Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên Đ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG VĂN ĐẠT
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP
NGHỀ TỈNH HÀ GIANG THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên, năm 2010
hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Đồng thời Chỉ thị cũng chỉ rõ: “Tuy nhiên trước những yêu cầu mới của sự
phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa, đội ngũ nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 2
giáo có những hạn chế, bất cập. Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều … Cơ cấu
giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học bậc học … Chất lượng chuyên
môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội … tình hình trên đòi hỏi phải tăng
cường xây dựng đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện”.
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã chỉ ra những yếu kém của
đội ngũ giáo viên hiện nay là “Thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất
lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô, vừa phải
đảm bảo và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục” [28, tr.14] . Đồng thời
chiến lược đã đề ra bảy giải pháp lớn, trong đó giải pháp phát triển đội ngũ
nhà giáo được xác định là một giải pháp hết sức quan trọng.
Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN) cũng không nằm ngoài
mục tiêu phát triển đội ngũ nhà giáo khi đào tạo nghề đảm nhận tới 70% nhân
lực qua đào tạo trong cơ cấu lao động của đất nước, góp phần lớn tạo ra
nguồn nhân lực có chất lượng tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Tổ chức văn hóa giáo dục Liên hợp Quốc UNESCO đã
khuyến cáo: “Bước sang thề kỷ XXI, học suốt đời là hành trình với nhiều
hướng đi, trong đó đào tạo nghề nghiệp là hướng đi chủ yếu trong cuộc hành
trình này”. Chính vì vậy việc phát triển đội ngũ GVDN theo hướng chuẩn hóa
là việc làm cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Trong hệ thống mạng lưới dạy nghề, trường Trung cấp Nghề Hà Giang
(TCNHG) có vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực thực hiện sự
nghiệp CNH, HĐH và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương (Hiện nay cả
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung cấp
Nghề tỉnh Hà Giang theo hướng chuẩn hóa.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý phát triển đội ngũ giáo
viên trường Trung cấp Nghề tỉnh Hà Giang.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên
trường Trung cấp Nghề tỉnh Hà Giang theo hướng chuẩn hóa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 4
4. Giả thuyết khoa học
Đội ngũ giáo viên trường TCNHG trong những năm qua đã có nhiều
đóng góp cho sự phát triển của nhà tường trong nhiệm vụ đào tạo nghề. Công
tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của trường TCNHG đã đạt được một
số kết quả, song nó còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nếu có các giải pháp quản lý
phát triển đội ngũ giáo viên phù hợp và có tính khả thi thì nhất định sẽ xây
dựng được đội ngũ giáo viên của nhà trường đủ về số lượng, mạnh về chất
lượng, hợp lý về cơ cấu, đáp ứng nhiệm vụ đào tạo nghề có chất lượng cao
cho người lao động, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - Xã hội của
tỉnh và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên trong hệ thống
trường nghề.
- Phân tích thực trạng về đội ngũ giáo viên và công tác quản lý phát
triển đội ngũ giáo viên trường Trung cấp Nghề tỉnh Hà Giang.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên của trường
Trung cấp Nghề tỉnh Hà Giang theo hướng chuẩn hóa.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
8. Cấu trúc của luận văn:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: gồm 3 chƣơng
Chƣơng 1:
Chƣơng 2:
Chƣơng 3:
- Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI
NGŨ GIÁO VIÊN TRONG TRƢỜNG DẠY NGHỀ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về nghề
Là một khái niệm rộng và phức tạp, đặt vào từng hoàn cảnh hay xét
theo mỗi góc độ cụ thể, khái niệm này có phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Nghề
là kết quả của sự phân công lao động xã hội, sự phân công đó ở các thứ bậc
khác nhau tương ứng theo trình độ đào tạo khác nhau. Xã hội phát triển thì
nghề cũng phát triển theo.
1.1.2. Đội ngũ giáo viên dạy nghề
Trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục và đào tạo, giáo viên là
những “nhà sư phạm, nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị-xã hội” và "là
người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục” [25, tr.53] học sinh, sinh viên
(HS,SV); đồng thời họ phải có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức.
Người giáo viên (GV) phải ý thức được trách nhiệm công dân, phải nắm được
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong quá trình đào tạo, GV
vừa là khách thể quản lý vừa là chủ thể quản lý của quá trình đó.
không chỉ đơn thuần trong phòng lớp học, xưởng thực hành mà còn mở rộng
liên kết với các cơ sở sản xuất, giảng dạy kết hợp với lao động sản xuất;
- Hoạt động học tập, tự bồi dưỡng: Để đáp ứng nhu cầu xã hội, đòi hỏi
GVDN phải không ngừng học tập, trau dồi nhằm nâng cao trình độ về mọi
mặt, có ý thức học tập suốt đời. Điều này thật vô cùng quan trọng, nó mang
tính sống còn đối với người GVDN;
- Hoạt động xã hội: Người GV phải luôn rèn luyện bản thân trong mối
quan hệ xã hội, do vậy phải có ý thức xã hội, vốn kiến thức và kinh nghiệm xã
hội đã trở thành nhân tố quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng và
hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của người GV.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 8
1.1.3. Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển” là “Biến đổi hoặc làm cho
biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức
tạp” [37, tr.743].
Theo Davit Ckorten: Phát triển là một tiến trình trong đó các thành viên
của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của xã hội để
huy động và quản lý các nguồn lực nhằn tạo ra những thành quả bền vững,…
nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ.
Theo Từ điển Triết học: “Phát triển là một quá trình vận động từ thấp
(đơn giản) tới cao (phức tạp), mà nét đặc trưng chủ yếu là cái cũ biến mất, cái
mới ra đời … phát triển là một quá trình nội tại, bước chuyển biến từ thấp lên
cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa dựng dưới dạng tiềm tàng những
khuynh hướng dẫn đến cái cao, cái cao là cái thấp đã phát triển”.
Từ những cách tiếp cận trên thì mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã
hội hoặc là biến đổi để tăng số lượng, thay đổi nâng lên về chất lượng hoặc
phải làm tốt và phải tạo ra sự gắn bó, kết hợp chặt chẽ giữa công tác quy
hoạch, kế hoạch tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và tạo
môi trường thuận lợi cho ĐNGV phát triển.
Phát triển ĐNGV bao quát tất cả những gì người GV có thể trau dồi và
phát triển để đạt được các mục tiêu của bản thân và của nhà trường. Phát triển
ĐNGV có thể xem như một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện hay thay đổi
thực trạng hiện tại của đội ngũ, làm cho ĐNGV không ngừng phát triển về
mọi mặt, đáp ứng yêu cầu giảng dạy tại nhà trường trong xu hướng hội nhập,
tiếp cận chuẩn nghề nghiệp GV của các nước tiên tiến. Phát triển ĐNGV được
xem như một quá trình tích cực mang tính hợp tác cao, trong đó người GV tự
phát triển sẽ đóng một vài trò quan trọng trong sự trưởng thành về nghề
nghiệp cũng như nhân cách của bản thân trong sự hoà hợp cùng phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 10
1.1.4. Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
Quản lý là một dạng lao động xã hội, gắn liền và phát triển cùng với
lịch sử phát triển của loài người. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân
công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu
quả, năng xuất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp,
điều hành, kiểm tra, chỉnh lý. Đây là hoạt động để người lãnh đạo tập hợp sức
mạnh của các thành viên trong nhóm, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra.
Nói về điều này, Các-Mác từng viết: “Một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự
điều khiển mình nhưng một giàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng” [22, tr.30].
Tùy theo các cách tiếp cận mà có các quan niệm về quản lý, thông
thường khi đưa ra khái niệm quản lý các tác giả thường gắn với một loại hình
quản lý cụ thể.
Theo Frederick, W.Taylor tác giả của học thuyết quản lý theo khoa học,
người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó thì:
dựng các chính sách và môi trường pháp lý phù hợp để nhân lực phát triển).
Tóm lại, quản lý phát triển đội ngũ GVDN là những tác động của chủ
thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm phát triển đội ngũ
GVDN đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, vững mạnh về trình độ, có bản
lĩnh chính trị, có thái độ nghề nghiệp tốt, tận tụy với nghề để thực hiện có
hiệu quả mục tiêu đào tạo và đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường. Quản
lý thông qua việc xây dựng quy hoạch, tổ chức lãnh đạo thực hiện và kiểm tra
các nội dung về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ chính sách và tạo môi
trường sư phạm cho ĐNGV.
1.2. Vai trò của đội ngũ giáo viên dạy nghề
1.2.1. Đội ngũ giáo viên dạy nghề - nhân tố quyết định chiến lược
đào tạo nghề
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã cụ thể hóa mục tiêu phát
triển đối với dạy nghề trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH là: “Đặc biệt quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 12
tâm nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức kỷ luật lao động
và tác phong lao động hiện đại. Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, với việc
làm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đáp ứng nhu
cầu của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu vực nông thôn, các ngành
kinh tế mũi nhọn và xuất khẩu lao động" [28, tr.25]. Từ nay đến năm 2020
nhu cầu về đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông
nghiệp và nông thôn trong quá tình CNH, HĐH và đô thị hóa là rất lớn. Hàng
năm số lao động trong khu vực nông nghiệp chuyển dịch sang khu vực công
nghiệp và dịch vụ khoảng 1 triệu người, số lao động này phải được đào tạo
nghề để làm ngành nghề phi nông nghiệp. Nếu không chuyển dịch được số
lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ thì không thể thực
hiện được mục tiêu đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp.
1.2.2. Đội ngũ giáo viên dạy nghề quyết định chất lượng đào tạo nghề
Đào tạo nghề là trang bị cho người lao động có trình độ kỹ thuật, kỹ
năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết để họ trực tiếp tham gia vào quá trình
lao động sản xuất. Chất lượng của đào tạo nghề chính là chất lượng của nguồn
lao động qua đào tạo, đó là nguồn lao động có kỹ thuật đáp ứng nhu cầu xã
hội, được thị trường lao động chấp nhận.
Trong đào tạo nghề, đội ngũ GVDN là nhân tố chủ đạo, đóng vai trò
quyết định đến chất lượng đào tạo nghề. Nghị quyết TW 2 khóa VIII khẳng
định “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn
vinh". Nhiệm vụ của đội ngũ GVDN trong giai đoạn hiện nay không chỉ
truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cho người lao
động mà phải chú trọng đến nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu của
thị trường lao động. Tạo ra nguồn nhân lực có đủ năng lực và trình độ đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện CNH, HĐH đất nước. Nghị
quyết TW 2 khóa VIII đã khẳng định: “Đào tạo lao động kỹ thuật là đào tạo
nhân tài cho đất nước” và lực lượng lao động đó chỉ có được khi được đào tạo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 14
bởi ĐNGV thực sự có chất lượng. Đối với giáo viên dạy nghề, ngoài việc
giảng dạy về những kiến thức chung, những kiến thức cơ bản, số giờ giảng
dạy lý thuyết nghề chỉ chiếm 25 đến 30%, số giờ còn lại là hướng dẫn thực
hành, thực tập nghề. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên dạy nghề không chỉ giỏi
về lý thuyết mà còn phải giỏi về thực hành nghề, phải có nội dung và phương
pháp dạy học phù hợp đáp ứng chất lượng và hiệu quả trong đào tạo.
Trong cơ chế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định
được chất lượng đào tạo nghề sẽ tạo ra sức hút đối với người học và uy tín
trong đào tạo, đó chính là nhân tố mang tính quyết định xây dựng lên thương
hiệu nhà trường trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt về đào tạo. Sự
nghệ mới, nâng tỷ lệ GV có trình độ đại học và sau đại học; bảo đảm tỷ lệ
HS,SV/GV quy đổi đạt ở mức phù hợp.
1.4.2. Cơ cấu giáo viên
Cơ cấu là hình thức tồn tại của hệ thống phản ánh cách thức sắp xếp
các phần tử, phân hệ và mối quan hệ của chúng theo một dấu hiệu nhất định.
- Theo chuyên môn: Là tổng thể về tỷ trọng GV của môn học theo
ngành học ở cấp tổ bộ môn, cấp khoa; nếu tỷ lệ này vừa đủ, phù hợp với định
mức thì ta có được một cơ cấu chuyên môn hợp lý, nếu thiếu chúng ta phải
điều chỉnh cho phù hợp để đạt hiệu quả các hoạt động giáo dục và đào tạo.
- Theo trình độ đào tạo: Là sự phân định GV theo tỷ trọng trình độ đào
tạo. Xác định được một cơ cấu hợp lý về trình độ đào tạo thực hiện các hoạt
động liên quan phù hợp với cơ cấu ĐNGV, đồng thời có kế hoạch đào tạo
nâng chuẩn theo yêu cầu chung của trường nghề.
1.4.3. Tiêu chuẩn đối với giáo viên dạy nghề
Nền giáo dục thế kỷ XXI thấm đậm chủ nghĩa nhân văn, tính dân chủ,
thống nhất cao giữa các yếu tố: Gia đình, nhà trường và xã hội, gắn học tập
với các hoạt động thực tiễn sản xuất. Do vậy nội dung, phương pháp giáo dục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 16
phải thay đổi theo đặc điểm đó, giáo dục phải định hướng giá trị chứ không
phải quyền uy. "Để tác động đến đối tượng là nhân cách học sinh, người giáo
viên phải dùng công cụ là chính nhân cách của mình" [23, tr.75]. Nên nhân
cách nhà giáo chính là tấm gương sáng đối với thế hệ trẻ.
Trong nhà trường hiện đại, nhà giáo không chỉ đóng vai trò truyền thụ
kiến thức mà còn là “chuyên gia giáo dục”, là người tổ chức hoạt động nhận
thức cho học sinh (HS), dạy cho HS phương pháp học và tự học, tự bồi
dưỡng, rèn luyện và học tập liên tục, học tập suốt đời. Đồng thời tổ chức cho
học sinh tham gia vào các hoạt động xã hội, tư vấn, hướng nghiệp và lao động
a) Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp
trung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải có bằng tốt nghiệp trung
cấp nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
b) Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt
nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy
thực hành phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, người có
tay nghề cao;
c) Giáo viên dạy lý thuyết trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốt
nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành trở lên; giáo viên
dạy thực hành phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân,
người có tay nghề cao;
d) Trường hợp giáo viên dạy nghề tại các điểm a, b và c nêu trên không
có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật
thì phải có chứng chỉ sư phạm dạy nghề.
1.5. Quan điểm chỉ đạo, định hƣớng phát triển đội ngũ giáo viên
dạy nghề
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của ĐNGV trong việc nâng cao chất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 18
lượng giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Quan điểm về xây dựng
và phát triển đội ngũ nhà giáo luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan
tâm. Đặc biệt là trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế
hiện nay, nhà giáo lại càng được quan tâm xây dựng và phát triển hơn.
Chỉ thị 40/CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư TW Đảng
Khóa IX về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục đã chỉ đạo: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương
giáo dục nhân cách cho học sinh bằng chính bản thân mình thông qua nhân
cách người thầy. Như vậy, phát triển ĐNGV dạy nghề theo hướng chuẩn hóa
là một tất yếu khách quan đối với hệ thồng dạy nghề nói chung và mỗi trường
dạy nghề nói riêng trong việc đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội.
1.6. Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên trong trƣờng Dạy nghề
theo hƣớng chuẩn hóa
1.6.1. Xây dựng quy hoạch đội ngũ giáo viên:
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của nhà trường và căn cứ vào Điều lệ nhà
trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; căn cứ các văn bản pháp quy
của Chính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục - Đào tạo
về GV, GVDN và về dạy nghề; căn cứ vào nội dung kế hoạch được giao; căn
cứ thực trạng của nhà trường về ĐNGV hiện có, nhiệm vụ đào tạo của nhà
trường hiện tại và theo hướng phát triển tương lai. Trên cơ sở đó lập bản quy
hoạch xây dựng ĐNGV nhằm đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ và cân đối về
cơ cấu để thực hiện nội dung đào tạo nghề theo chương trình và kế hoạch đào
tạo: Kế hoạch tuyển chọn mới, giải quyết số GV hiện có đi đào tạo bồi dưỡng,
giải quyết số GV dư thừa không đáp ứng được yêu cầu giảng dạy điều chuyển
công tác khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 20
1.6.2. Tuyển dụng
Nhằm đảm bảo về chất lượng, đủ số lượng GV, nhân viên còn thiếu so
với bản quy hoạch đề ra; tuyển dụng GV phải đảm bảo các nguyên tắc tuyển
chọn sau: xuất phát từ nhu cầu của từng bộ môn, từng khoa và quyền của học
sinh; sử dụng tối đa năng lực của họ; căn cứ vào tiêu chuẩn quy định rõ ràng
cho từng vị trí tuyển chọn Tuyển chọn GV hợp đồng: xét phẩm chất và
năng lực phù hợp với nhu cầu của nhà trường có thể hợp đồng dài hạn hoặc
ngắn hạn. Tuyển chọn GVDN trong nhà trường phải nhằm hướng đến mục
chính trị, phẩm chất đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ với các nhiệm vụ đặt ra
từ thực tiễn; thu hút mọi GV, cán bộ quản lý vào các hình thức học tập và tự
bồi dưỡng; việc bồi dưỡng toàn diện GV phải diễn ra thường xuyên liên tục
trong suốt quá trình hoạt động sư phạm; chú ý tới trình độ đào tạo và nhu cầu
bồi dưỡng của trừng cá nhân GV cũng như cán bộ quản lý từ đó xác định nội
dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng.
Cần kết hợp chặt chẽ giữa các loại hình bồi dưỡng tập trung và tại
chức, nhằm vừa đảm bảo yêu cầu học tập nâng cao trình độ năng lực cho GV,
vừa đảm bảo số GV cần thiết tham gia giảng dạy trong năm học. Đồng thời
kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, đào tạo lại theo các bậc trình độ cơ bản với
công tác bồi dưỡng. Coi công tác bồi dưỡng là một hệ thống của quá trình
giáo dục-đào tạo, vừa tiếp nối, vừa xen kẽ với xu thế học suốt đời nhằm hoàn
thiện tiêu chuẩn chức danh và bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ của GV.
Cần có chính sách cụ thể, rõ ràng về công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm
khuyến kích ĐNGV học tập. Đồng thời có những biện pháp đồng bộ về quản
lý triển khai thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng.
+ Nội dung bồi dưỡng: Bồi dưỡng tư tưởng chính trị, chủ trương của
Đảng và chính sách pháp luật Nhà nước, các quy định về dạy nghề: nhằm
nâng cao nhận thức về lý luận chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục và dạy nghề. Bồi dưỡng những kiến thức về chuyên môn,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 22
những tiến bộ khoa học - công nghệ mới thuộc chuyên môn giảng dạy, bồi
dưỡng kỹ năng thực hành nghề, nâng cao năng lực dạy nghề theo mô đun. Bồi
dưỡng năng lực sư phạm: Phương pháp giảng dạy tích cực; năng lực tổ chức
quá trình dạy học. Bồi dưỡng những kiến thức và kỹ năng ngoại ngữ, tin học
phục vụ cho chuyên môn
Tri thức sâu và rộng là nền tảng của năng lực sư phạm, do đó người GV
tạo, cảm thấy hài lòng và gắn bó với nhà trường. Từ đó họ sẽ phát huy tính
tích cực, năng động, sáng tạo của mình, thực hiện có hiệu quả các hoạt động
giảng dạy, học tập cũng như các hoạt động chuyên môn.
1.6.6. Công tác kiểm tra, đánh giá:
Đây là khâu quan trọng của một chu kỳ quản lý để điều chỉnh bổ sung
cho phù hợp và rút ra những kinh nghiệm quản lý. Các biện pháp tổ chức
kiểm tra, đánh giá từng công đoạn sẽ giúp cho việc khẳng định tính đúng đắn
của kế hoạch, kịp thời chỉnh sửa, bổ sung nếu có sai sót. Kiểm tra, đánh giá
phát triển ĐNGV dạy nghề theo định kỳ sẽ góp phần phát huy mặt mạnh, điều
chỉnh những sai sót cho phù hợp mục tiêu đề ra về cả hai phía: GV và nhà
quản lý.
Yêu cầu về việc kiểm tra, đánh giá là phải khách quan, công khai, dân
chủ, công bằng. Nếu không thực hiện đúng yêu cầu này sẽ dẫn đến sự mất
đoàn kết trong tập thể, không tôn trọng lẫn nhau, … gây hậu quả không tốt và
kém hiệu quả đối với việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường.
Như vậy, để phát triển đội ngũ GVDN của nhà trường theo hướng
chuẩn hoá có hiệu quả cần thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nội dung phát triển
GV theo quan điểm, yêu cầu, tham khảo kinh nghiệm phát triển GV theo
hướng chuẩn hoá của các nước. Thực hiện đồng bộ các khâu từ việc quy
hoạch, kế hoạch, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh giá việc phát triển ĐNGV
của nhà trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 24
Kết luận chƣơng 1
1. Dạy nghề có nhiệm vụ đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản
xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp,