện có 1.310 làng có nghề, trong ñó
310 làng ñược công nhận làng nghề. Tại một số làng nghề, mặc dù chính
quyền ñịa phương ñã tổ chức các tổ thu gom rác ñến tận ngõ ngách, thôn xóm
nhưng tình trạng rác lấn ñường, lấn kênh, mương, ruộng, ao hồ… vẫn chưa
ñược giải quyết triệt ñể. ðặc biệt, các xã có nghề chế biến nông sản như Hữu
Hòa (Thanh Trì), Dương Liễu, Minh Khai (Hoài ðức), xã Tân Hòa (Quốc
Oai)… Vấn nạn môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Xã Dương Liễu nằm ở phía tây bắc huyện Hoài Ðức, dân số hơn 12
nghìn người, diện tích ñất tự nhiên 410,57 ha, trong ñó, ñất nông nghiệp hơn
295 ha. Với truyền thống sản xuất lâu ñời, lực lượng lao ñộng trẻ dồi dào, thị
trường tiêu thụ ổn ñịnh, người dân Dương Liễu tập trung ñầu tư chiều sâu
phát triển nghề chế biến tinh bột. Diện tích ñất nông nghiệp hiệu quả thấp
ngày càng thu hẹp, nhường chỗ cho phát triển nghề và dịch vụ. Vấn ñề việc
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

4

làm cho người dân nông thôn ñược giải quyết tốt tại chỗ. Ngoài ra, làng nghề
thu hút nhiều lao ñộng ngoài ñịa phương. Ðời sống của người dân từng bước
ñược cải thiện, nhiều hộ khá giả, bộ mặt nông thôn có ñổi thay tích cực. Tuy
nhiên, ô nhiễm môi trường ở Dương Liễu ñang ở mức báo ñộng.
Ðặc thù của nghề chế biến nông sản là lượng bã thải lớn, chiếm 65 ñến
70%. Vào chính vụ chế biến, kéo dài từ tháng mười ñến tháng tư, trung bình
mỗi ngày làng nghề Dương Liễu thải ra hơn 500 tấn bã thải, 12.000 m

nước, ñất và không khí bị ô nhiễm ñều vượt nhiều lần các chỉ tiêu về vệ sinh
môi trường Thôn Mạn ðê (xã Nam Trung, Nam Sách, Hải Dương) từng là
một ñiển hình về môi trường xanh- sạch, nay cũng ñang "kêu cứu" vì rác và
nước thải của làng nghề chế biến nông sản. Trong 700 hộ của thôn có tới hơn
300 hộ làm nghề, mỗi ngày thải ra 3 tấn rác, chủ yếu là phế phẩm từ hành, tỏi,
bí ngô, riềng. Mỗi tuần, rác thải chỉ ñược thu gom, xử lý một lần. Ao, hồ ở
ñây ñã cơ bản ñược lấp bằng rác, cả làng ñều ăn bằng nước mưa, tắm rửa
bằng nước giếng khơi.
Nhiều thủy vực ở nông thôn không còn khả năng tự làm sạch. Chất thải
sản xuất, sinh hoạt thải bừa bãi, không ñược quản lý và xử lý kịp thời, tăng
thêm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp ñến sức khỏe và ñời sống nhân
dân ở nhiều làng nghề. Theo thống kê của ngành y tế, ở một số làng nghề, số
lượng người mắc các bệnh ung thư, ñường ruột, sốt xuất huyết, ñau mắt, phụ
khoa, viêm ñường hô hấp, nhất là ở trẻ em có chiều hướng gia tăng và xảy ra
thường xuyên hơn.
Cùng với rác thải làng nghề, người dân nông thôn còn phải "gánh"
thêm cả chất thải từ chăn nuôi. Sở NN&PTNT Hà Nội cho biết, các huyện
ngoại thành có hơn 17 triệu gia súc, gia cầm ñược chăn nuôi theo mô hình hộ
gia ñình và trang trại chăn nuôi tập trung.

Trung bình mỗi ngày lượng chất
thải phát sinh trong chăn nuôi là 50.000 tấn. Kết quả ñiều tra của TP Hà Nội
năm 2009 cho thấy, số chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh tại các ñịa phương
chỉ chiếm 51%. Hiện tại, phương pháp xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi còn
ñơn giản, chủ yếu tận dụng làm thức ăn cho cá, ủ phân hoai mục ñể bón cho
lúa, hoa màu Còn chất thải lỏng trong chăn nuôi ở Hà Nội ñang bị bỏ ngỏ.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

6


có nhiều tên ñịa phương khác nhau tại Việt Nam như khoai chuối, khoai lào,
dong tây, củ ñao, khoai riềng, củ ñót, chuối nước. [4]
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

7

Cây dong riềng là cây có giá trị kinh tế khá cao. Ở Việt Nam, khí hậu
nhiệt ñới gió mùa khá phức tạp, trong khi các loại hoa màu khác bị thời tiết
thiên tai chi phối ñe doạ nhưng cây dong riềng trồng là có ăn, sản lượng cao
hơn các cây khác [4]. Dong riềng không những cho phép khai thác sản phẩm
chính là củ mà còn cho phép chúng ta tận dụng triệt ñể các sản phẩm phụ như
lá, thân cây ñể làm phân bón và nguyên liệu cho công nghiệp. Thân cây dong
riềng có sợi màu trắng bền và có thể dệt ñược bao ñựng, trong thân cây, bẹ lá.
Trước khi lấy sợi dệt bao, nếu ñưa vào ép lấy nước thanh ngọt của nó thì có
thể lấy ñược ñường kết tinh trắng, và nguyên liệu ñể chế huyết thanh ngọt, ưu
trương, ñẳng trương… Lá dong riềng ủ làm làm phân xanh là một nguồn phân
bón rẻ tiền mà lại rất tốt ñối với cây trồng.
Dong riềng ñược nhập vào Việt Nam ñầu thế kỷ 19. Năm 1898, người Pháp
ñã trồng thử dong riềng ở nước ta nhưng rồi công việc ñã bị dừng lại vì thời ñó
chưa biết cách chế biến tinh bột dong riềng [1]. Từ năm 1961 ñến 1965 một số
nghiên cứu về nông học với cây dong riềng ñã ñược thực hiện tại Viện khoa học
kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam [32] nhằm mục ñích mở rộng diện tích dong
riềng, tuy nhiên vấn ñề trồng dong riềng vẫn không ñược quan tâm vì thiếu công
nghệ chế biến và tiêu thụ thấp. Từ năm 1986 do nhu cầu sản xuất miến từ bột
dong riềng ngày càng tăng ñã ñi kèm với việc mở rộng diện tích tự phát trồng
loại cây này. Những ñịa phương trồng dong riềng với diện tích lớn là Hoà Bình,
ngoại thành Hà Nội, Sơn La, Lai Châu, Thanh Hoá, Hưng Yên, Tuyên Quang và
ðồng Nai. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, dong riềng ñược trồng chủ yếu
nhằm ñảm bảo an ninh lương thực và có năm ñã ñạt trên 21 ngàn ha [4]. Hiện
nay loại cây này không ñược ñưa vào danh mục thống kê quốc gia, tuy vậy một

canh tranh của miến dong so với miến ñậu xanh. Dong riềng chế biến thành
bột lợi gấp 2-3 lần trồng lúa trong ñiều kiện khó khăn.
Do tinh bột dong riềng có những ñặc tính nổi bật như ñã ñề cập ở trên
nên ở nước ta tại những vùng có diện tích trồng ñáng kể, dong riềng hầu hết
ñược chế biến thành tinh bột, sau ñó làm miến. Tuy nhiên, các quy trình chế
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

9

biến miến dong ở nước ta hiện nay vẫn mang tính thủ công chưa ñảm bảo chất
lượng và chỉ có một số ít nhà máy sử dụng tinh bột dong ñể sản xuất miến ăn
liền. Dong riềng hiện nay ñược chế biến với khối lượng lớn chủ yếu tại một
số làng nghề tại Quốc Oai, Hoài ðức, Ba Vì (Hà Nội), Trảng Bom (ðồng
Nai), Yên Mỹ, Khoái Châu (Hưng Yên). Hiện nay nhu cầu sử dụng miến
trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng dẫn tới việc chế biến tinh bột dong
riềng ngày càng phát triển. Và ñi kèm với nó là vấn ñề ô nhiễm môi trường từ
bã thải, nước thải.
Xã Dương Liễu, huyện Hoài Ðức, Hà Tây cũ là xã có truyền thống chế
biến tinh bột dong riềng. Vào chính vụ chế biến, kéo dài từ tháng mười ñến
tháng tư, trung bình Dương Liễu thải ra hơn 200 tấn bã thải từ quá trình chế
biến tinh bột dong riềng không ñược thu gom, xử lý mà xả thẳng vào hệ thống
thoát nước. Mặt khác, hệ thống tiêu thoát nước thiếu ñầu tư, cải tạo ñồng bộ
nên thường xuyên xảy ra tình trạng ứ ñọng cục bộ. Bã thải chảy theo hệ thống
thoát nước dân sinh, dồn vào mương Ðan Hoài rồi thải trực tiếp ra kênh T5.
Một phần nhỏ bã thải dong riềng ñược công ty TNHH Mặt trời xanh xử lý
làm phân vi sinh, phần lớn vẫn xả trực tiếp ra môi trường. Ngoài ra, còn thêm
lượng chất thải chăn nuôi, phế thải xây dựng, rác thải sinh hoạt càng khiến
môi trường ô nhiễm nặng.[24]
Nghề chế biến tinh bột ở Minh Hồng có từ năm 1971, do một người
thợ của làng nghề Sấu Giá (Hoài ðức) về dạy nghề cho các hộ xã viên. Sau

3
/ngày/hộ. Nhưng khi thực hiện vấn ñề khó khăn
gặp phải là thiếu vốn. Chính vì vậy dự án này ñã không ñược triển khai và ñến
nay cũng không còn tính khả thi. Thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề
Minh Hồng ñang ở mức báo ñộng nghiêm trọng.[21]
Từ lâu, người dân xã Tứ Dân (Khoái Châu) ñã phải chịu ảnh hưởng ô
nhiễm nặng nề do chất thải của nghề chế biến dong riềng. Trồng cây dong lấy
củ ñể chế biến thành tinh bột làm miến là một nghề ñã có từ lâu ñời ở Tứ Dân.
Xã có diện tích ñất canh tác là 385.78 ha, trong ñó diện tích trồng cây dong
riềng là 296ha (chiếm 77%). Toàn xã có tới 2.070 hộ trồng và chế biến dong.
Vì cây dong là một loại cây dễ trồng, không mất công chăm sóc lại cho giá trị
kinh tế cao nên những năm gần ñây việc trồng và chế biến củ dong ngày càng
phát triển. Việc chế biến dong cần dùng nhiều nước; bã và nước xả ra càng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

11

nhiều ñã làm ách tắc dòng chảy và gây nên sự ô nhiễm môi trường trầm trọng
ở xã và các vùng lân cận. Hàng năm mùa thu hoạch dong ñến ñồng thời cũng
là lúc người dân ở xã và các vùng lân cận phải sống chung với ô nhiễm môi
trường nặng. Nguồn nước ở mương máng, hồ ao do nước thải và bã dong xả
ra không tiêu thoát ñược, ứ ñọng lại, phân huỷ gây nên mùi hôi thối kéo dài
hàng tháng. ðến khi những cơn mưa ñầu mùa hạ ñổ xuống, nước bị ô nhiễm
theo các dòng chảy trôi ñi. Biết là ô nhiễm môi trường nặng, ảnh hưởng trực
tiếp ñến ñời sống sinh hoạt hàng ngày và sức khoẻ nhưng nhiều năm trôi qua
người dân ở ñây vẫn phải bám lấy nghề Giá trị kinh tế của 1 sào canh tác
trồng dong xen ñỗ và lạc cho thu nhập trên 2 triệu. Bà con nông dân ở ñây vẫn
gọi cây dong riềng là cây "lười" vì người dân chỉ việc trồng cây xuống rồi thu
hoạch, không mất công chăm bón.[22]
Các làng nghề chế biến tinh bột từ sắn và dong riềng khác cũng ñang

hợp hàng năm lớn hơn bất kỳ chất hữu cơ nào khác, trên trái ñất chúng chiếm
khoảng 4.10
10
tấn. Lượng xenlulo lớn này nếu không có sự phân giải, chuyển
hoá của vi sinh vật thì sẽ ñọng lại và tích luỹ dần tràn ngập trái ñất.[14]
Xenluloza rất phổ biến trong tự nhiên, hàng năm lượng xenluloza do thực
vật tổng hợp nên là 10
11
tấn và xenluloza thường tồn tại phân bố ở dạng sau :
* Các phế thải nông nghiệp: rơm rạ, thân, lá, vỏ cây…
* Các phế thải công nghiệp chế biến như: gỗ vụn, mạt cưa, bã dong riềng…
* Các chất thải sinh hoạt: giấy, rác, bao bì…
Hemi-xenluloza cũng là thành phần của thành tế bào thực vật, ñứng thứ
hai về khối lượng. So với xenluloza thì hemi-xenluloza có cấu trúc không
chặt, dễ bị phân giải khi bị axit loãng, ñôi khi còn bị phân giải trong nước
nóng và chúng dễ dàng bị phân giải bởi enzim hemi-xenluloza.[14]
Hemi-xenluloza tồn tại chủ yếu ở các phần như vỏ hạt, bẹ ngô, cám, rơm rạ.
Trong quá trình nuôi cấy vi sinh vật, hemi-xenluloza thường ñược tạo
thành sớm hơn, có thể do hemi-xenluloza dễ ñồng hoá hơn xenluloza.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

13

Trong tự nhiên quá trình phân huỷ hemi-xenluloza thường xảy ra song
song với quá trình phân huỷ xenluloza. Những vi sinh vật có khả năng thuỷ
phân dễ dàng hemi-xenluloza nhờ tiết ra các enzim endo-1,4 -β-D glucozit
thuỷ phân xylan (là loại gốc ñường chiếm chủ yếu trong hemi-xenluloza) tạo
thành các ñoạn ngắn và sau ñó β-xylosilaza sẽ thuỷ phân thành các ñường ñơn
xylaza. Ngoài ra cũng có sự tham gia của một số cấc enzim thuỷ phân mạch
nhánh.[15]

Nhiều nhóm có khả năng phân huỷ xenluloza nhờ có hệ enzim
xenluloza ngoại bào, trong ñó vi nấm có khả năng phân huỷ mạnh vì nó tiết ra
môi trường một lượng lớn enzim có ñầy ñủ các thành phần, ñáng chú ý là
Tricoderma.
Trong quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ có chứa xenluloza, nấm,
xạ khuẩn, vi khuẩn tạo ra các sản phẩm và sinh khối của chúng như: phẩm
phụ khác. Trong các loài nấm, vi khuẩn có khả năng phân giải hợp chất
xenluloza ñáng kể là những loài sau:
- Nấm mốc: Trichoderma reesei, spotrichum, …
- Vi khuẩn kỵ khí: Clostridium.
- Vi khuẩn hiếu khí: Pseudomonas, Achomobacter.
- Xạ khuẩn: Steptomyces, Micromonospora, Proactynomyces….
Trong ñó Steptomyces có khả năng phân huỷ rác cao, xạ khuẩn này
thuộc nhóm ưa nóng, phát triển tốt nhất ở nhiệt ñộ 45-50
0
C, thích hợp cho quá
trình ủ rác. [14]
Vi sinh vật phân giải hemi-xenluloza:
Hemi-xenluloza là enzim ít ñược người ta nghiên cứu ngoại trừ
xynalaza là một hemi-xenluloza rất phổ biến trong tự nhiên. Các tác giả cho
rằng vi sinh vật tổng hợp xenluloza ñồng thời xảy ra quá trình tổng hợp
xylanaza, khả năng này thường gặp ở vi sinh vật dạ cỏ như [11]: Bacteria,
Bacillus, Ruminococus…, và các vi khuẩn thuộc chi: Clostridium. Ngoài vi
khuẩn cũng thấy một số nấm sợi cũng có khả năng tạo xylanaza như:
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

15

Mycothecium, Verrucaria, Aspergillus….và nhóm xạ khuẩn Streptomyces, vi
khuẩn Bacillus

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………….

16

2.2.2. Công nghệ xử lý phế thải hữu cơ bằng phương pháp ủ
2.2.2.1. Tổng quan về phân ủ và phân hữu cơ sinh học
Phân ủ là sản phẩm cuối cùng của quá trình phân giải chất thải hữu cơ
như: Rơm, rạ, trấu mùn cưa, mẩu gỗ vụn, phế thải thức ăn nhờ vi sinh vật.
Bón phân ủ cho cây là cách tiết kiệm nhất ñể trả lại cho ñất chất hữu cơ và các
chất dinh dưỡng mà cây trồng ñã lấy ñi ñể sinh trưởng và phát triển như ñạm,
lân, kali, và các chất dinh dưỡng khác. Trả lại cho ñất những chất này ñể giữ
ñộ màu mỡ cho ñất.[3]
Phân hữu cơ sinh học là loại sản phẩm phân bón ñược tạo thành thông
qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác
nhau (phế thải nông nghiệp, lâm nghiệp, phế thải chế biến nông sản, rác thải
sinh hoạt…), trong ñó các hợp chất hữu cơ phức tạp dưới tác ñộng của vi sinh
vật hoặc các hoạt chất sinh học ñược chuyển hóa thành mùn.
Theo Nguyễn Văn Bộ (1994) tiềm năng phân rác ở Việt Nam khoảng
61-62 triệu tấn và với 34,8 kg nitơ, 21,8 kg P
2
O
5
và 26,1 kg K
2
O/ha/năm.
Phân chuồng, phân rác là một loại phân hữu cơ sinh học ñược chế biến bằng
cách tận dụng vi sinh vật vón có trong nguyên liệu. Với phương pháp truyền
thống ñể tạo ñược phân hữu cơ ñảm bảo ñộ hoai chín cần thiết thời gian ủ từ
4-6 tháng. Ứng dụng công nghệ vi sinh vật chế biến phân hữu cơ sinh học
không chỉ rút ngắn thời gian ủ mà còn nâng cao giá trị dinh dưỡng của sản

ñối với phân bón hữu cơ khoáng ≥ 90 % so với chỉ
số ñăng ký.
Phân bón hữu cơ; hữu cơ khoáng; hữu cơ vi sinh; hữu cơ sinh học sản
xuất từ nguyên liệu là rác thải ñô thị, từ phế thải công nghiệp chế biến nông
sản, thực phẩm, phế thải chăn nuôi; phân bón lá có nguồn gốc hữu cơ : hàm
lượng Asen (As) ≤ 3,0 mg/kg hoặc ppm, hàm lượng Cadimi (Cd) ≤ 2,5
mg/kg hoặc ppm, hàm lượng Chì (Pb) ≤ 3,0 mg/kg hoặc ppm, hàm lượng
Thuỷ ngân (Hg) ≤ 2,0 mg/kg hoặc ppm, mật ñộ Vi khuẩn Salmonella không
phát hiện trong 25g mẫu kiểm tra (CFU).
2.2.2.2. Mục ñích quá trình ủ [3]
- Làm ổn ñịnh thành phần chất thải : Chất thải hữu cơ khi ñược ñưa
vào môi trường sẽ còn ñược chuyển hoá liên tục, vì thế nó chưa ổn ñịnh. Quá
trình lên men sẽ làm ổn ñịnh chúng bằng những phản ứng sinh hoá. Sản phẩm
cuối cùng của quá trình sẽ ñược ổn ñịnh trước khi ta sử dụng chúng.
- Tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh : Trong rác thải thường chứa rất
nhiều vi sinh vật gây bệnh, các loại vi sinh vật này thường bị tiêu diệt ở
những nhiệt ñộ khác nhau như: Salmonellatyphoxa không phát triển ở nhiệt
ñộ 46
0
C và bị tiêu diệt ở nhiệt ñộ từ 55-60
0
C.
+ Salmonella sp bị tiêu diệt ở 55
0
C trong 1h và 60
0
C trong 15-20 phút .
+ Ecoli hầy hết chết ở nhiệt ñộ T
o
=55


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status