Thảo luận tài chính công
Đề tài: Trong quá trình đánh giá phân tích chi tiêu công, sau khi phát hiện các khuyết tật của thị
trường chính phủ đã sử dụng hình thức can thiệp nào? Liên hệ những hình thức can thiệp đó trong
việc cung ứng hàng hóa dịch vụ công của chính phủ Việt Nam hiện nay.
Bài làm
I Khái niệm, đặc điểm và phân loại chi tiêu công
1. Khái niệm
Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền,các đơn vị quản lý hành chính,các đơn
vị sự nghiệp được sự kiểm soát và tài trợ bởi chính phủ
2 .Đặc điểm
Đặc điểm nổi bật của chi tiêu công là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân
cư ở các vùng hay phạm vi quốc gia
Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế_xã hội của nhà nước và
cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đó nhà nước đã cung cấp một lượng hang hóa
công khổng lồ cho nền kinh tế
Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế,chính trị ,xã
hội mà nhà nước thực hiện
Các khoản chi tiêu công do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhận theo nội dung đã
được quy định trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và các khoản chi tiêu công này nhằm
đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý phát triển kinh tế_xã hội . Mặt
khác,các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu ,nội dung
,mức độ của các khoản chi tiêu công nhằm thực hiện các mục tiêu ,nhiệm vụ kinh tế,chính trị,xã
hội của quốc gia
Các khoản chi tiêu công hoàn toàn mang tính công cộng
Chi tiêu công tương ứng với những đơn đặt hang của chính phủ về mua hang hóa dịch vụ
nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, đồng thời đó cũng là những khoản phải
Nhóm 11
1
Thảo luận tài chính công
chi cần thiết,phát sinh tương đối ổn định như :chi lương cho viên chức bộ máy quản lý nhà nước
,chi hàng hóa,dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tần lớp dân cư…
UBND các cấp: Lập dự toán ngân sách điạ phương; quyết định giao nhiệm vụ chi cho các
cơ quan trực thuộc; quyết định giao nhiệm vụ chi cho ngân sách cấp dưới; quy định
nguyên tắc bố trí và chỉ đạo thực hiện dự toán ngân sách điạ phương đối với một số lĩnh
vực chi được HĐND quyết định.
Các đơn vị sử dụng ngân sách: Tổ chức lập và thực hiện dự toán chi ngân sách thuộc phạm
vi quản lý; chi đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm; các đơn vị sự nghiệp được
quyền chủ động sử dụng nguồn sự nghiệp để phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu qủa
hoạt động.
1.2. Giúp cải thiện tính minh bạch chi ngân sách
Tính minh bạch chi NSNN có tầm quan trọng trong việc giải trình trước công dân về việc
phân bổ nguồn lực tài chính của nhà nước và giải trình về chất lượng chi tiêu NSNN tổng thể. Tính
minh bạch chi NSNN cũng rất quan trọng đối với các nhà tài trợ – những người tất nhiên sẽ không
hài lòng khi họ hỗ trợ nguồn lực tài chính nhưng lại không có đầy đủ thông tin tin cậy để đánh giá
được số tiền tài trợ được sử dụng vào việc gì và sử dụng tốt như thế nào. Đối với Chính phủ cũng
như các cơ quan của Chính phủ, tính minh bạch tài chính có tầm quan trọng để nâng cao hiệu quả
quản lý chi tiêu ngân sách, Chính phủ đã ban hành điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước đồng thời
quy định một số công tác kế toán chủ yếu như chứng từ, sổ sách, báo cáo quyết toán, kiểm tra kế
toán; tính giá thành và phí lưu thông hàng hóa, bảo quản tài liệu kế toán. Nó đã góp phần quan
trọng đối với việc củng cố công tác kế toán trong các xí nghiệp, các đơn vị, tăng cường kiểm tra,
kiểm soát của tài chính Nhà nước .Tính minh bạch hoá việc sử dụng nguồn lực tài chính nhà
nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm mức bội chi NSNN và tỷ lệ lạm phát theo mục tiêu
đề ra của nền kinh tế.
1.3. Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực đát nước
Nhờ sự can thiệp của chính phủ, nước ta đã hình thành hệ thống định mức làm cơ sở phân
bổ ngân sách:
Nhóm 11
3
Thảo luận tài chính công
Sau khi ban hành Luật NSNN năm 1996, Chính phủ đã quyết định ban hành hệ thống định
mức chi tiêu ngân sách năm 1997 và các định mức thường xuyên sửa đổi. Những định mức được
nào để thỏa mãn tốt những nhu cầu cần thiết nhằm đạt các mục tiêu quản lý kinh tế, chính trị, xã
hội của Nhà nước. Thời gian qua, Nhà nước đã làm nhiều nỗ lực để nâng cao hiệu quả quản lý chi
tiêu công. Điều này được biểu hiện bằng việc Nhà nước đã xây dựng khuôn khổ pháp lý về quản
lý chi ngân sách; cải thiện tính minh bạch chi ngân sách; hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn lực tài
chính nhà nước.
Tuy nhiên, khi khẳng định sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước thì cũng cần cân
nhắc kỹ lưỡng tời cái được - cái mất của sự can thiệp ấy. Cách giải quyết không phải là bỏ mặc thị
trường, mà phải là nâng cao hiệu quả của sự can thiệp đó. Nhà nước có một vai .trò chính đáng và
thường xuyên trong các nền kinh tế hiện đại Vai trò đó của Nhà nước đặc biệt thể hiện rõ rệt ở
việc xác định "các quy tắc trò chơi" để can thiệp vào những khu vực cần có sự lựa chọn, thể hiện
nhưng khuyết tật của thị trường, để đảm bảo tính chỉnh thể của nền kinh tế và để cung cấp những
dịch vụ phúc lợi.
Quả thực, không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước trong các lĩnh vực như: ổn định kinh tế
vĩ mô thông qua chính sách tài chính và tiền tệ, củng cố an ninh quốc phòng, cung cấp hàng hoá
công cộng, chống ô nhiễm môi trường, phát triển giáo dục tăng thu nhập và nâng cao phúc lợi xã
hội, tạo dựng một bộ khung xã hội được sự điều hành của luật pháp, định hướng cạnh tranh một
cách có hiệu quả bằng cách giảm độc quyền…Ví dụ như là quốc phòng là một ví dụ chứng tỏ vai
trò tối quan trọng của Nhà nước. Điều đó được quyết định bởi quốc phòng là một kiểu hàng hoá
hoàn toàn khác hẳn với các loại hàng hoá vật thể khác ở chỗ, người ta không trả tiền cho mỗi đơn
vị sử dụng mà mua nó như một tổng thể nhằm mục đích bảo vệ an ninh của cả một quốc gia. Ở
đây, bảo vệ cho một cá nhân không có nghĩa là giảm bảo vệ cho người khác, bởi tất cả mọi người
tiêu thụ các dịch vụ quốc phòng một cách đồng thời.
Các loại hàng hoá kiểu như vậy được gọi là hàng hoá công cộng, bởi không một doanh nghiệp
tư nhân nào có thể bán quốc phòng của toàn dân cho các công dân riêng lẻ và coi đó là nghề kinh
doanh thu lãi. Đơn giản là không thể có chuyện dịch vụ quốc phòng lại được đem rao bán cho
những người cần hoặc không thực hiện bảo vệ an ninh quốc gia, cho những người từ chối chi trả
Nhóm 11
5
Thảo luận tài chính công
kinh phí cho quốc phòng. Hơn nữa, hàng hoá công cộng là thứ hàng hoá không thể định giá chính
Trong thực tế, có một số hàng hóa công cộng có đầy đủ hai tính chất nêu trên như quốc
phòng, ngoại giao, đèn biển, phát thanh...Các hàng hóa đó có chi phí biên để phục vụ thêm một
người sử dụng bằng 0, ví dụ đài phát thanh một khi đã xây dựng xong thì nó ngay lập tức có thể
phục vụ tất cả mọi người, kể cả dân số luôn tăng.
Tuy nhiên có nhiều hàng hóa công cộng không đáp ứng một cách chặt chẽ hai tính chất đó
ví dụ đường giao thông, nếu có quá đông người sử dụng thì đường sẽ bị tắc nghẽn và do đó những
người tiêu dùng trước đã làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của những người tiêu dùng sau.
Đó là những hàng hóa công cộng có thể tắc nghẽn. Một số hàng hóa công cộng mà lợi ích của nó
có thể định giá thì gọi là hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá. Ví dụ đường cao tốc,
cầu...có thể đặt các trạm thu phí để hạn chế bớt số lượng người sử dụng nhằm tránh tắc nghẽn.
Hàng hóa công cộng quốc gia và hàng hóa công cộng địa phương
Hàng hóa công cộng quốc gia: do chính quyền trung ương cung cấp cho toàn bộ quốc gia.
Những loại hàng hóa có cả hai tính chất trên ở mức cao sẽ thường được xếp vào hàng hóa công
cộng quốc gia. Một số hàng hóa công cộng quốc gia tiêu biểu là ngoại giao, quốc phòng, chính
sách lưu thông tiền tệ, v.v…
Hàng hóa công cộng địa phương: do chính quyền địa phương cung cấp chủ yếu cho công
dân địa. Hàng hóa công cộng địa phương thường chỉ mang một trong hai tính chất nói trên hoặc
mang cả hai tính chất nhưng ở mức độ không cao. Một số hàng hóa công cộng địa phương tiêu
biểu là giáo dục phổ cập, y tế cộng đồng, vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch, v.v…
Hơn nữa, tính không cạnh tranh trong tiêu dùng của hàng hóa công cộng không bó hẹp
trong phạm vi địa phương, quốc gia mà còn có tính chất quốc tế. Tri thức có thể coi là một hàng
hóa công cộng quốc tế, mọi người dân trên thế giới đều có thể được hưởng lợi ích do tri thức đem
lại.
Ví dụ 1 :
Tiêu biểu cho chương trình chi tiêu công là Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt
khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (hay đọc là: "chương trình một-ba-năm"), là một trong
Nhóm 11
7
Thảo luận tài chính công
các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam do Nhà nước Việt Nam triển khai từ năm 1998.
Giai đoạn II (2006-2010)
Chính phủ Việt Nam đã xác định có 1.946 xã và 3.149 thôn, buôn, làng, bản, xóm ấp đặc
biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II thuộc 45 tỉnh, thành được đưa vào phạm vi của Chương
trình 135.
Mục tiêu tổng quát
• Tạo chuyển biến nhanh về sản xuất
• Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường.
• Cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
• Giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong nước.
• Đến năm 2010: Trên địa bàn không có hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30%.
Nội dung chính chương trình
Nhà nghèo trước khi chưa có chương trình
• Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản suất của
đồng bào các dân tộc. Đào tạo cán bộ khuyến nông thôn bản. Khuyến nông, khuyến lâm,
khuyến ngư. Xây dựng các mô hình sản xuất có hiệu quả, phát triển công nghiệp chế biến
bảo quản. Phát triển sản xuất: Kinh tế rừng, cây trồng có năng suất cao, chăn nuôi gia súc,
gia cầm có giá trị.
• Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Làm đường dân
sinh từ thôn, bản đến trung tâm xã phù hợp với khả năng nguồn vốn, công khai định mức
hỗ trợ nhà nước. Xây dựng kiên cố hóa công trình thủy lợi: Đập, kênh, mương cấp 1-2,
trạm bơm, phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp và kết hợp cấp nước sinh hoạt. Làm hệ
thống điện hạ thế đến thôn, bản; nơi ở chưa có điện lưới làm các dạng năng lượng khác
nếu điều kiện cho phép. Xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng. Xây
dựng nhà sinh hoạt cộng đồng thôn, bản (tùy theo phong tục tập quán) ở nơi cấp thiết.
Nhóm 11
9
Thảo luận tài chính công
• Đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở, kiến thức kĩ năng quản lý điều hành xã hội, nâng cao
năng lực cộng đồng. Đào tạo nghề cho thanh niên 16 - 25 tuổi làm việc tại các nông lâm
trường, công trường và xuất khẩu lao động.
hiện sai phạm 8 tỷ đồng trong việc chi cho xây dựng cơ sở hạ tầng cho dân tộc thiểu số, một số
công trình không tính đến hiệu quả lâu dài: Ninh Thuận công trình thủy lợi không hiệu quả trong
mùa khô, chưa đưa vào sử dụng, Đập Phà Sắc 3km đường ống nước bị gãy.
Cung cấp hàng hóa công
Chính sách trợ giúp kinh tế: cung cấp dịch vụ y tế nhiều hơn cho người nghèo, để giảm rủi
ro đối với họ. Một chính sách thân thiết khác là khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6
tuổi. Được thực hiện từ năm 2002 đến năm 2009 đã có 21 triệu người được thụ hưởng. Tổng kinh
phí để mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo trong giai đoạn 2005-2009 là trên 8.500 triệu lượt
người nghèo được cấp thẻ BHYT và khoảng 90% được khám chữa bệnh bằng thẻ.
Chính sách hỗ trợ giáo dục: nâng cao số lượng trẻ em được đến trường, phát triển trình độ
giáo dục cho người nghèo bằng cách thực hiện các chương trình hỗ trợ như: cho vay vốn ưu đãi
sinh viên ĐH, CĐ thuộc diện hộ nghèo, khó khăn ( Ngân hàng chính sách xã hội còn có 597 phòng
giao dịch ở các quận huyện nơi đang theo học tại các trường ĐH, CĐ để làm thủ tục vay vốn ưu
đãi); các học bổng cho các sinh viên nghèo hiếu học, miễn giảm học phí cho học sinh thuộc diện
hộ nghèo, hoàn cành khó khăn. Năm 2007, 5 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí,
năm 2007-2008 có hơn 750.000 học sinh, sinh viên đã được vay vốn học tập gần 5.169 tỷ đồng.
Trong đó, số hộ nghèo chiếm hơn 14%, hộ cận nghèo 67%, hộ khó khăn gần 15%. Theo đánh giá
của Ngân hàng chính sách xã hội, sau hai năm thực hiện quyết định 157 của thủ tướng chính phủ
về đào tạo, đối tượng và chính sách ưu đãi được mở rộng hơn, số tiền cho vay của chương trình đã
tăng lên 47 lần so với chín năm trước đó. Số học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được thụ
hưởng cũng tăng gấp 14 lần.
Chính sách về nước sạch và nhà ở: cung cấp cho người nghèo đặc biệt là dân tộc thiểu số
về nhà ở và nước sạch để xóa đói giảm nghèo bền vững. Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà
ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Về nhà ở: mức giao diện tích đất tối thiểu 200m
2
cho mỗi hộ đồng bào sống ở nông thôn.
Căn cứ quỹ đất ở và khả năng ngân sách của địa phương. Ngân sách TW hỗ trợ với mức 5 triệu
đồng/ hộ để làm nhà ở. Căn cứ tình hình và khả năng ngân sách, các địa phương hỗ trợ thêm và
huy động sự giúp đỡ của cộng đồng.