PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ do chọn đề tài
1.1.Tô Hoài là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Xuất hiện
và được chó ý từ tuổi hai mươi, Tô Hoài đã mau chóng trưởng thành và trở
thành mét cây bót tiêu biểu của nền văn xuôi hiện đại.
Viết sớm, viết nhiều, đều đặn, dẻo dai và bền bỉ ở mọi đề tài: miền nói,
lịch sử, truyện đồng thoại Tô Hoài là “Con dao pha”, “pha” hết mọi thứ
truyện ngắn, truyện dài, truyện loài vật, hồi kí, bót kí, kịch, kịch bản phim
v.v và ở thể loại nào, “ngón nghề của ông cũng thật là thiện nghệ” [67,169].
Cho đến nay, Tô Hoài đã xuất bản được hơn 160 đầu sách các loại và trở
thành một nhà văn có khối lượng tác phẩm vào loại đồ sộ nhất của nền văn
học hiện đại.
Vào nghề sớm lại kéo dài tuổi nghề, cho đến nay Tô Hoài đã có gần 70
năm cầm bót. Hành trình sáng tạo của Tô Hoài bắt đầu từ những năm 40 của
thế kỉ trước, trải qua những mốc lịch sử quan trọng của đất nước và vẫn tiếp
tục viết cho đến ngày hôm nay. Càng viết, ông càng tỏ ra có vốn sống phong
phú và sức làm việc dẻo dai, bền bỉ, đáng khâm phục. Ở mỗi chặng đường, Tô
Hoài đều có những thành tựu khác nhau và bao giê Tô Hoài cũng có tiếng nói
riêng, cách nhìn riêng và tạo dựng được một phong cách riêng.
Ngay từ những năm 40 của thế kỉ XX, Tô Hoài đã được bạn đọc yêu
thÝch và đón nhận nồng nhiệt qua Dế mèn phiêu lưu kí. Sau cách mạng,
những sáng tác về đề tài miền núi đã mang lại vinh quang cho Tô Hoài. Ở
tuổi 72, Tô Hoài lại cho ra mắt độc giả Cát bụi chân ai và ông đã trở thành
nhà văn “thượng thặng trong thể hồi kí” với “phần tư liệu vô giá”[67,168].
BÊt ngờ hơn nữa, khi ở tuổi 86, ông lại cho ra đời cuốn tiểu thuyết Ba người
khác. Cuốn sách vừa được xuất bản đã thu hót được sự quan tâm chó ý của
bạn đọc.
Vì những cống hiến, đóng góp của ông cho văn học nước nhà nên Tô
Hoài đã vinh dự được nhà nước ta trao giải thưởng cao quÝ: Giải thưởng Hồ
Chí Minh về văn học nghệ thuật ngay từ đợt đầu (1996).
1.2. Là một nhà văn có những tác phẩm đạt đến trình độ nghệ thuật xuất
Hà Minh Đức lại khẳng định Tô Hoài là “Mét cây bót văn xuôi sắc sảo đa
dạng”, tác phẩm của ông bao giê cũng có “tiếng nói, cách nhìn, mét phong
cách riêng độc đáo” [16,39].
Khám phá hiện thực đời sống qua những trang mô tả phong tục sinh
động, đó là đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Tô Hoài. Các nhà nghiên cứu
đều chỉ ra năng lực đặc biệt này của nhà văn. Trần Hữu Tá đã khẳng định:
“Có thể nói Tô Hoài có một nhãn quan phong tôc đặc biệt nhạy bén và sắc
sảo” [67,160].
Cùng quan điểm trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long còng đưa ra
nhận xét: “Ở Tô Hoài, cảm quan hiện thực nghiêng về phía sinh hoạt và
phong tục” [37,456].
Nh vậy, các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao Tô Hoài ở khiếu quan sát,
nhãn quan phong tục.
Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài cũng được các nhà nghiên
cứu quan tâm và có những nhận xét đánh giá khá tập trung và thống nhất.
Phan Cự Đệ đã nhận xét: “Anh quen viết về những nhân vật, những cảnh
đời hồn nhiên như hơi thở của sù sống, khoẻ mạnh, thuần phác, lạc quan như
những câu chuyện trong cổ tích, trữ tình trong sáng, đẹp ý nhị như ca dao”
[5,682]. Nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong cách xây dựng nhân
vật của Tô Hoài “Anh chưa thật thành công khi thể hiện những bước ngoặt
của tính cách”, “Anh Ýt khai thác nhân vật của mình ở góc độ trí tuệ, ở sù
bõng tỉnh của trí tuệ” [5,699].
Đáng chó ý hơn cả là ý kiến của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong bài
viết: Tô Hoài với quan niệm “Con người là con người”. Trong bài viết này,
giáo sư đã phân tích làm rõ những nét riêng trong cách nhìn đời sống, cách
xây dựng nhân vật của Tô Hoài. Ông khẳng định: “Tôi cho rằng Tô Hoài quan
niệm con người là con người, chỉ là con người, thế thôi”. Viết về những con
người bình thường trong cuộc sống nên nhân vật của Tô Hoài, ( ) thường Ýt
được lí tưởng hoá” [44,120] .
Những phương diện khác làm nên diện mạo riêng của văn chương Tô
thuyết Quê người. Ông cũng đánh giá cao “vốn hiểu biết phong phú về làng
quê, một năng lực quan sát nhạy bén, tinh tế, một óc phân tích khách quan,
chân thực và tấm lòng đôn hậu chân tình” [16,18] của Tô Hoài.
Phong Lê còng nhấn mạnh đến “dấu Ên phong tục là nét nổi trội” trong
tiểu thuyết Quê người, đằng sau bức tranh phong tục Êy là hiện thực của đời
sống. Nhà nghiên cứu khẳng định: đó là giá trị, là “đặc điểm riêng trong bức
tranh hiện thực của Tô Hoài, và cũng là dấu Ên riêng nơi chủ nghĩa hiện thực
kiểu Tô Hoài trong văn xuôi Việt Nam trước cách mạng” [67, 29].
2.2.2. Tiểu thuyết Mười năm
Cuốn tiểu thuyết này khi mới ra đời đã từng có những ý kiến đánh giá,
phê phán gay gắt. Các ý kiến phê bình đều tập trung phê phán về nội dung của
tác phẩm, cách tiếp nhận và khám phá đời sống của nhà văn. Như Phong đã
phê phán đây là một cuốn tiểu thuyết “chưa thành công” [67,288]. Tác giả bài
viết đã kết luận: “Vấn đề của Mười năm chính là vấn đề của một chủ trương
sáng tác sai lầm, mét khuynh hướng nghệ thuật lệch lạc” [67, 299].
Trần Hữu Tá, Vân Thanh cũng phê phán những “sai lầm” của tác giả
Mười năm. Theo các nhà nghiên cứu, tác phẩm chưa nêu được những nét chủ
yếu của hiện thực như: những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, âm mưu và tội
ác của bọn phong kiến thực dân, phong trào quần chúng dưới sự lãnh đạo của
Đảng Có thể thấy, Mười năm đã được tiếp nhận với những cách nhìn, cách
đánh giá phê phán khá nặng nề và có phần khiên cưỡng, máy móc.
Trong không khí đổi mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nhiều
“vụ án” văn học, nhiều tác phẩm văn học đã được nhìn nhận đánh giá xem
xét lại. Trong báo Người giáo viên nhân dân sè đặc biệt 7-1989, Hà Minh
Đức đã nêu lên vấn đề: Cần xác định lại giá trị của Mười năm. Ông đã chỉ ra
rằng Mười năm đã bị “phê phán quá mức”. Ông khẳng định: “Mười năm là
một bước phát triển mới mẻ của phong cách Tô Hoài” [67, 307].
Nguyễn Đăng Điệp đã nhận xét đánh giá về Mười năm là tác phẩm “đáng
chú ý về tư duy nghệ thuật. Trong khi nhiều cây bót hướng tới cảm hướng sử
thi thì Tô Hoài vẫn chú ý đến cuộc sống thường nhật” [9,119].
cách ruộng đất” [23, 8].
3. Đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
Trong luận văn này, chóng tôi tập trung vào khảo sát các tiểu thuyết Quê
người, Mười năm, Ba người khác để tìm ra những đặc điểm phong cách của
tiểu thuyết Tô Hoài trên các phương diện: cách tiếp cận đời sống, cốt truyện,
kết cấu và hệ thống nhân vật, nghệ thuật trần thuật và những đặc sắc ngôn
ngữ. Do khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, và nhiều lÝ do khác, chóng tôi
chỉ tập trung khảo sát các tiểu thuyết: Quê người, Mười năm, Ba người khác.
Đây là những tiểu thuyết tiêu biểu cho những chặng đường sáng tác của Tô
Hoài.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
4.1. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Chúng tôi tập trung vào tìm hiểu
và phân tích những đặc điểm của tiểu thuyết của Tô Hoài, tổng hợp kết quả
phân tích để chứng minh cho các đặc điểm Êy.
4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu đồng đại và lịch đại: Chóng tôi tiến
hành so sánh, đối chiếu tiểu thuyết Tô Hoài với tiểu thuyết của các nhà văn
sáng tác trước Tô Hoài và các nhà văn cùng thời với Tô Hoài, để thấy những
đặc điểm riêng trong các tiểu thuyết của Tô Hoài.
4.3. Phương pháp hệ thống: Chúng tôi đặt tiểu thuyết của Tô Hoài trong
hệ thống tác phẩm ở thể loại khác của ông như truyện ngắn, hồi kí để thấy
được những nét riêng biệt của thể loại tiểu thuyết và sự vận động trong tiểu
thuyết của Tô Hoài.
4.4. Phương pháp thống kê: Chúng tôi tiến hành thống kê, so sánh, để tìm
ra những đặc sắc về cách xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ trong tiểu
thuyết của Tô Hoài.
5. Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham
khảo, luận văn được chia thành bốn chương.
Chương 1: Quan niệm về đề tài và những tiền đề tạo nên phong cách
nghệ thuật tiểu thuyết Tô Hoài .
chóng phai mê, nhưng phải lặp đi lặp lại một cách đổi mới” [30, 214].
Cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, Từ điển
thuật ngữ văn học do tập thể các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi (đồng chủ biên) còng nêu lên khái niệm phong cách.
Tác giả Phương Lựu khi viết cuốn Lí luận văn học còng đã khẳng định:
“Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng nh nghệ thuật có phẩm chất
thẩm mĩ được thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tó. Nó đòi hỏi
trước hết nhà văn phải đem lại tiếng nói mới cho văn học” [35, 482].
Nh vậy, dù diễn đạt dưới những hình thức khác nhau nhưng các nhà
nghiên cứu đều chỉ ra rằng: Điểm cốt lõi, yếu tố quyết định tạo lên phong
cách nghệ thuật của nhà văn là tính độc đáo thể hiện trong sáng tác.
Phong cách bắt nguồn sâu xa từ hiện thực khách quan, bằng thực tiễn
sống của nhà văn. Nhà văn muốn tạo cho mình phong cách riêng trước hết
phải có cách cảm nhận thế giới độc đáo, có tư tưởng nghệ thuật độc đáo, và
có phương thức thể hiện độc đáo phù hợp với nội dung của nó. Bởi vì “sự
thống nhất của các phương tiện biểu hiện phù hợp với cách nhìn độc đáo đối
với đời sống”sẽ tạo nên “diện mạo riêng biệt” trong sáng tác của nhà văn
[32,169] và đó chính là phong cách của người nghệ sĩ.
Nh vậy, căn cứ duy nhất để khẳng định phong cách tác giả là những yếu
tố thể hiện sự độc đáo trong sáng tác của nhà văn, thể hiện tài năng của người
nghệ sĩ. Phong cách có thể được biểu hiện ở nội dung tư tưởng, cách nhìn,
cách khám phá hiện thực của nhà văn. Cách nhìn Êy sẽ chi phối đến thế giới
nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ tức là chi phối đến hình thức nghệ thuật của
tác phẩm. Nhà văn Pháp MácxenPruxt đã viết: “Đối với nhà văn ( ) phong
cách không phải là vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cách nhìn” [Dẫn theo 32,152].
Cái nhìn hay thế giới quan chính là yếu tố quan trọng tạo nên phong cách
người nghệ sĩ. Nhà văn Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh: “Mỗi người viết có mét
cái vision (nhãn quan) riêng, nó đẻ ra phong cách” [43,174].
Nói tóm lại: Phong cách chính là những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng
tạo nghệ thuật, có tính chất thống nhất và tương đối ổn định được lặp đi lặp lại
tiễn sáng tác. Nhưng mặt khác, thể loại cũng được tái sinh đổi mới để đáp ứng
với nội dung hiện thực. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã chỉ ra rằng: “Thể loại
có thể ra đời rất sớm nhưng phải đến mét giai đoạn lịch sử nhất định nó mới
được định hình và trở thành một tiếng nói mới mẻ của nghệ thuật và tạo dựng
được phong cách của nã” [48,396]. Phong cách thể loại chính là những đặc
điểm riêng biệt độc đáo của mỗi thể loại. Mỗi một thể loại trong quá trình
hình thành đều tạo nên những đặc điểm của thể loại mình, nhưng qua tài năng
sáng tạo của những người nghệ sĩ, thì những đặc điểm của thể loại Êy lại có
thêm những nét đặc sắc mới và in dấu Ên của sự sáng tạo riêng của những
người nghệ sĩ tài hoa Êy. Cùng là thơ Đường luật nhưng thơ Đường luật của
Hồ Xuân Hương khác với thơ Bà huyệnThanh Quan, là truyện thơ Nôm
nhưng Truyện Kiều của Nguyễn Du đã vượt xa rất nhiều các truyện thơ Nôm
khuyết danh cùng thời, cùng là truyện ngắn nhưng truyện ngắn Thạch Lam
khác với truyện ngắn của Nam Cao hay truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
v.v Những điểm khác nhau Êy tạo nên phong cách nghệ thuật cho mỗi thể
loại, tạo sự đa dạng phong phó cho nền văn học dân téc.
1.1.2.2. Quan hệ giữa phong cách tác giả và phong cách thể loại
Chóng ta biết rằng phong cách có nhiều cấp độ khác nhau: có phong
cách tác phẩm, thể loại, trào lưu, thời đại v.v nhưng thực tế qua các công
trình nghiên cứu về phong cách, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu
dường như mới chỉ tập trung nghiên cứu phong cách tác giả - phong cách cá
nhân mà chưa có sự quan tâm thích đáng đến phong cách thể loại. Thực tế
sáng tác của các nhà văn cho thấy, phong cách cá nhân là sự thể hiện độc đáo
phong cách chung của thời đại. Ở mỗi nhà văn, tài năng văn học thường bộc
lé, thể hiện rõ trên mét thÓ loại nào đó. Có người sáng tác văn xuôi thành
công nhưng viết thơ lại không hay, có người thành công trong truyện ngắn
nhưng lại thất bại trong tiểu thuyết v.v Tất nhiên với những nghệ sĩ đa tài,
họ có thể sáng tác thành công trên nhiều thể loại, song bao giê cũng có một
thể loại kết tinh tài năng của họ. Khi đó người nghệ sĩ không chỉ đóng góp
cho sự phát triển của văn học dân téc, làm phong phó, đa dạng cho nền văn
Bót danh Tô Hoài là sự ghép tên của hai địa danh thân thiết của quê
hương nhà văn: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức. Làng Nghĩa Đô nghèo “Sự
sống loanh quanh buộc vào mấy khung cửi mọt” [22,27]. Gia đình ông bà
ngoại của Tô Hoài cũng nghèo túng như bao người dân làng Nghĩa Đô. Mẹ
của Tô Hoài làm nghề giấy, “giấy phÌn đem bán rong cho người ta gói hàng”
[22,29], người cha tiếng là làm việc ở ngoài Kẻ Chợ nhưng thực chất là “ngồi
xe ngựa đi đưa bánh cho mét lò bánh mì trong thành phố” [22, 27]. Cuộc sống
của gia đình nghèo Êy và làng quê chuyên sống về nghề dệt lĩnh - lĩnh Bưởi
cũng như bao miền quê khác cứ bình lặng trôi qua với những lo toan về cuộc
sống hàng ngày. Làng quê Êy đã có những ngày tháng bình yên. Nhưng rồi
cuộc sống cứ mỗi ngày mét ngặt nghèo, khèn khó hơn. Chịu sự tác động của
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, của chiến tranh, làng nghề cứ sa sót, lụn
bại dần. “Hàng Õ, người ta nghỉ, mà người đi làm thuê nhiều ứ lên. Gạo lại
kém nữa ( ) Bây giê trong làng vắng tanh. Những khung cửi guồng tơ xếp cả
lại. Nhiều nhà túng bán cả đi, không hòng sinh nhai gì về nghề nữa” [19,497].
Làng nghề sa sót, lụn bại, các gia đình li tán, mỗi người đi kiếm ăn một
phương. Người cha của Tô Hoài vì sinh kế đã phải giã từ vợ con vào Sà
Goòng xa xôi kiếm sống vì ông “đã đi tìm việc nhiều nơi ngoài Kẻ Chợ
nhưng không đâu có việc” [22,67]. Thư từ, tin tức cứ thưa dần rồi chẳng thấy
trở về. “Có người đồn thầy tôi đã lấy vợ bên Sà Goòng” [22,105]. Người mẹ ở
nhà với hai đứa con tần tảo, nheo nhóc. Ám ảnh và day dứt trong trái tim thơ
ngây và nhạy cảm của cậu bé Sen là hình ảnh người mẹ như “cái bóng lầm
lũi, hoà với bóng tối ( ) cái bóng mơ hồ bên cạnh những líp líp những ngậm
ngùi, những thắc thỏm đợi chờ dài dặc trong ngấn nước mắt và tiếng thở dài”
[22,28]. Vất vả, túng thiếu và những nỗi đau buồn đã khiến cho bà trở nên tàn
tạ, phôi pha, nhanh chóng. “Tóc đường ngôi của u tôi lốm đốm rụng, chỉ còn
lưa thưa ( ) U tôi cười, nếp nhăn ở đuôi mắt nheo lại, xếp lên nhau, đến khi
hết cười còn hằn những vết rạn khía quanh xuống hai bên gò má. Hàm răng
trên của u tôi khuyết hai chiếc đã mấy năm nay. U tôi già đi từ bao giê? Từ
lúc nào?”. Hình ảnh người mẹ cặm côi trong những đêm khuya lắm rồi vẫn
giữa bà ngoại tôi và các dì tôi. Ông ngoại tôi ngồi uống rượu. Cuối cùng,
bao giê ông tôi cũng vác gậy đuổi đánh tất cả. Mọi người chạy toán loạn
đêm mới về ( ) Sáng hôm sau, lại vẫn cãi nhau, làm ầm cả xóm” [22,156].
Khèn khó đến mức ngôi nhà của ông bà ngoại vốn là nhà hương hoả giê đây
cũng phải đem cầm cố. Cuộc sống túng quẫn khó khăn Êy đã chi phối đến
cảm quan hiện thực của Tô Hoài, hình thành nên thế giới quan hiện thực
của nhà văn. Thùc ra cảnh ngộ nghèo đói túng quẫn Êy đâu phải là cảnh ngộ
riêng của gia đình Tô Hoài, của làng quê ông, mà đó là sự suy thoái của quê
hương, của mọi miền trên đất nước.
Chóng ta biết rằng, xã hội Việt Nam từ những năm 1930 đang có những
biển chuyển gay gắt dữ dội bởi chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới (1929-1933), rồi đại chiến thế giới thứ 2 (1939-1945) bùng
nổ, Nhật vào Đông Dương cùng với thực dân Pháp ra sức đàn áp và bóc lột
nhân dân ta. Bên cạnh những chính sách đàn áp về chính trị, Pháp và Nhật
còn tăng cường bóc lột, vơ vét về kinh tế khiến cho nạn đói hoành hành khắp
nơi, nhân dân chết đói đầy đường. “Giá cả sinh hoạt 1945 đắt gấp 25 lần năm
1939 ( ) thế mà phát xít Nhật vẫn xuất cảng 50 vạn tấn gạo, và số thóc dự trữ
của thực dân Pháp tới tháng 3 cũng lên đến 50 vạn. Số gạo này có thể nuôi 10
triệu dân trong 7 tháng” [6,16]. Lớn lên trong những năm tháng Êy, Tô Hoài
đã phải chứng kiến những ngày tháng ảm đạm, tăm tối đến nghẹt thở của quê
hương. Đói kém và thất nghiệp “Người trong làng bá đi làm đủ nghề. Những
gã lên tỉnh gánh nước thuê và kéo xe. Có những người nhập vào đám phu mộ
đi các đồn điền trồng cao su ở Nam Kì, lại có những nhà bồng bế nhau lên
tỉnh ghi tên vào sở di dân lên mạn ngược” [22, 497]. Cuộc sống túng quẫn kéo
theo mọi điều rắc rối, mọi tệ nạn phát triển: “Làng đã nghèo lại sinh ra lắm
điều rắc rối. Người ta chơi chắn cạ, xóc đĩa suốt ngày đêm, sát phạt nhau từ
một xu trở lên. Và cái sự mất trộm vặt thì thường xảy ra luôn. Con chã, con
gà đi tha thẩn ngoài ngõ vô ý không ai trông mất ngoém ngay. Cái váy, cái
quần phơi ngoài sân biến là thường. Thậm chí ngoài vườn có mấy quả đu đủ
xanh cũng bị vặt trụi. Không hôm nào là không có người vác gậy, cầm mõ đi
dệt, làm thư kí ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông, rồi tham gia phong trào
Thanh niên phản đế. Năm 1943, ông gia nhập tổ Văn hoá cứu quốc đầu tiên ở
Hà Nội. Sau cách mạng, Tô Hoài đã tham gia phong trào Nam tiến, rồi sau đó
lên Việt Bắc làm báo Cứu quèc, chủ nhiệm Cứu quốc Việt Bắc chủ bót Tạp
chí cứu quốc. Sau ngày hoà bình lập lại, ông được bầu làm Phó Tổng thư kí
Hội nhà văn rồi Tổng thư kí của Hội nhà văn Việt Nam, làm Chủ tịch Hội văn
nghệ Hà Nội. Không chỉ thế, Tô Hoài còn tham gia nhiều công tác xã hội khác
như đại biểu quốc hội khoá VII, Phó Chủ tịch uỷ ban đoàn kết Á- Phi, Phó Chủ
tịch Hội hữu nghị Việt - Ên, uỷ viên ban chấp hành Hội hữu nghị Việt- Xô.
Thậm chí, Tô Hoài còn tham gia làm tổ trưởng dân phố. Có lẽ tham gia hoạt
động trên nhiều cương vị khác nhau đã giúp cho nhà văn có điều kiện gắn bó
với cuộc sống của đông đảo tầng líp nhân nhân lao động. Sự từng trải, vốn
sống thực tế Êy đã mang đến cho Tô Hoài những hiểu biết phong phú và trở
thành nguồn tư liệu không bao giê vơi cạn cho những sáng tác của nhà văn.
Cuộc sống đã đẩy Tô Hoài còng nh các nhà văn Vò Träng Phông, Nam
Cao đến với nghề viết. Tô Hoài đã từng làm nhiÒu nghề để kiếm sống,
nhưng nghề nào cũng rẻ mạt, bấp bênh, chẳng nghề nào có thể giúp ông nuôi
nổi bản thân và đỡ đần cho bà, cho mẹ. Người thanh niên có chút Ýt chữ
nghĩa làm vốn liếng bèn thử sức trên lĩnh vực viết văn, viết báo và thật không
ngờ: “Tôi không thể so sánh và tưởng tượng ra giá một bài báo với công xá
những công việc đã làm bấy lâu nay để kiếm sống. Hãng giày BaTa mỗi tháng
trả lương tôi sáu đồng. Bây giê một cái truyện ngắn tôi được mười đồng Mà
một tháng tôi có thể viết mấy cái truyện ngắn! Điếc không sợ súng, tôi cứ lia
tràn. Tôi khoắng một đêm xong cái truyện ngắn, là thường [22, 321]. Anh thợ
cửi thất nghiệp, anh bán hàng Ba Ta Tô Hoài bước vào nghề viết bất ngờ,
giản dị tự nhiên nh thế.
Vào nghề viết, Tô Hoài “viết nh chạy thi” [22, 236], ông đã tự bộc bạch
“viết để kiếm miếng sống lúc Êy thì phải viết khoẻ nh vậy” [67, 20]. Và để
sống được với nghề viết khi vốn văn hoá vừa mới chỉ hết líp bốn, Tô Hoài
phải tự học hỏi rất nhiều. Lòng yêu văn học, tài năng bẩm sinh, cuộc đời ba
lẽ miệt mài sáng tác, cần mẫn như người làng Nghĩa Đô dệt lụa. Nhưng tìm
hiểu các tác phẩm của Tô Hoài, chóng ta thấy rõ rằng, các tác phẩm của nhà
văn đều được viết dưới ánh sáng của một tư tưởng, mét quan điểm nghệ thuật
của riêng ông. Quan điểm nghệ thuật đó đã được thể hiện nhất quán trong
sáng tác của Tô Hoài, từ những tác phẩm được sáng tác ở chặng đầu cho đến
những tác phẩm được viết khi nhà văn đã qua tuổi bát tuần. Quan điểm nghệ
thuật của Tô Hoài được thể hiện trên hai phương diện: quan niệm về sáng tác
văn chương và quan niệm nghệ thuật về con người.
1.2.3.1. Quan niệm về sáng tác văn chương
Sớm đến với văn chương, ban đầu Tô Hoài cũng chịu ảnh hưởng của xu
hướng sáng tác lãng mạn đương thời, cây bót trẻ Êy cũng bắt đầu nghiệp viết
bằng những bài thơ tình lãng mạn, nhưng rồi nhà văn trẻ tuổi đời và tuổi nghề
Êy đã nhanh chóng nhận ra đó không phải cái “gu thẩm mĩ” của mình và ông
đã chuyển hướng. Sau này, trong Tự truyện nhà văn đã từng bộc bạch: “Chưa
bao giê tôi bắt chước viết theo truyện của Khái Hưng, Nhất Linh, mặc dầu tôi
thích đọc những truyện Êy. Bởi lẽ giản dị: viết truyện viển vông giang hồ kỳ
hiệp, ai cũng có thể tưởng tượng, nhưng viết giống cái thật thì nhân vật trong
truyện của các ông nhà giàu con quan có đồn điền như thế, tôi không biết
những kiểu người Êy, không bắt chước được”[22, 218]. Lời thổ lé chân tình
Êy của Tô Hoài đã bộc lé rất rõ quan niệm của ông về văn chương. Còng
giống như các nhà văn hiện thực quan niệm : “nghệ thuật không cần phải là
ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối” [3, 318], “tiểu thuyết là sự
thực ở đời” [57], Tô Hoài không thi vị hoá đời sống, không viết về những lứa
đôi “lá ngọc cành vàng”,Tô Hoài chỉ viết về những điều mà ông nhìn thấy ở
quanh mình, ở bạn bè, làng xóm, quê hương, những gì gần gũi ở quanh mình,
ở chính mình. “Đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính
tôi đã vào cả những sáng tác của tôi. Ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giê là viết
những sự thực xảy ra trong nhà, trong làng quanh mình” [22, 218]. Hoàn cảnh
xuất thân và môi trường sống của Tô Hoài quá xa cách với những tầng líp trên
- tầng líp thượng lưu của xã hội, ông chỉ gần gũi quen thuộc với đám bình dân,
đã sinh ra chóng ta. Có xấu, có tốt, có hay, có dở, có những thãi tật của riêng
mình. Con người không phải là thánh nhân cũng không phải là cái gì đó siêu
phàm. Bên cạnh những tính tốt con người còn những hạn chế , thậm chí
những thãi xấu. Con người có những phần cao cả nhưng cũng có phần khuất
lấp Èn sâu trong tâm hồn.
Với quan niệm và cách nhìn về con người như vậy nên trong tác phẩm
của mình, Tô Hoài thường khai thác con người ở phương diện đời thường. Đó
là những con người trong những mối quan hệ sinh hoạt với vô vàn những cá
tính, thãi tật, với cả sự nhếch nhác. Cái nhìn đời thường khiến cho Tô Hoài
đôi khi nhìn và khai thác nhân vật ở góc độ bản năng, từ đó khiến họ trở nên
thô lỗ, tầm thường.
Nhìn thấy ở con người cái hay cũng như cái dở, cái xấu và cái tốt Tô
Hoài đã đem đến cho văn học một cái nhìn riêng về con người. Sự đa dạng
trong cá tính thãi tật của con người mới thực sự tạo nên sự trọn vẹn trong thế
giới vô cùng sinh động và phong phú của chúng ta. Có thể nói với quan niệm
nghệ thuật mới về con người, Tô Hoài - và sau này là một loạt các nhà văn
thời đổi mới như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp v.v đã phá vỡ cái
nhìn lí tưởng hoá về con người, phá vỡ cách nhìn nhận đánh giá con người ở
phương diện giai cấp hay đạo đức của một thời trước đây. Con người phải
được sống đúng với con người tự nhiên của mình. Đấy là chất nhân văn đáng
quí trong quan niệm của Tô Hoài.
Như vậy, hoàn cảnh xuất thân, môi trường sống đã chi phối và tạo nên
cảm quan hiện thực đời thường của Tô Hoài. Cảm quan hiện thực Êy được cụ
thể hoá qua cách nhìn về đời sống, cách nhìn nhận về con người, tạo nên quan
niệm nghệ thuật về con người, quan niệm về sáng tác văn chương. Những yếu
tố đó là những cơ sở quan trọng tạo nên phong cách nghệ thuật Tô Hoài.
CHƯƠNG 2
CÁCH TIẾP CẬN ĐỜI SỐNG TRONG TIỂU THUYẾT TÔ HOÀI
2.1. Miêu tả đời sống qua những chi tiết vặt vãnh đời thường
“Tiểu thuyết là tác phẩm tù sự cỡ lớn có khả năng phản ánh cuộc sống
trái, lên tiếng đấu tranh đòi giải phóng con người thoát khỏi những ràng buộc
khắt khe của lễ giáo phong kiến, của hôn nhân phong kiến, đòi giải phóng cho
người phụ nữ trong tình yêu, trong hôn nhân thì các nhà văn hiện thực qua
những tiểu thuyết của mình lại đề cập đến những xung đột xã hội, xung đột
giai cấp nảy lửa với những biến cố giàu kịch tính. Nếu tiểu thuyết lãng mạn
kiêng kị, né tránh những chi tiết sinh hoạt đời thường thì tiểu thuyết hiện thực
lại lấy hiện thực đời thường làm chất liệu cho tác phẩm của mình.