Họ và tên: Nguyễn Thị Quy
Lớp: K55- Xã hội học
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH
Giảng viên: Th sĩ: Lê Thái Thị Băng Tâm
Đề bài: Hãy chọn một vấn đề thuộc lĩnh vực nghiên cứu của Xã hội học Gia đình để
phân tích?
Bài làm:
Đề tài:
“Vai trò của người phụ nữ trong gia đình xưa và nay”.
(nghiên cứu về người phụ nữ với công việc nhà-bất bình đẳng)
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài…………………………………………………………………………………… 2
PHẦN NỘI DUNG
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề
tài………………………………………………… 4
1.1Các khái niệm…………………………………………………………………………………………
4
1.1.1 Bình đẳng giới…………………………………………………………………………………….4
1.1.2. Bất bình đẳng giới………………………………………………………………………………4
1.1.3. Gia đình……………………………………………………………………………………………4
1.1.4. khái niệm “phụ nữ”………………………………………………………………………………
5
1.1.5. khái niệm “vai trò”………………………………………………………………………………5
1.2. Lý thuyết áp dụng………………………………………………………………………………….5
Chương 2: Vai trò của người phụ nữ trong gia đình xưa,nay và sự bất bình đẳng trong sự
phân công lao động……………………………………………………………………………………8
2.1. Vai trò của người phụ nữ trong xã hội xưa và bất bình đẳng……………………………….8
2.2. Vai trò của người phụ nữ trong thời hiện đại và vấn đề bất bình đẳng trong phân công
nhận đúng vấn đề. Mảng đề tài này khá mới, có cách nhìn mới mẻ trong việc phát hiện ra
“lỗ hổng” trong xã hội hiện nay khi thực hiện luật bình đẳng giới.
Và sau khi có ban hành luật bình đẳng giới thì người phụ nữ có còn độc quyền trong
các công việc nhà nữa hay không?Đó trở thành câu hỏi lớn mà các cả xã hội quan tâm và
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 3
những nhà xã hội học cần nghiên cứu, đặc biệt là những người quan tâm về gia đình và
giới.
Vậy,hiện nay người phụ nữ có đúng là đang được bình đẳng hay không, đó là một
câu hỏi lớn hiện nay?Và trong bài này, tôi xin đưa ra vấn đề này để bàn luận.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1Các khái niệm:
1.1.1 Bình đẳng giới: Là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc ….) mà trong đó
phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử
dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tài năng của mỗi
giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó.
(Khái niệm bình đẳng giới theo công ước CEDAW)
1.1.2. Bất bình đẳng giới là sự khác biệt giới gây thiệt hại hoặc làm cản trở sự tiến
bộ của nam hoặc nữ.
1.1.3. Gia đình là khái niệm được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên
cơ sở các quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm) và quan hệ huyết
thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hang nội ngoại). Gia
đình có thể hiểu như một đơn vị xã hội vi mô, nó chịu sự chi phối của xã hội song có tính
ổn định, độc lập tương đối. Nó có quy luật phát triển riêng với tư cách là một thiết chế xã
hội đặc thù.Những thành viên gia đình được gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi
kinh tế, văn hóa, tình cảm một cách hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (Lê
Ngọc Văn-Nguyễn Linh Khiếu-Đỗ Thị Bình 2002:21).
1.1.4. khái niệm “phụ nữ”
Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ
những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã
(đóng vai trò ) nhất định chứ không phải cái khác. Câu trả lời nằm trong vấn đề là: xã hội
đã ổn định và các vai trò trong gia đình: cha, mẹ, anh, chị em… nhưng chung hơn, việc
nhóm các vai phụ thuộc vào hai vấn đề:
Một là: mỗi thành viên phải tự tìm vai trò của mình (để có thể tồn tại)
Hai là: những đòi hỏi chức năng của gia đình.
Một vai trò có thể tồn tại được chính là vai trò đó cho phép cá nhân xác lập một
tính cách trong gia đình.Mọi người phải tìm thấy vai trò như vậy.Sự phấn đấu cho một vai
trò biểu hiện trong quyền lực gia đình.
Khi các thành viên được nhận định trong các vị trí nhất định các vị trí biểu hiện sự
thỏa hiệp của họ.Khuynh hướng của sự phát triển các vai trò thỏa hiệp để tránh đi sự phá
vỡ vai trò (bỏ bớt những ham muốn để thực hiện các vai trò).
Các vai trò trong gia đình là sự mặc cả và luôn luôn phát triển. Nội dung vai trò của
bố hay mẹ luôn được ấn định (được khoanh vùng) bởi hàng loạt sự mong đợi của xã hội.
và nội dung cụ thể của nó là kết quả của sự mặc cả hình thức và độ dài của tương tác. Các
vai trò ngoài gia đình được ấn định bởi sự mong đợi hình thức.Các vai trò nhiều khi đối lập
nhau. Ví dụ, một ông chủ có thể rất cực đoan, hiếu chiến, làm việc chăm chỉ. Những khi ở
nhà thì hoàn toàn ngược lại.Sự khác biệt giữa thế giới bên trong và bên ngoài được phân rõ
khi một người lạ đến gia đình mình. Trước mặt khách , họ phải hành động như thế nào để
bộc lộ vai trò bên ngoài hơn là vai trò gia đình của họ.
Trên thực tê thì bất kì hiện tượng nào buộc thành viên trong gia đìn thay đổi vai trò
của mình, nó sẽ làm ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình.Ví dụ như người
chồng mất việc.Điều này ảnh hưởng đến gia đình, vì nóa tạo ra sự đổi khác trong gia đình.
Sử dụng lý thuyết này trong vấn đề để giải thích vai trò của người phụ nữ trong gia
đình, không chỉ đóng góp, làm việc nhà mà còn làm kinh tế để bổ xung kinh tế cho gia
đình. Thuyết biểu trưng cho thấy vai trò của người phụ nữ được xã hội gán cho, được xã
hội mong đợi, gia đình, người thân mong đợi, vì thế vai trò của người phụ nữ ngày càng
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 6
được đề cao và người phụ nữ cố gắng làm theo đúng vai trò của mình mà xã hội đề ra, gia
đình mong muốn.
Và ở đây người phụ nữ không chỉ làm việc nhà mà còn phải làm các công việc bên
nguyên thủy với vai trò quan trọng, quyết định của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Trong buổi bình minh của lịch sử và trong giai đoạn phát đạt của xã hội nguyên thủy,
dân tộc nào cũng trải qua một thời kỳ mẫu hệ và chế độ mẫu quyền.trong đó phụ nữ làm
chủ gia đình, dòng họ; phụ nữ có vai trò lớn lao trong sinh hoạt kinh tế, đời sống xã hội
cũng như trong đời sống văn hóa tinh thần.
Ở Việt Nam, mỗi người đều ghi nhớ chuyện Mẹ Âu Cơ và Bố Lạc Long Quân là
những người khai sáng ra lịch sử dân tộc. Mẹ đẻ ra trăm trứng trong cùng một bọc, nở
thành trăm chàng trai. Mẹ và Bố lại chia đều con đi ở miền núi và miền biển, thành nhân
dân miền núi và miền xuôi bây giờ. Công lao to lớn của Mẹ Âu Cơ đã được truyền tụng
hàng ngàn đời nay ở vùng đất Tổ (Phú Thọ) chứng tỏ mẹ là người “mang nặng đẻ đau” và
cũng là người khai sáng văn hóa dân tộc.
Theo cố Giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng: Khi bước sang chế độ phụ quyền không
phải bất cứ đâu và lúc nào cũng đều mang hình thức cổ điển, hà khắc (người phụ nữ bị
truất hẳn vai trò và quyền hành xã hội, trở thành nô lệ gia đình như cách nói của Lê Nin -
điển hình là Hy Lạp), nhiều xã hội chuyển sang phụ quyền dưới một hình thức “êm dịu
hơn”. Theo đó, bước vào thời đại văn minh, phụ nữ nhiều nước vẫn được coi trọng và có
ảnh hưởng đối với nhiều công việc, Phụ nữ Việt Nam xưa ở trong trường hợp thứ hai này.
Do đó, ở Việt Nam, nếu trong thời đại nguyên thủy, phụ nữ là người chủ yếu giữ việc hái
lượm, tham gia săn bắt, rồi làm nghề nông nguyên thủy, chăn nuôi, thủ công cùng với công
việc trong nhà, thì đến thời đại xã hội có giai cấp, người phụ nữ vẫn là người tham gia đầy
đủ vào tất cả các khâu lao động trong xã hội và gia đình. Trong khi đó ở nhiều nước trên
thế giới cổ đại, người phụ nữ chỉ còn tham gia các công việc gia đình.
Giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết đã viết: “Nếu ở hầu hết thời đại nguyên thuỷ, phụ nữ là
người đứng đầu cộng đồng thân tộc của họ, thì đến thời đại xã hội có giai cấp, trong khi ở
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 8
nơi này nơi khác, gia đình là do người đàn ông làm chủ nhưng ở Việt Nam, điều đó chỉ có
trên danh nghĩa, còn trong thực tế, người phụ nữ vẫn là người điều khiển hầu hết công việc
gia đình. Nếu ở hầu hết thời đại nguyên thuỷ, phụ nữ là người lãnh đạo và tham gia vào tất
cả các hoạt động xã hội, thì đến thời đại xã hội có giai cấp, trong khi ở nơi này nơi khác,
phụ nữ mất hẳn chức năng ấy, thì ở Việt Nam, đông đảo phụ nữ vẫn là những “công dân
Đó là những công lao mà phụ nữ xưa đã làm và được ghi nhận, nhưng bên cạnh đó là
những bất công, bất bình đẳng mà người phụ nữ phải chịu:
Do nhận thức, thói quen suy nghĩ và các phong tục tập quán, sự bất bình đẳng giữa phụ
nữ và nam giới đã ăn sâu bám chắc trong đầu óc con người thành tư tưởng “trọng nam khinh
nữ”. Những phong tục tập quán lạc hậu, cổ hủ, đạo đức phong kiến “tam tòng, tứ đức” được
khuyến khích duy trì để trói buộc người phụ nữ, chà đạp lên tình cảm và nhân phẩm của chị
em… dần dần thành thói ứng xử thô bạo của người đàn ông đối với đàn bà. Tư tưởng này
dần dần trở thành quy tắc, thành thông lệ, không cần có luật pháp bảo vệ, nó vẫn có tác động
cưỡng chế, điều chỉnh hành vi ứng xử của người đàn ông đối với đàn bà.
Hôn nhân dưới chế độ phong kiến không dựa trên tình yêu mà dựa trên quyền lợi của
dòng họ, tất cả vì mục đích chính trị.Người phụ nữ trở thành vật đánh đổi, hy sinh cho những
mưu đồ của thế lực cầm quyền.Các thứ bậc cao trong xã hội đều giành cho hoàng gia, hoàng
tộc, quân đội của triều đình và một tầng lớp trí thức gồm toàn đàn ông, những người chỉ có
nhiệm vụ học hành để ra làm quan.Giai cấp thống trị, đã sử dụng các phương tiện khác nhau
để biến hệ tư tưởng Nho giáo thành công cụ duy trì quyền lực đối với phụ nữ. Hơn nữa dưới
chế độ phong kiến, quyền hành quốc gia tập trung vào tay vua. Trong gia đình thì tập trung
vào người đàn ông gia trưởng.Người phụ nữ được coi là tài sản của chồng, vì vậy luật nhà
Trần cho phép đàn ông nếu có vợ ngoại tình được coi vợ như nô tỳ và được phép cầm
bán.Phép nhà Hồ quy định, nếu binh sĩ ra trận mà nhút nhát thì vợ, con, điền sản phải xung
công. Triều đình phong kiến nhà Lý còn có tục bắt cung nữ chết theo vua hoặc hoàng hậu
bằng cách đưa họ lên hỏa thiêu
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 10
Tư tưởng và luật pháp của chế độ phong kiến cũng ra sức bảo vệ cho sự bất bình đẳng
nam nữ. Học thuyết Mác - Lênin chỉ rõ: Cùng với nguồn gốc kinh tế, sự thống trị của người
đàn ông đối với đàn bà còn bắt nguồn từ trong nhận thức, niềm tin và thói quen, phong tục
tập quán đã được hình thành từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người. Sự quan tâm, lo lắng
về đời sống của bản thân người phụ nữ cũng là yếu tố bắt buộc họ phải chấp nhận và cam
chịu sự thống trị của người đàn ông, một khi đời sống kinh tế của họ còn chưa được điều chỉnh
thì tất yếu còn bất bình đẳng. Như vậy, nguồn gốc của bất bình đẳng là do các tác nhân xã hội
như phong tục tập quán, truyền thống, thói quen cùng với tư tưởng trọng nam khinh nữ và tàn
buộc theo những hủ tục, phong kiến lạc hậu, mà vẫn mang tiếng không làm gì.
Như vậy trong xã hội thời phong kiến người phụ nữ không có nhiều quyền mà chỉ có vai
trò là đảm nhiệm các công việc nội trợ, chăm sóc con cái và vẫn bị coi là “vợ tôi chẳng làm
gì” trong khi đó người vợ phải làm không biết bao nhiêu công việc không tên mà không
được ghi nhận, như chăm sóc con, chuẩn bị cơm nước, đi chợ, dệt vải,… mà còn chưa kể
đến một số người còn phải làm các công việc khác như đồng áng, chăn nuôi…
Định kiến hẹp hòi của xã hội đã bao trùm lên nguời phụ nữ, gán cho họ vai trò nội trợ
như là một biểu trưng chung cho giới mình, khiến họ không thể tách rời khỏi gia đình, khỏi
vai trò nội trợ để tham gia các hoạt động xã hội. Phụ nữ thường đảm nhận vai trò kép, họ
vừa lao động sản xuất lại vừa làm công việc gia đình nhưng vẫn chưa được nhìn nhận,
đánh giá đúng bởi quan niệm xã hội.
Bình đẳng cho phụ nữ là một đòi hỏi cấp thiết và thiết thực nhằm đem lại sự giải phóng
cho phụ nữ, tạo cho họ có nhiều cơ hội cùng nam giới tham gia hoạt động xã hội, có được
vị trí và chỗ đứng cả ở ngoài xã hội và bên trong gia đình.
Sự phân công lao động hợp lý các công việc trong gia đình không những là chìa khoá để
đảm bảo cho sự ổn định bền chặt, êm ấm của gia đình, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn
diện của cả nam và nữ về mặt xã hội mà còn giúp cải thiện dần địa vị của mỗi giới đặc biệt
là địa vị của nguời phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.
Để đảm bảo cuộc sống cho các thành viên của mình, gia đình phải tiến hành một loạt
các hoạt động sống , các thành viên trong gia đình cung phải đảm nhiệm các vai trò nhất
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 12
định. Các vai trò này được cấu trúc hóa trên cơ sở những thiết chế của gia đình và sự kì
vọng của xã hội.Trung tâm của cấu trúc này là vai trò sản xuất kinh doanh của người phụ
nữ nhiều hơn người chồng và các thành viên khác trong gia đình.Vai trò truyền thống của
phụ nữ trong gia đình đã thay đổi. Trong trường hợp người chồng đã thực sự thay thế vai
trò truyền thống của người phụ nữ là đảm đang công việc nội trợ gia đình .VD : NC năm
2005-2006 của viện khoa học xã hội Việt Nam cho rằng: phụ nữ tham gia vào tất cả các
loại hình sản xuất tạo thu nhập như nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp
và tất cả các khâu cuả 1 chu trình sản xuất. Tuy nhiên những lĩnh vực mà phụ nữ tập trung
chủ yếu vào các hoat động gieo trồng, chăm sóc, chế biến và bán sản phẩm,chăn nuôi gia
chăm lo đời sống tinh thần cho các thành viên trong gia đình. Cộng với thời gian làm việc
ngoài xã hội, quỹ thời gian dành cho việc hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần, việc học
tập nâng cao trình độ kiến thức của phụ nữ là rất hiếm hoi, thậm chí ở một số đối tượng
phụ nữ như công nhân, buôn bán, quỹ thời gian này gần như không có. Bên cạnh đó, nguy
cơ bạo lực gia đình đang là mối đe dọa cho một số không nhỏ phụ nữ.Trong khi đó, ở đâu
bạo lực gia đình xuất hiện, ở đó đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ bị tổn thương.
Để người phụ nữ đảm đương được vai trò của mình, đồng thời phát huy được hết
khả năng bản thân để phát triển trong thời hiện đại, yếu tố tự thân của mỗi phụ nữ là rất
quan trọng. Chỉ khi nào tính tích cực, chủ động của người phụ nữ được khơi dậy, phụ nữ
mới vừa có thể đảm đương tốt công việc ngoài xã hội, vừa duy trì được mối quan hệ gia
đình bền chặt, một tổ ấm hạnh phúc.
Xã hội càng hiện đại, con người cũng ngày càng hiện đại hơn, vai trò của phụ nữ và
nam giới cũng thay đổi nhiều. Trước mắt, về cơ bản, nam giới vẫn đóng vai trò trụ cột, tuy
nhiên, đã và đang xuất hiện những lĩnh vực mới, những công việc nhẹ nhàng thích hợp với
nữ giới mà lương cao đáp ứng nhu cầu cần thiết cho cuộc sống của họ . Ngày nay, ít thấy
hình ảnh người phụ nữ chỉ biết thêu thùa, đan lát, đảm đương việc nhà mà họ đã tham gia
ngày một nhiều các công việc ngoài xã hội và góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế
của đất nước nói chung và kinh tế gia đình nói riêng.
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 14
Trong xã hội hiện đại ngày , phụ nữ ngày một trở nên quan trọng, nhưng trong gia
đình thì họ ngày càng trở nên kém quan trọng hơn, họ cũng đang mất dần đi vai trò của
người mẹ và người vợ truyền thống. Và thực tế, song hành cùng sự tiến nhanh của phụ nữ
trong xã hội hiện đại thì cũng chính họ đang gây nên sự xáo trộn trong xã hội một cách
gián tiếp là nguyên nhân dẫn đến sự thụt lùi của xã hội trong tương lai.
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy
các giá trị truyền thống của gia đình là điều rất cần được coi trọng; trong đó phụ nữ giữ vai
trò chủ đạo.Ảnh hưởng của người phụ nữ tác động đến hầu hết các lĩnh vực trong cuộc
sống gia đình.
Người xưa có câu: “ Đàn ông xây nhà, Đàn bà xây tổ ấm” quả không sai. Vai trò
của người phụ nữ hiện đại trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no, tiến bộ là hết
Theo Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh hành động
của Hội nghị thế giới lần thứ 4 về phụ nữ tại Bắc Kinh, vai trò, vị trí của phụ nữ Việt Nam
đã được cải thiện rõ rệt.
Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của đất
nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động. Với hơn 50% dân số và
gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các
lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Chỉ
cần điểm qua một vài con số: Hiện có tới 33,1% đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) -
cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế
giới; số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20%.
Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết. Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ
33,95%; tiến sĩ 25,69%. Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tính tới
gần 30%.Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ.Trong
công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược,
khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế.Nếu tính tổng số giờ làm việc của nữ giới
(kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới.
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 16
Có tới 71% phụ nữ từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập. Số hộ nghèo do
phụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1998 xuống còn 8% năm 2004 Đây là những con
số sinh động, là bằng chứng chứng minh hiệu quả của những chính sách lớn của Đảng và
Nhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển.
Quyền của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên thông qua việc pháp luật quy định
phụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở, và
tài sản. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia đã hoàn thành báo cáo về tình hình
thực hiện Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Đặc
biệt, hệ thống các ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được thành lập ở 45 bộ, ngành và toàn
bộ 64 tỉnh, thành phố. Mạng lưới cán bộ tư vấn về giới hoạt động hiệu quả, hệ thống pháp
luật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ được tăng cường, Luật Bình đẳng giới chính
thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2007.
Trong bài phát biểu tại buổi toạ đàm “Vai trò của Phụ Nữ Việt Nam Trong Thế Kỷ
cả các thành viên trong gia đình và xã hội.
Khi ở vào thời kỳ mới, để khẳng định và phát huy vai trò của mình, phụ nữ Việt
Nam có nhiều mặt thuận lợi do sự phát triển kinh tế mang lại, nhưng đồng thời với nó là
những thử thách họ cần phải vượt qua.
Để lí giải cho vai trò của người phụ nữ thay đổi nhu thế nào từ xưa đến nay tôi sử
dụng lí thuyết vai trò (lí thuyết tương tác biểu trưng)để giải thích cho đề tài của mình .theo
đè tai cho thấy người phụ nữ có vai trò khá quan trong trong hoạt động sống của gia đình
mình . ở đây, người phụ nữ có vai trò vừa làm vợ, làm mẹ ,…thì khi đó họ đã xác định
được vị trí mà họ nắm giữ ,với chức năng chính mà mình thực hiện. Khi đó các thành viên
có xu hướng thực hiện vai trò của mình và có xu hướng thỏa hiệp để thực hiện vai trò của
mình .
Việc nhóm vai trò gia đình còn phụ thuộc vào bản thân chính gia đình đó,(người phụ
nữ thực hiện chức năng của một người vợ như sinh đẻ, làm nội trợ….)
Trong gia đình sự phân công lao đông là khá phổ biến chồng làm việc này vợ làm việc
kia.
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 18
Ví dụ: khi vợ sinh đẻ thi người chông phải ra ngoài kiếm tiền về trang trải cuộc sống
gia đinh.
Hay
Người chồng trong xã hội phong kiến trong gia đình nhà nho chỉ chú trọng tới học
hành đèn sách thi cử làm sao cho đậu để làm quan, còn người phụ nữ lúc đó thì phải lo
toan công việc gia đình ,từ việc đòng áng đến việc chăm sóc con cái…
Trước đây việc nặng trong gia đình thi do người đàn ông gánh vác(kiếm tiền) nhưng
hiện nay việc kiếm tiền thì cả hai vợ chồng đều phải lo. Ca hai vợ chồng đều phải đi làm
để nuôi sống gia đình mình.
Vai trò của người phụ nữ được khẳng định qua thời gian:
Trong thời kì gia đình,từ vị trí không được tham gia bàn bạc vào các công việc lớn thì
đến ngày nay thì người phụ nữ có quyền bình đẳng hơn xưa là tham gia trực tiếp và bàn
bạc công việc gia đình cũng như ngoài cộng đồng xã hội.
Người phụ nữ ngày có xu hướng quyết định các công việc trong gia đình (tuỳ từng gia
thêm năng lượng để có thể tiếp tục đương đầu những thách thức mới.
Trong khi đương nhiên coi khoảng thời gian nghỉ ngơi này là phù hợp đối với nam
giới, quan niệm xã hội lại không cho phép phụ nữ được hưởng quyền đó vì mong đợi họ
cống hiến tiếp cho các công việc gia đình. Rõ ràng, quan niệm của xã hội về một người
phụ nữ tốt và hạnh phúc đã tước đoạt đi quyền phát triển nghề nghiệp, thể chất và trí tuệ
của họ.
Điều đáng chú ý là có nhiều nghiên cứu của Tổ chức lao động quốc tế, Liên Hợp
Quốc đã chứng minh rằng công việc nhà chiếm rất nhiều thời gian (trung bình 6 tiếng),
công sức và tinh thần của phụ nữ vì các công việc thường tẻ nhạt, lặp lại, và ở những tư thế
không có lợi cho phát triển thể chất. Ví dụ: công việc gánh nước, lấy củi, nhặt cỏ làm ảnh
hưởng đến phát triển cột sống. Tuy nhiên, xã hội lại không đánh giá cao những công việc
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 20
nhà vì chúng không tạo ra thu nhập. Bởi vậy, khi nam giới đóng góp cho thu nhập của gia
đình nhiều hơn phụ nữ, họ được coi là chăm lo cho gia đình, đã "hy sinh", đã thương yêu
vợ con
Theo nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ thì thời
gian làm việc của người vợ ít nhất là ba giờ trở lên mỗi ngày, chiếm 64.5%, trong khi đó tỷ
lệ này ở người chồng là 14%. Chúng ta hãy thử làm một phép tính đơn giản, nếu mỗi ngày
người phụ nữ bỏ ra từ 3 đến 10 tiếng cho công việc gia đình thì trong suốt cuộc đời họ sẽ
mất 2/3 quãng đời vào những công việc “không tên” đó.
Bằng tất cả những số liệu trên đây, chúng ta có thể thấy rõ bất bình đẳng giới trong
phân công lao động gia đình giữa nam giới và phụ nữ, giữa người vợ và người chồng vẫn
đang tồn tại đậm nét ở các gia đình Việt Nam. Sự bất bình đẳng giới này khôg phải lúc nào
cũng dễ nhận thấy bởi lẽ hàng ngàn đời này mọi người đều nhìn nhận việc tề gia nội chợ
được gắn liền với người phụ nữ, đó là nghĩa vụ, trách nhiệm của người phụ nữ đối với gia
đình. Chính sự nhìn nhận này đã làm cho nỗi vất vả, cơ cực của phụ nữ ngày nay đang bị
nhân đôi. Người phụ nữ cùng tham gia lao động xã hội như nam giới nhưng lại là người
“nghệ sĩ độc diễn” trên sân khấu gia đình.
Thật nực cười cho các ông chồng hết giờ làm việc tại nhiệm sở lại chúi đầu vào đọc sách
báo, cà phê hay nhậu nhẹt… mà luôn kêu ca vợ mình thiếu: Công - Dung - Ngôn - Hạnh!
Nam năm 2004, phụ nữ thường pahir làm việc trung bình 13 tiếng một ngày, trong khi nam
giới chi làm 9 tiếng (chính phủ,2005).
Trong nhiều trường hợp , ở cả nông thôn và thành thị , phụ nữ thường phải gáng
gấp đôi trách nhiện bởi họ không chỉ kiếm sống, mà còn phải thực hiện đầy đủ các bổn
phận truyền thống trong vai trò người mẹ, người vợ (Dalton et al.2002). Theo thống kê,
trong hơn một nửa gia đình Việt Nam, phụ nữ được mong đợi là người duy nhất chịu trách
nhiệm chăm sóc trẻ em , chăm sóc người già, người tàn tật, hoặc người ốm (VASS 2006).
Phụ nữ luôn phải chịu gánh nặng công việc lớn hơn nam giới trong bất kì thời điểm nào
trong cuộc đời của họ (Desai 2001).Điều này dẫn đến hệ quả là phụ nữ có rất ít thời gian
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 22
dành cho các hoạt động xã hội và tiếp tục học lên cao, do đó họ rất hieemd khi có cơ hội
tham gia vào quá trình ra quyết định tại cộng đồng của mình.
Chương 3: Xu hướng của vấn đề trong tương lai:
Luật Bình đẳng giới có hiệu lực đã 5 năm, song đến nay, dù đã có nhiều tiến bộ
nhưng giữa nam và nữ vẫn chưa thực sự được bình đẳng.
Nghiên cứu mới nhất của Ủy ban quốc gia Vì sự tiến bộ phụ nữ cho thấy, phụ nữ mới chỉ
được hưởng 80% thu nhập so với sức lao động bỏ ra… Rào cản là nhận thức về bình đẳng
giới vẫn chưa thông ở cả hai giới.
Công nhận không phải là châm chước
Trong một lần về Đồng Nai tập huấn công tác bình đẳng giới cho cán bộ phụ nữ,
thạc sĩ Bùi Thị Thu Trang, chuyên gia tâm lý của Trường Cán bộ phụ nữ TP.Hồ Chí Minh
chia sẻ: “Lâu nay, vấn đề thực hiện bình đẳng giới được cổ vũ khá nhiều. Song vấn đề này
chưa được hiểu thật chính xác ở cả hai giới.Một số phụ nữ cho rằng, bình đẳng giới chính
là nam giới làm được gì thì phụ nữ cũng có thể làm được điều đó. Chẳng hạn như: hôm
nay vợ nấu cơm, lau nhà thì mai chồng cũng phải lau nhà, nấu cơm. Hoặc không ít nam
giới cho rằng đã bình đẳng thì các bà cũng phải làm mọi việc như đàn ông, kể cả những
việc nặng Nghĩa là đàn ông làm ngày bao nhiêu giờ thì phụ nữ cũng phải chừng ấy,
không có quyền viện lý do “phụ nữ chân yếu tay mềm” để được châm chước”.Bà Trang
cho rằng, cách hiểu đó hoàn toàn sai với bản chất của việc cổ vũ cho thực hiện bình đẳng
giới.
gồng mình để học tập, lao động, để phấn đấu nếu muốn có vị trí ngang bằng với nam giới”.
Một thực tế, vợ chồng cùng làm việc, nếu cần một người phải hy sinh công việc để
chăm lo gia đình thì phần lớn vẫn là phụ nữ. Nghiên cứu của Ủy ban quốc gia Vì sự tiến
bộ phụ nữ cho thấy, việc nhà chiếm khá nhiều thời gian trong ngày của một phụ nữ, trung
bình 6 tiếng. Tuy nhiên, những đóng góp của phụ nữ vào công việc nội trợ thường không
Nguyễn Thị Quy-K55 XHH 24
được nam giới đánh giá cao vì chúng không tạo ra thu nhập, kể cả khi người vợ hy sinh
công việc xã hội để chăm lo gia đình.
Để bình đằng giới thực sự đi vào cuộc sống, trước hết cần có sự nhận thức đúng ở cả hai
giới, đặc biệt là nam giới.
Người phụ nữ trong xã hội xưa thì phải ở trong nhà lo việc gia đình, người phụ nữ
ngày nay thì không chỉ quán xuyến việc nhà mà còn làm cả các công việc trong xã hội, và
rất ít có được sự phụ giúp của người chồng.vì thế vấn đề bất bình đẳng ngày càng đáng
được quan tâm.
Các xu hướng có thế xảy ra trong tương lai thì có hai xu hướng:
Một là: người phụ nữ vẫn phải làm công việc nhà và cán đáng công việc ngoài xã
hội mà được coi rằng đó là công việc tất nhiên.
Hai là người phụ nữ vẫn làm công việc nhà, vẫn làm công việc ngoài xã hội. Tuy
nhiên có sự cân bằng hơn, công việc gia đình cả hai vợ cồng cùng làm, không chỉ riêng
một mình vợ làm. Người chồng cùng vợ của mình san sẻ các công việc nhà như giặt rũ,
phơi phóng, chăm con cái, mua đố, đi chợ, nấu ăn,…
Đó là hai xu hướng sẽ xảy ra trong xã hôi tương lai, và theo hướng nào mạnh
hơn ,nhiều hơn là do quan niệm, định kiến xã hội của cả hai giới, hay của toàn xã hội đối
với người phụ nữ và công việc nhà.
Hiện nay đang có xu hướng một số người chồng cũng bắt đầu làm việc nhà nhiều
hơn.
Chúng ta nên hiểu việc gia đình không phải của riêng ai thì mọi hoạt động của
ngưòi phụ nữ trong gia đình mới có ý nghĩa.Để tiến tới bình đẳng trong gia đình cần phá đi
những rào cản tư tưởng phong kiến xưa cũ, phải làm thay đổi cách nghĩ của cả hai giới
trong công việc gia đình.Cả hai giới phải có nhận thức đúng đắn về chức năng, vai trò giới