NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN CỦA CÁ CHẠCH ĐỒNG (MISGURNUS ANGUILLICAUDATUS) TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI NHÂN TẠO - Pdf 24

UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH
SẢN CỦA CÁ CHẠCH ĐỒNG (MISGURNUS
ANGUILLICAUDATUS)
TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI NHÂN TẠO
MỤC LỤC
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2
PHẦN III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
PHẦN IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
i
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành nuôi trồng thủy sản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân. Hiện nay, ngành nuôi trồng thủy sản của nước ta đang phát triển nhanh chóng
cả về chất lượng và quy mô nuôi. Ngoài việc cung cấp thực phẩm cho thị trường
trong nước còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, trở thành một ngành
kinh tế mũi nhọn.
Trong những năm gần đây bên cạnh việc phát triển của ngành nuôi trồng
thủy sản vẫn còn nhiều vấn đề bất cập do sự thiếu quy hoạch, các hình thức quản lý
chưa phù hợp, cơ cấu nuôi thiếu chú trọng tới những đối tượng có giá trị xuất khẩu
như cá chạch đồng, lươn,….
Cá chạch đồng (Misgurnus anguillicaudatus), thuộc họ cá chạch (Cobitidae)
là loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao. Cá Chạch đồng có
chất lượng thịt thơm ngon và là một trong số những đối tượng nuôi có giá trị kinh
tế về mặt dinh dưỡng. Trong 100g thịt cá có 9,6g protid, 3,7g lipid, 2,5g
carbohydrat, 28mg Ca, 72mg phospho, 0,9mg sắt các vitamin A, B1, B2 và acid
nicotinicơ được nhân dân ưa chuộng. Ngoài ra đông y cho rằng cá chạch có tác

trung du và miền núi các tỉnh phía Bắc, Nam trung bộ và Tây nguyên.
2
Cá chạch đồng có thể sống ở sông, hồ, ao, ruộng lúa, kênh mương, nơi có
đáy bùn và nước chảy nhẹ….
Chúng thích nghi nhanh ở môi trường xấu. Khi nhiệt độ nước quá cao, hoặc
quá thấp chạch rúc xuống bùn. Nhiệt độ phù hợp cho chạch sinh trưởng từ 15 -
30
0
C, thích hợp nhất 25 - 27
0
C. Ở nhiệt độ này, chạch ăn khỏe và mau lớn.
Ngoài hô hấp bằng da, mang, chạch còn có thể thở bằng ruột, khi nước thiếu
ôxy chạch ngoi lên trực tiếp mặt nước để đớp không khí, thực hiện trao đổi khí ở
trong ruột sau đó khí được thải qua hậu môn ra ngoài.
Một nghiên cứu được các nhà khoa học Hàn Quốc công bố tại hội nghị
thường niên tại Philadelphia là loài cá này có khả năng diệt muỗi trong các ruộng
lúa.
Cá chạch đồng di chuyển chậm, thường sống ở dưới bùn, có thể sống ở dưới
ao hồ nghèo ôxy. Chúng hoạt động chủ yếu vào ban đêm và theo mùa nên tiếng
Anh gọi là “ con cá thời tiết”.
Nhiệt độ: có phổ nhiệt độ rộng [14]. Dưới điều kiện thí nghiệm cá chạch
đồng có thể chịu đựng được nhiệt độ dưới 2
0
C.
2.1.3. Đặc điểm phân loại
Cá mình dài, đọan trước vây bụng hình ống tròn, đoạn sau dẹt dần, cuống
đuôi dẹt mỏng. Đầu tương đối nhọn, mắt nhỏ. Có 6 đôi râu, 9 tia vây lưng, 6 -7 tia
vây ngực. 7 – 8 tia vây hậu môn. Vây đuôi hình tròn, tuyến bên hoàn chỉnh. Hai
bên lưng màu tro đậm, có con có đốm tròn đen xen kẽ.
2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng

12.000 – 14.000 trứng, cỡ 18cm có 12.000 – 18.000 trứng, cỡ 20cm có 24.000
trứng.
Khi đẻ, cá đực húc vào bụng con cái, chạch cái lộn lên mặt nước, chạch đực
chạy theo quấn mình vào chạch cái và tưới tinh dịch, lúc này chạch cái cũng phóng
trứng ra – trứng rơi dính lên cỏ dưới nước hay vật bám khác chỗ có nước lưu
thông. Trứng thụ tinh ở nhiệt độ 25 – 30
0
C, sau 20-40h thì nở thành con.
Tiêm kích dục tố cho cá cái từ 2-4 não thuỳ cái, tiêm vào xoang bụng, sau
khi tiêm 1-3 ngày thì cá đẻ trứng. Cá mới nở ăn các loại luân trùng, tảo lục, có thể
cho cá ăn lòng đỏ trứng. Cá nở 10 ngày có chiều dài 1cm.
4
2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Nghiên cứu nước ngoài
Theo Fengyu và Bingxian (1990) [10], tuổi thành thục lần đầu của cá Chạch
đồng cái là từ 1-2 năm và cá đực là 1 năm. Đặc điểm phát triển của tuyến sinh dục
và các giai đoạn thành thục của tế bào trứng giống như cá chép. Cá chạch có thể đẻ
nhiều lần trong năm. Sức sinh sản của cá chạch tỷ lệ thuận với kích thước của cơ
thể cá chạch. Mùa sinh sản kéo dài từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 10 hàng năm. Cá
chạch đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất về chiều dài trong năm thứ nhất và thứ hai
nhưng tăng trưởng cao nhất về khối lượng thì xảy ra trong năm thứ hai. Đối với
hình thức nuôi thâm canh, cá chạch đạt kích thước thương phẩm vào tuổi thứ 2, khi
chiều dài cá >11cm.
Sử dụng GnRHa (liều đơn) và kết hợp với DOM để kích thích sự rụng trứng
cá Chạch đồng cái được thu thập từ tự nhiên. Liều lượng các chất kích thích rụng
trứng như sau: 2 mg/kg cá đối với não thùy thể khi tiêm liều sơ bộ. GnRHa tiêm
liều đơn với liều lượng 10 µg (G10), 20 µg (G20), 40 µg (G40) và 60 µg (G60) /kg
cá và phối hợp giữa GnRHa và DOM với liều 5 µg + 2,5 mg (GD5), 10 µg + 5 mg
(GD10), 20 µg + 10 mg (GD20) và 40 µg + 20 mg (GD40)/kg cá. Sự kết hợp giữa
GnRHa và DOM với liều 20 µg + 10 mg (GD20) và 40 µg + 20 mg (GD40)/kg cá

ngày 30. Dự đoán tỷ lệ thức ăn tối đa trên khối lượng đàn cá là 43,1%; 33,%;
19,0%; 12,8%; và 5,8% vào các ngày tuổi tương ứng là 4, 12, 20, 30 và 40. Nhịp
độ bắt mồi của cá con cũng khác nhau ở giai đoạn trước và sau khi biến thái. Hoạt
động bắt mồi của cá bột Chạch đồng trước khi biến thái tập trung vào ban ngày
(khi này cá bột ở trạng thái sống nổi) và tập trung vào ban đêm sau khi trải qua giai
đoạn biến thái (khi này cá con ở trạng thái sống đáy). Kích thước và hình dạng của
cá bột và cá con ở các ngày 4, 12, 20, 30 và 40 cũng được mô tả trong báo cáo này
[16].
6
Ở Hàn Quốc đã bắt đầu nghiên cứu đặc điểm sinh học và thử nghiệm sinh
sản cá Chạch đồng từ năm 1974. Hiện nay quy trình sinh sản nhân tạo cá Chạch
đồng đã được hoàn thiện ở Hàn Quốc. Theo quy trình của Hàn Quốc, đã tiến hành
sinh sản nhân tạo cá Chạch đồng bằng cách kết hợp giữa kích dục tố đối với cá
nước ngọt LH-RHa (Luteinising Hormone – Releasing Horrmone Analogue) và
DOM (Domperidon) để gây kích thích sinh sản cho cá Chạch đồng. Sau đó cá
Chạch đồng được đưa vào bể đẻ với tỷ lệ đực : cái là 1,5:1,0. Sau đó tiến hành ấp
trứng bằng giá thể và ương cá bột trong bể xi măng đến cá giống nhỏ và ương tiếp
lên giống lớn trong ao đất. Quá trình thuần hóa duy trì nhiệt độ nước từ 25-30
o
C,
thì tỷ lệ cá cái tham gia sinh sản khoảng 80%. Trong quá trình sinh sản nhân tạo, tỷ
lệ nở khoảng 85%. Tỷ lệ sống từ cá bột lên cá giống 5cm khoảng 70% (Công ty
EWEON, 2009)[3].
* Phương pháp nuôi cá chạch ở Nhật Bản
Nhật Bản đã tiến hành nuôi cá chạch thương phẩm, diện tích bể nuôi 100 -
200 m
2
, nước sâu 20 - 30 cm, cá giống thả có chiều dài 3 - 4 cm. Lượng cá đưa vào
1m
2

tuổi thọ thấp và sớm tham gia sinh sản. Thức ăn chủ yếu là động vật không xương
sống như Copepoda, Ostracoda, tảo, mùn bã hữu cơ.
Tác giả Võ Văn Chi (1999) có mô tả loài Chạch đồng như sau: cá Chạch
đồng có phần thân trước hình trụ tròn, phần đuôi dẹp một bên, dài 5-18cm. Đầu cá
nhọn, hơi tròn. Mắt nhỏ nằm ở hai bên đầu, khoảng cách giữa hai mắt rất ngắn. Có
3 đôi râu miệng trong đó 2 đôi ở đầu mõm và 1 đôi ở góc miệng. Da mỏng và dưới
da có nhiều tuyến tiết chất nhờn nên rất trơn. Màu sắc của cá thay đổi theo màu
nước nơi chúng sinh sống: toàn thân màu nâu, lưng màu nâu đen xậm hơn bụng,
bụng màu vàng nhạt. Trên thân có nhiều chấm nhỏ, đôi khi tụ thành những chấm
lớn. Ở gốc vây đuôi có một chấm to màu đen. Cá sinh sản vào các tháng 4-7. Cá
cái có thể đẻ mỗi đợt khoảng 2000 trứng. Mức sinh sản trung bình, mật độ cá có
thể tăng gấp đôi sau từ 1 đến 4 năm. Cá ăn động vật thủy sinh nhỏ ở tầng đáy. Cá
Chạch đồng thường sống trong hang, hốc bùn dưới đáy, chỉ nhô phần đầu ra ngoài.
Cá trưởng thành thích những vùng nước tĩnh hay chảy chậm [6].
Hồ Thị Lan Anh (2011) khi nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Chạch
đồng tại tỉnh Đắk Lắk cho thấy tương quan về chiều dài và khối lượng của cá theo
Beverton – Holt (1959) là W = 0.0175 x L
2.582
với R
2
=0.9189. Hệ số béo của cá
8
Chạch đồng đực có sự tăng giảm không theo quy luật từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau. Hệ số béo của cá cái có sự tăng dần từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, tháng 4
có hệ số béo giảm. Nghiên cứu này cũng cho biết, cá Chạch đồng kiếm ăn nơi tầng
đáy, thuộc loài cá ăn tạp nghiêng về động vật. Các loại thức ăn của cá Chạch đồng
là giáp xác đáy, động vật nổi, ấu trùng, nhuyễn thể, thực vật thủy sinh như rong, vi
tảo. Mùa sinh sản chủ yếu của cá Chạch đồng bắt đầu vào tháng 3 [1].
Bùi Huy Cộng và nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu NTTS I đã tiến
hành nghiên cứu thăm dò sinh sản nhân tạo cá Chạch đồng trong 2 năm từ tháng

được lặp lại 3 lần, thức ăn là lòng đỏ trứng gà luộc chín nghiền mịn và động vật
phù du đã được lọc sạch, rửa bằng nước muối loãng 2%. Kết quả ương cá Chạch
9
đồng từ cá bột cỡ 0,6cm, sau 21 ngày tuổi cho thấy ương ở mật độ 100con/m
2

kết quả tốt nhất, chiều dài trung bình 2,5cm và tỷ lệ sống 60%.
Kết quả ương cá Chạch đồng trong 3 bể xi măng (lặp lại 3 lần) từ giai đoạn
cá hương lên cá giống ở mật độ 100 con/m
2
. Cá thả có khối lượng trung bình 0,146
g/con, sau 43 ngày nuôi bằng thức ăn viên 35% protein cá đạt khối lượng trung
bình 2,6 g/con. Kết quả tốc độ sinh trưởng trung bình của cá Chạch đồng đạt 0,057
g/con/ngày; tỷ lệ sống dao động ở các bể 60-68%; hệ số chuyển hóa thức ăn trung
bình là 1,5 [14].
Hiện nay, mặc dù các nghiên cứu về cá Chạch đồng còn hạn chế tuy nhiên
cũng có nhiều mô hình nuôi cá Chạch thương phẩm ở các tỉnh miền Bắc. Phong
trào nuôi Chạch đồng trong ruộng lúa và đã đạt được một số kết quả khả quan, như
mô hình nuôi cá Chạch đồng ở Quốc Oai và Ứng Hòa, Hà Nội. Năm 2009, toàn
huyện Quốc Oai có 20 hộ vừa nuôi cá Chạch vừa nuôi cua đồng. Mật độ thả 20
con/m
2
, tuỳ theo cá chạch lớn hay nhỏ, thả cá chạch giống sau 2-3 ngày tiến hành
cho ăn. Thức ăn cho cá chạch rất đơn giản, dễ kiếm, chỉ cần bắt ốc bươu ngay tại
ruộng lúa, mang về xay nhỏ trộn với cám viên lại, tuần cho ăn 2 – 3 lần. Nên cho
ăn vào buổi chiều tối từ 5 – 6 giờ [14].
2.3. Tổng quan về sự thành thục tuyến sinh dục cá
2.3.1. Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục cá
Tuyến sinh dục của cá là hai dải nằm sát thành cơ thể, dọc hai bên sống
lưng và phía trên của ruột, phía trên bóng hơi. Phía hai đầu tuyến sinh dục được

11
dục tố cho cá đẻ. Về ngoại hình, buồng trứng có màu vàng xanh hoặc vàng trắng,
trứng tròn và căng.
Giai đoạn V: Đây là giai đoạn trứng chín, các noãn bào tách khỏi bao noãn và
màng liên kết để rụng vào xoang noãn sào. Nếu dốc cá và ấn nhẹ vào bụng cá, trứng
sẽ chảy ra ngoài.
Giai đoạn VI: Là giai đoạn sau khi đẻ xong, buồng trứng xẹp đi, bao nõan rỗng,
mềm nhão, màu đỏ thẫm, mạch máu xuất hiện nhiều. Trong buồng trứng có thể có tế
bào trứng ở giai đoạn II và III [2].
b. Giai đoạn phát triển tinh sào cá
Giai đoạn I: tuyến sinh dục là một dải nhỏ dính sát vách xoang bên trong không
rõ túi hay phiến sinh tinh, mắt thường không phân biệt được đực cái.
Giai đoạn II: Cơ thể từ giai đoạn I phát triển lên hoặc từ giai đoạn VI chuyển
qua. Tinh sào có hình một dải nhỏ màu hồng nhạt. Trên lát cắt tiêu bản có thể nhìn
thấy túi sinh tinh trong đó chứa các nguyên tinh bào.
Giai đoạn III: Tinh sào đạt chiều dài cực đại nhưng bề rộng và dày thì chưa đủ,
tinh sào có màu trắng phớt hồng, mạch máu đã phân bố nhiều. Trên tiêu bản thấy các
túi sinh tinh trong đó có chứa các tinh sào sơ cấp và thứ cấp.
Giai đoạn IV: Tinh sào màu trắng, bên trong có tinh trùng, tinh bào sơ cấp, tinh
bào thứ cấp.
Giai đoạn V: Tinh sào có màu trắng đục, bên trong đại bộ phận là tinh trùng, nếu
ấn nhẹ vào bụng cá tinh dịch có thể chảy ra ngoài.
Giai đoạn VI: Tinh sào teo nhỏ sau khi sinh sản, hình dạng giống như giai đoạn
II nhưng có màu hồng đỏ, nhiều mạch máu phân bố trên bề mặt tinh sào.
Nuôi vỗ cá bố mẹ là khâu có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ các khâu của quá
trình sản xuất giống nhân tạo. Trong sinh sản nhân tạo ở những khu vực thuộc vĩ độ
khác nhau, vùng nước khác nhau hoặc trong cùng một vùng nước, phương pháp và
điều kiện nuôi vỗ khác nhau cũng dẫn đến sự phát dục thành thục của đàn cá bố mẹ
12
khác nhau. Như vậy, phương pháp nuôi vỗ trên cơ sở điều kiện ở mỗi địa phương

Tính về nhiệt lượng: Sự phát dục thành thục của tuyến sinh dục thường tỷ lệ
thuận với nhiệt lượng. Mỗi một loài cá yêu cầu tổng nhiệt lượng cho thời kỳ thành
thục là khác nhau. Mỗi một giai đoạn phát dục yêu cầu tổng nhiệt lượng cũng khác
nhau.
S = D (t
o
C - t
o
) = Const
Tổng nhiệt lượng của thời kỳ thành thục là tích số tổng nhiệt lượng thời kỳ sinh
trưởng với tuổi thành thục. Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến sự phong phú của thức ăn
trong thủy vực.
Nắm được quy luật về khí hậu, thời tiết để đề ra biện pháp nuôi vỗ cho hợp lý.
Trong điều kiện ở miền Bắc nước ta từ tháng 9 đến tháng 2, nhiệt độ dưới 25
o
C thích
hợp với sinh trưởng, ở thời kỳ này tiến hành nuôi vỗ tích cực, tuyến sinh dục ở giai
đoạn II. Từ tháng 2 đến tháng 9 nhiệt độ trên 25
o
C thích hợp cho sự phát dục, ta
chuyển sang giai đoạn nuôi vỗ thành thục [2].
c. Yếu tố môi trường
Hàm lượng ôxy: mỗi loài cá khác nhau yêu cầu ngưỡng ôxy khác nhau, các giai
đoạn phát dục khác nhau yêu cầu ôxy cũng khác nhau.
Khí cacbonic: CO
2
chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất. Nếu nồng độ
CO
2
trong nước lớn hơn nồng độ CO

cơ quan thị giác của động vật, từ đó có thể thông qua trung khu thần kinh dễ gây lên
hoạt động nội tiết của não thùy thể, từ đó ảnh hưởng đến sự phát dục của động vật.
Ánh sáng còn liên quan trực tiếp đến nhiệt độ của nước, vì vậy ánh sáng sẽ ảnh
hưởng đến sự thành thục của tuyến sinh dục.
e. Vấn đề thay nước và nước chảy
- Thay nước: mục đính của việc thay nước là làm cho nước trong ao luôn ở
trạng thái tốt, nhằm cải thiện vùng nước có lợi cho cá sinh trưởng và phát dục. Lấy
nước vào ao đúng lúc, đúng tiêu chuẩn còn tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của
thực vật phù du, nâng cao mức dinh dưỡng của cá nuôi.
- Nước chảy: nước chảy là phải có lưu tốc nhất định (0,2 - 0,4m/s) và chảy trong
một thời gian nhất định, trực tiếp kích thích cá bố mẹ đang phát dục ở giai đoạn cuối
(giai đoạn IV) tiến tới phát dục thành thục, nâng cao hiệu qủa thúc đẻ.
f. Diện tích và mật độ cá thả
Ao cá bố mẹ phải đủ rộng và sâu tối thiểu là 720m
2
, độ sâu từ 1,5 - 2,0m.
Mật độ thả phải khống chế với cá bố mẹ, mật độ thả phải hợp lí theo từng đối
tượng. Với cá ăn gián tiếp mật độ thấp hơn cá ăn trực tiếp.
Điều kiện ao nuôi, mật độ cá thả có ảnh hưởng đến sự thành thục của cá bố mẹ,
vì vậy các điều kiện như nhiệt độ, ôxy, nguồn nước, nguồn thức ăn tự nhiên, chất
nước tương đối ổn định, có lợi cho sự sinh trưởng và phát dục của cá bố mẹ [2].
15
PHẦN III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cá chạch đồng (Misgurnus anguillicaudatus)
- Thời gian: từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014
- Địa điểm: Trung tâm thực nghiệm trường Đại học Hùng vương
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Đánh giá khả năng sinh trưởng cá chạch đồng nuôi trong thùng
- Đánh giá ảnh hưởng của các mật độ nuôi cá chạch đến sinh trưởng.

+ Công thức 2: 60 con/1m
2
+ Công thức 3: 80 con/1m
2
Theo dõi các chỉ tiêu về tỷ lệ sống, tỷ lệ bệnh, khả năng sinh trưởng về khối
lượng và chiều dài của cá để xác định được mật độ nuôi phù hợp nhất.
3.3.2. Nghiên cứu chỉ tiêu sinh sản cá Chạch đồng
Chọn cá bố mẹ nuôi vỗ: có khối lượng từ 15-25g/con được đưa vào nuôi. Nuôi
chung cá đực và cá cái trong thùng 02 thùng
Thức ăn sử dụng nuôi vỗ: Sử dụng thức ăn 28% protein, sử dụng thức ăn như
sau:
Nội dung Thời gian nuôi Loại thức ăn Lượng thức ăn
Nuôi vỗ thành
thục
Tháng 1 đến
tháng 11
Cám Cargill 7644 hàm
lượng protein 28%
1-3 %
Cuối quá trình nuôi vỗ tiến hành thu mẫu mỗi thùng 05 con cá bố mẹ, kiểm tra
độ thành thục của cá, xác định tỷ lệ thành thục và tuổi thành thục của cá.
Tiến hành lựa chọn cá Chạch đồng, quan sát lựa chọn hình thái ngoài để phân
biệt cá Chạch đực cái bằng hình thái. Kiểm tra cá Chạch để xác định thời điểm cá
có độ thành thục cao nhất.
17
Xác định sự thành thục của cá: dựa trên giai đoạn phát triển của trứng, tinh.
Quan sát hình thái bề ngoài về mầu sắc, tuyến sinh dục, ở cá đực tiến hành vuốt
kiểm tra sẹ.
Xác định hệ số thành thục: sau mỗi tháng nuôi, ở mỗi thùng mổ 5 cá cái, 5 cá
đực để xác định các chỉ tiêu sinh sản như khối lượng buồng trứng, đo đường kính

Hệ số thành thục =
Khối lượng tuyến sinh dục
Khối lượng cá
Tỷ lệ thành thục =
Số cá thành thục
Số cá kiểm tra
3.4. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được thu thập, ghi chép thường xuyên và đầy đủ. Số liệu sẽ được tổng
hợp và phân tích ANOVA một nhân tố về sự sai khác ở mức ý nghĩa α=0,05 giữa
các công thức thí nghiệm bằng phần mềm EXCEL và SPSS.
19
Tỷ lệ sống% = Tổng số cá thu được tại cuối tháng nuôi
Tổng số cá ở đầu tháng nuôi
PHẦN IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến sinh trưởng của cá Chạch đồng
4.1.1. Môi trường trong quá trình nuôi chạch đồng

Hình 4.1. Một số thông số môi trường trong quá trình nuôi cá Chạch
Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng cũng như các quá trình
sinh trưởng cá. Nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao sẽ làm cá ngừng các hoạt động bắt
mồi và phát triển của cá. Đối với cá Chạch đồng có thể sống được ở nhiệt độ 19
o
C
- 35
o
C, trong đó thích hợp nhất là 23
o
C - 34
o
C. Qua kết quả ở hình 4.1 cho thấy, do

4,63
a
4,56
b
Tháng thứ 3 6,69
a
6,60
a
6,27
b
Tháng thứ 4 8,62
a
8,42
a
7,97
b
Tháng thứ 5 10,36
a
10,11
a
9,55
b
Tháng thứ 6 12,10
a
11,79
a
11,13
b
Qua kết quả bảng 4.1 cho thấy:
Khi bắt đầu nuôi và tháng thứ nhất giữa các mật độ nuôi không có sự khác biệt

2
KLTB khi thả (g/con) 1,65
a
±0,06 1,67
a
±0,13 1,66
a
±0,05
Sinh trưởng tích lũy (g/con) 12,09
a
±0,90 11,79
a
±0,6 11,13
b
±0,31
Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) 0,058
a
0,056
a
0,052
b
FCR 1,75 1,8 1,9
Tỷ lệ sống (%) 96,67
a
93,33
a
90,0
a
Sau 180 ngày nuôi, sinh trưởng tích lũy trung bình cá nuôi mật độ 1 đạt cao
nhất là 12,09g/con, mật độ 2 đạt 11,79g/con và thấp nhất là mật độ 3 đạt

.
4.1.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống, sinh trưởng cá chạch đồng
Cá Chạch đồng được đưa vào thí nghiệm để đánh giá ảnh hưởng của thức ăn có
khối lượng từ 1,94 đến 1,99 g/con, giữa các lô thí nghiệm không có sự sai khác về
mặt thống kê ở mức ý nghĩa P>0,05. Kết quả về sinh trưởng tích lũy của cá Chạch
đồng qua các tháng nuôi được thể hiện ở bảng 4.3 và hình 4.3
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của thức ăn nuôi đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của
cá Chạch đồng (g/con)
Tháng thí nghiệm Thức ăn 1 Thức ăn 2 Thức ăn 3
Bắt đầu nuôi
1,94
a
1,99
a
1,96
a
Tháng thứ 1
2,42
a
2,51
a
2,35
a
Tháng thứ 2 4,30
a
4,39
a
4,25
a
Tháng thứ 3 6,14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status