DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BQP : Bộ Quốc phòng
CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CNTT : Công nghệ thông tin
CSVC : Cơ sở vật chất
ĐNGV : Đội ngũ giáo viên
ĐNGVDN : Đội ngũ giáo viên dạy nghề
GDNN : Giáo dục nghề nghiệp
GV : Giáo viên
GVDN : Giáo viên dạy nghề
HS : Học sinh
NCKH : Nghiên cứu khoa học
NVSP : Nghiệp vụ sư phạm
TCN : Trung cấp nghề
1
1
MỤC LỤC
2
2
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Danh mục bảng
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ quản lý nguồn nhân lực của Leonard Nadle 17
Sơ đồ 1.2. Mô hoạt động của giáo viên dạy nghề 21
Sơ đồ 1.3. Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên trong các cơ
sở đào tạo nghề 25
Sơ đồ 1.4. Các bước tiếp cận nội dung phát triển đội ngũ giáo viên 31
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức nhà trường 36
Sơ đồ 3.1. Những nội dung cơ bản về đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV 64
Sơ đồ 3.2. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV 74
Danh mục biểu
Biểu đồ 3.1. Mức độ cần thiết của các giải pháp 86
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trường Trung cấp nghề số 1- BQP có vai trò quan trọng trong đào tạo
nguồn nhân lực của tỉnh khu vực Đông Bắc và đặc biệt tạo công ăn việc làm
cho Bộ đội xuất ngũ sau khi hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương, góp phần
ổn định kinh tế gia đình và xây dựng đất nước. Trong những năm qua nhà
trường trường đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc thực hiện sứ
mạng và nhiệm vụ được giao.
Cùng với sự phát triển của nhà trường, theo tháng năm đội ngũ giáo viên
của nhà trường ngày càng phát triển. Tuy nhiên, hiện tại ĐNGV của nhà
trường còn nhiều bất cập so với yêu cầu đặt ra: Số lượng giáo viên (GV) của
Trường còn thiếu; trình độ, chất lượng của ĐNGV không đồng đều và còn
thấp so với yêu cầu chuẩn hoá; khả năng nghiên cứu khoa học, tự học, tự bồi
dưỡng của ĐNGV chưa xứng tầm với sự phát triển của nhà trường.
Với những yêu cầu trên đây, vấn đề ĐNGV dạy nghề đáp ứng yêu cầu
của xã hội và sự phát triển của nhà trường là thật sự cần thiết và cấp bách. Vì
vậy chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên
trường Trung cấp nghề số 1 - BQP theo yêu cầu chuẩn hoá".
5
5
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp phát triển ĐNGV Trường Trung cấp nghề số I -
BQP theo yêu cầu chuẩn hoá.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý phát triển ĐNGV Trường
Trung cấp nghề số 1- BQP.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp phát triển ĐNGV Trường
Trung cấp nghề số 1 - BQP theo yêu cầu chuẩn hoá.
4. Giả thuyết khoa học.
Công tác quản lý phát triển ĐNGV của Trường Trung cấp nghề số 1 -
BQP đã đạt được một số kết quả, xong nó còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nếu có
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên
Khi đề cập đến phát triển ĐNGV, ngoài sự thống nhất về nội dung các
nhiệm vụ với phát triển nguồn nhân lực, thời gian gần đây những nghiên cứu
trên thế giới đều dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lượng giáo viên, đề cập
việc thúc đẩy phát triển bền vững và thích ứng nhanh của mỗi giáo viên và cả
đội ngũ. Trong đó, việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới, dẫn đến nhu
càu thay đổi vai trò và phương pháp của người thầy càng trở nên cấp thiết, các
hình thức bồi dưỡng giáo viên cũng trở nên đa dạng và phong phú, quan tâm
cách thức bồi dưỡng theo mô đun. Kèm theo đó là chính sách giảm giờ dạy
trên lớp của GV và coi trọng cơ cấu quan hệ giữa dạy lý thuyết và thực hành
[18], [20], [21], [22], [23], [24].
Daniel R. Beerens chủ trương tạo ra một "nền văn hoá" về sự thúc đẩy và
học hỏi trong đội ngũ (Creating a Culture of Motivation and Learning), coi đó
là giá trị mới của nhà giáo. Daniel R. Beerens cho rằng, tính động trong tăng
trưởng và luôn luôn mới là tiêu chí trung tâm của đội ngũ nhà giáo ngày nay
[19]. NBPTS (Uỷ ban Quốc gia về các Tiêu chuẩn chuyên môn nhà giáo)
được tạo nên từ năm 1987 sau Hội thảo Camegie về nhà giáo cho thế kỷ 21.
Sau một thời gian ngắn, NBPTS đã phát hành một bản yêu cầu mang tính
nguyên tắc định hướng nghề nghiệp đầu tiên: Thầy giáo cần phải biết và có
thể làm gì ? (What teachers Should Know and Be Able to do ?) với 5 vấn đề
cốt lõi được hoà trộn là Kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin [8].
Một nghiên cứu tương tự trong công trình chung của các thành viên
OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu) đã chỉ ra chất lượng nhà giáo
gồm 5 mặt: Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ
8
8
môn mình dạy; Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được "Kho kiến thức" về
PPDH, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; Có tư duy phản ánh
trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê phán, nét rất đặc trưng của nghề
(2) Cần có chính sách tuyển dụng, sàng lọc và đánh giá GV một cách
khách quan, thoả đáng.
Trong chuyên khảo "Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ
giáo viên", các tác giả Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa,
sau khi đề cập những vấn về chung về phẩm chất - năng lực người thầy, nghề
thầy trong bối cảnh phát triển mới; cuốn sách đã đề ra các con đường để
người thầy tự tìm hiểu nâng cao được phẩm chất, năng lực của bản thân, đáp
ứng yêu cầu của nhà giáo trong điều kiện đất nước thực hiện hội nhập và công
nghiệp hoá, đưa giáo dục vào sự chuẩn hoá, hiện đại hoá [2].
Nhằm triển khai thực hiện Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư về "Xây
dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD giai đoạn2005
- 2010". Viện chiến lược và Chương trình giáo dục đã thực hiện nghiên cứu
đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo Việt Nam, làm căn cứ cho các quyết
định có liên quan tới đội ngũ nhà giáo.
Bản báo cáo khuyến nghị những khía cạnh cần được đặc biệt quan tâm
nhằm nâng cao năng lực về chuyên môn cho cả ĐNGV: (a) Khả năng sử dụng
ngoại ngữ để hỗ trợ cho hoạt động nghề nghiệp; (b) Khả năng gắn kết giảng
dạy, NCKH với thực tiễn lao động sản xuất; (c) Khả năng biết ứng dụng công
nghệ thông tin vào giảng dạy; (d) Sự am hiểu về các vấn đề văn hoá, xã hội
[17, tr.163].
10
10
Tóm lại, từ những nội dung đã trình bày trên đây, có thể nhìn nhận:
Phát triển ĐNGV với tư cách là nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn
nhân lực đặc biệt là một nội dung quan trọng, cấp thiết, thu hút sự nghiên cứu
của nhiều tổ chức và nhà khoa học trong và ngoài nước. Đã có nhiều công
trình nghiên cứu và có những thành tựu quan trọng về vấn đề này. Tuy nhiên,
công bằng mà nói, các công trình đó mới chỉ chuyên sâu vào những nội dung
nhất định của vấn đề, hoặc các luận văn thạc sĩ, các đề tài khoa học lại gắn
với vùng miền cụ thể. Việc khai thác tổng hợp sơ đồ quản lý nguồn nhân lực
chế xã hội.
1.2.4. Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
Phát triển ĐNGVDN là giải pháp của những nhà quản lý nhằm xây dựng
ĐNGV đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu. Thuật ngữ
"Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề được hiểu là một khái niệm tổng hợp
bao gồm cả việc bồi dưỡng ĐNGVDN và phát triển nghề nghiệp cho đội
ngũ. Nếu như phạm vi bồi dưỡng bao gồm những gì mà người GVDN cần
phải biết và phạm vi phát triển nghề nghiệp bao gồm những gì họ nên biết,
thì phát triển ĐNGVDN là bao quát tất cả những gì mà người GVDN có thể
trau dồi phát triển để đạt các mục tiêu cơ bản cho bản thân, cho nhà
trường. Đó là con đường để người GVDN phát triển toàn diện nội lực của
bản thân, làm cho họ có đủ điều kiện, có khả năng sáng tạo trong việc thực
hiện tốt nhất mục tiêu của nhà trường. Vì vậy, quan tâm việc phát triển
ĐNGVDN là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát
triển toàn diện của các trường".
Phát triển ĐNGVDN chính là tìm cách khuếch trương để đạt hiệu suất
cao nhất của 5 yếu tố "phát năng": (1) GD%ĐT để toàn đội ngũ đạt đến sự
chuẩn hoá, hiện đại hoá; (2) Thực hiện các chế độ, chính sách tốt nhất đối với
giáo viên; (3) Tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, đảm bảo tính hợp lý, tính
12
12
xã hội hoá và tính đồng thuận trong tổ chức; (4) Tổ chức hoạt động giảng dạy
một cách hợp lí, đồng bộ với các yếu tố số lượng, cơ cấu của đội ngũ; (5)
Tăng cường cơ chế dân chủ trong hoạt động, giúp GV tự phát triển bản thân.
Tựu trung lại, phát triển ĐNGVDN là một quá trình liên tục phát triển
nhằm hoàn thiện hoặc thay đổi tình hình hiện tại để làm cho đội ngũ không
ngừng lớn mạnh về mọi mặt.
1.3. Cơ sở phương pháp luận và định hướng lý luận đối với sự phát triển
đội ngũ giáo viên dạy nghề
Chúng ta đang sống trong thời đại kinh tế tri thức - nền kinh tế "lấy việc
nhập bình đẳng.
Từ đó, chúng tôi xác lập một mô hình cấu trúc nhân cách mới của người
GVDN trong thời đại kinh tế tri thức bao gồm 4 đặc trưng sau:
Thứ nhất, người GVDN phải có giá trị là người có tố chất nhân cách - trí
tuệ, tức là phải có tri thức hiểu biết, có tinh thần khoa học luôn khám phá, đổi
mới, có tư duy phê phán, coi trọng thực tế và luôn học tập không ngừng.
Thứ hai, người GVDN phải có những giá trị phát triển hài hoà giữa con
người và tự nhiên. Bởi có những giá trị này thì họ thực sự mới nắm bắt, tôn
trọng giới tự nhiên và qui luật tự nhiên cũng như sự hài hoà về môi trường
sinh thái, tạo cơ sở cho sự đảm bảo cân bằng giữa ổn định và phát triển
bền vững.
Thứ ba, người GVDN phải có những giá trị phát triển hài hoà giữa con
người và xã hội, tạo ra sự hợp tác, quan tâm và đoàn kết giữa các chủ thể. Đây
là nhân tố thúc đẩy sự hoạt động một cách lành mạnh trong môi trường xã
hội, đảm bảo giữa hiện thực và nhu cầu, nối con đường cung - cầu của thị
trường lao động, đưa mục tiêu của các hoạt động đi đến điểm đích là chất
lượng của các sản phẩm.
14
14
Thứ tư, người GVDN phải có những giá trị khẳng định chủ thể sáng tạo,
nhận thức và cải tạo thế giới xung quanh, không ngừng vươn lên hoàn thiện
chính mình. Đây là đặc trưng về phương diện cá thể - chủ thể khẳng định sự
vận dụng một cách hiệu quả trí tuệ và năng lực của mình vào việc đạt được
thành công trong công việc và sự nghiệp.
Bốn đặc trưng trên chủ yếu tập trung vào trí tuệ, tinh thần, cảm xúc, thể
chất, tức là sự tổng hợp của tâm lực, trí lực và thể lực. Người GVDN phải
đồng thời hội đủ những nhân tố hết sức quan trọng đó. Nói tổng thể, họ phải
có "nhận thức mẫu mực, tác phong mẫu mực, kiến thức mẫu mực và hiệu quả
mẫu mực".
Với những vấn đề tiếp cận và bàn luận trên đây, chúng tôi đưa ra những
- Luôn có tinh thần giúp đỡ HS bằng ý kiến hoặc hành động thực tế chân
thành và giản dị, không phân biệt đối xử với họ. Tuy nhiên, yêu thương HS
luôn phải đi kèm với nghiêm khắc và yêu cầu cao.
* Lòng yêu nghề:
Lòng yêu HS là lòng yêu nghề luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Càng yêu
người bao nhiêu, càng yêu nghề bấy nhiêu, có yêu người mới có cơ sở để yêu
nghề. Lòng yêu nghề thể hiện ở: người GV luôn nghĩ đến việc cống hiến cho
sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ của mình; trong công tác giảng dạy và giáo dục,
họ luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, luôn cải tiến nội dung,
phương pháp, không tự thoả mãn với trình độ hiểu biết và tay nghề của mình;
họ vui khi được tiếp xúc với HS,… Lòng yêu nghề giúp người GV vượt qua
mọi khó khăn để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
* Một số phẩm chất khác:
GV cần có một số phẩm chất đạo đức như: thái độ nhân đạo, lòng tôn
trọng, thái độ công bằng, chính trực, tính ngay thẳng, giản dị, khiêm tốn, …
16
16
Bên cạnh đó cần có các phẩm chất ý chí như: tính mục đích, nguyên tắc, tính
kiên nhẫn, tự chủ,
1.3.2. Những yêu cầu về năng lực
Hoạt động của GV biểu hiện ở tất cả các hình thức khác nhau của công
tác sư phạm, nhưng tập trung ở các dạng đặc trưng gồm: dạy học, giáo dục và
tổ chức, quản lý quá trình giáo dục - đào tạo. Để thực hiện được hoạt động
đặc trưng này, giáo viên cần có các năng lực sau đây:
* Nhóm năng lực dạy - học:
- Năng lực hiểu HS trong QTDH và giáo dục:
Hoạt động dạy của giáo viên có chức năng tổ chức, điều khiển hoạt động
học của HS. Chức năng dạy chỉ thực hiện có hiệu quả khi giáo viên hiểu được
HS trong QTDH và giáo dục. Đây là một trong những năng lực sư phạm cơ
bản của người GV. Đó là khả năng thâm nhập vào thế giới bên trong của học
- Nắm vững phương pháp và kỹ thuật dạy học.
- Năng lực chế tạo và sử dụng phương tiện dạy học.
- Năng lực ngôn ngữ: Giáo viên có khả năng biểu đạt rõ ràng và mạch lạc
ý nghĩ và tình cảm của mình bằng lời nói cũng như nét mặt và điệu bộ.
* Nhóm năng lực giáo dục:
Đề hình thành nhân cách cho HS, GV cần có:
- Năng lực dựa vào mục đích giáo dục và yêu cầu đào tạo để hình dung
trước cần phải giáo dục cho từng HS những phẩm chất nhân cách nào và
hướng hoạt động của mình nhằm đạt tới mục đích đó.
- Năng lực giao tiếp sư phạm là năng lực nhận thức nhanh chóng những
biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của HS.
18
18
- Năng lực "cảm hoá" rèn luyện khả năng gây được ảnh hưởng trực tiếp
của mình đối với HS về mặt tình cảm và ý chí, làm cho HS tin tưởng và hành
động bằng tình cảm và niềm tin.
- Năng lực khéo léo đối xử sư phạm: Người GV là công cụ chủ yếu để
tạo ra sản phẩm giáo dục. Sự hình thành và phát triển nhân cách là một quá
trình tu dưỡng, bồi dưỡng văn hoá và rèn luyện tay nghề trong thực tiễn sư
phạm. Thời gian đào tạo ở nhà trường, đặc biệt là các trường sư phạm có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng nhằm tạo ra tiền đề cần thiết kiến tạo nhân cách của GV.
1.3.3. Về yêu cầu đặt ra đối với GVDN nhằm đáp ứng nhiệm vụ đổi mới
Mỗi GVDN là yếu tố cơ bản, "tế bào" của đội ngũ (nguồn nhân lực). Khi
tất cả đội ngũ đều đã đạt được các yêu cầu về cá nhân nêu trên, thì tất yếu đã
có được tiền đề cho một nguồn nhân lực mạnh. Lúc này, yêu cầu về người
quản lý chủ yếu nhằm ở khía cạnh của việc tổ chức thực hiện các chức năng
quản lý. Đó là qui hoạch để có được sự đồng bộ về chất lượng, cơ cấu và số
lượng; yêu cầu đó, phải phù hợp với quan điểm của Đảng ta về chuẩn hoá,
hiện đại hoá và mục tiêu đề ra từ Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ
về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020.
nguồn nhân lực (sơ đồ 1.1) sẽ được sử dụng để tiếp cận vấn đề. Thuật ngữ "sơ
đồ quản lý nguồn nhân lực" được hiểu là bao hàm nhiều hoạt động khác nhau,
thuộc phạm vi hoạch định chính sách để quản lý và phát triển nguồn nhân lực.
Nhà xã hội học người Mĩ - Leonard Nadle cho rằng: Phát triển nguồn nhân
lực có mối gắn kết với sử dụng nguồn nhân lực và môi trường nguồn nhân lực
(dẫn theo [4, tr.16]). Trong phát triển đội ngũ GVDN, chúng ta có thể tiếp cận
nghiên cứu chỉ theo nhánh thứ nhất của sơ đồ (phát triển đội ngũ - nguồn
nhân lực), trong đó chủ yếu đi sâu vào các vấn đề giáo dục, đào tạo, bồi
dưỡng, phát triển bền vững. Nhưng vì mối quan hệ không thể tách rời với 2
20
20
nhánh còn lại (sử dụng nguồn nhân lực và môi trường làm việc của giáo viên)
và đặc biệt vì tính hệ thống của vấn đề, chúng tôi sẽ đề cập một cách hệ thống
các giải pháp để thực hiện nhiệm vụ ở cả 3 nhánh của sơ đồ. Do vậy, nội dung
phát triển đội ngũ GVDN cũng phải thực hiện đầy đủ các nội dung của quá
trình quản lý nguồn nhân lực như: kế hoạch hoá, tuyển mộ, lựa chọn, bồi
dưỡng, phát triển bền vững, đánh giá, đãi ngộ … Đồng thời, hướng tiếp cận
cần đảm bảo xuyên suốt trong phát triển đội ngũ GVDN là tuân thủ các chức
năng cơ bản của công tác quản lý: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
Phát triển
nguồn nhân lực
Sử dụng
nguồn nhân lực
Môi trường
nguồn nhân lực
- Giáo dục
- Đào tạo
- Bồi dưỡng
- Phát triển bền vững
được xây dựng và từ sự thúc đẩy cộng hưởng của chính bản thân GV mà yêu
22
22
cầu GV về tự học và học suốt đời, về tính tự chủ và tự giác phải được đặt ra
rất cao. Đây là nền tảng cho việc phát triển đội ngũ bền vững, là cơ sở để tạo
ra một "nền văn hoá" của sự thúc đẩy và học hỏi trong đội ngũ.
Với những cách tiếp cận trên, chúng tôi xác định các nội dung chính về
phát triển đội ngũ GVDN sẽ bao gồm những vấn đề chính yếu sau:
* Xây dựng tiêu chuẩn nghề nghiệp GV trong giáo dục nghề nghiệp.
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục (1998), tiêu chuẩn là
"cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng".
Khái niệm chuẩn (hay tiêu chuẩn) thường đi đôi với khái niệm chất
lượng, người ta nói gọn "chuẩn" hay "tiêu chuẩn", nhưng người ta luôn hiểu
đó là "chuẩn hay tiêu chuẩn chất lượng". Mục đích của nó là "để đạt chất
lượng" hay "để đảm bảo chất lượng". Dưới đây, hai thuật ngữ chuẩn hay tiêu
chuẩn được dùng đồng nghĩa với nhau cho cùng một khái niệm.
Hiện nay có những định nghĩa khác nhau ít nhiều về tiêu chuẩn. Có thể
định nghĩa Tiêu chuẩn nghề nghiệp GV một cách rất khái quát như sau:
Tiêu chuẩn nghề nghiệp GV là những yêu cầu, chỉ tiêu được đặt ra tuân
thủ những nguyên tắc nhất định, được dùng làm thước đo đánh giá hoạt động
của nhà giáo nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao [15].
Tiêu chuẩn nghề nghiệp GV trong GDNN thường phải do các tổ chức, cơ
quan sử dụng đội ngũ GV, đó chủ yếu là các cơ sở GDNN thông qua các đại
diện của họ tiến hành xây dựng và được cấp Bộ quản lý Nhà nước ban hành.
- Mục đích và nguyên tắc của việc xây dựng tiêu chuẩn nghề nghiệp
giáo viên.
Tiêu chuẩn nghề nghiệp GV được xây dựng và ban hành nhằm mục đích:
23
23
+ Giúp các GV tự đánh giá năng lực nghề nghiệp của bản thân, từ đó xây
- dạy nghề đã đưa ra một mô hình hoạt động của loại hình GV kỹ thuật đó.
Cần lưu ý rằng, đây là mô hình hoạt động của người GV dạy cả lý thuyết và
thực hành nghề trong các trường THCN - dạy nghề. Mặc dù đã được xây
dựng từ năm 2000 (sơ đồ 1.2) nhưng vẫn giữ nguyên giá trị tham khảo hiện
nay do bản chất các hoạt động lao động nghề nghiệp thực tế của GV trong
GDNN không có gì thay đổi đáng kể.
Trên đây là những nhiệm vụ cơ bản của nhà giáo dạy cả lý thuyết và thực
hành trong các cơ sở GDNN; mỗi nhiệm vụ lại được phân chia thành các công
việc cụ thể hơn. Kết quả phân tích nghề do nhóm nghiên cứu đề tài cấp Bộ
B99-52-36 "Xây dựng mô hình đào tạo GV kỹ thuật ở trình độ đại học cho
các trường THCN - Dạy nghề" do PGS.TS Nguyễn Đức Trí làm chủ nhiệm,
tiến hành năm 2000 đã đưa ra một danh mục công việc cụ thể được phản ánh
trên sơ đồ 2.
Sơ đồ 1.2: Mô hình hoạt động của giáo viên dạy nghề.
25
GIÁO VIÊN KĨ THUẬT
Dạy thực hành
Dạy cả LT & TH Dạy lí thuyết
Tham
gia
hoạt
động
chinh
Làm
chủ
nhiệ
m
lớp
Đánh
giá
bị
bài
dạy
25