PHầN MỞ ĐầU
1. LÍ DO CHỌN ĐÒ TÀI
Thành tựu rực rỡ của văn học Trung Hoa cho đến ngày nay vẫn được
gắn liền với giá trị thơ ca đời Đường. Trong cuốn “Những nền văn minh
thế giới” ALMANACH có viết “Thơ Đường là một vườn hoa rộng lớn ngào
ngạt hương sắc trong đó có những cây đại thụ như Đỗ Phủ”.
Trên con đường tìm về với thơ Đường, chúng tôi không thể không
dừng lại ở núi thơ Đỗ Phủ. Bởi “Từ khi có thi nhân đến giờ không có ai vĩ
đại bằng Đỗ Phủ” (Nguyên Chẩn), thậm chí “Tương lai văn hoá Hoa Hạ lệ
thuộc vào chỗ nó cú hiểu nổi Tử Mĩ không” (Vương Duy). Đỗ Phủ như một
cực nam châm thu hút về phía mình tất cả những lời vàng ngọc ở đời, từ
“Thi thỏnh”, “Thi sử”, đến “Tỡnh thánh”, “Nhà thơ nhân dân”, “Nhà thơ
hiện thực”, “Nhà thơ yêu nước”, “Tập đại thành của thơ ca Trung Quốc”.
Sức sống của thơ ca Đỗ Phủ có gốc rễ bền vững từ một trái tim yờu ghột
nồng cháy, từ cái nhìn sự đau khổ của mình trong đau khổ chung của quần
chúng lao động. Vì thế mà ông được nhiều người biết đến.
Tên tuổi của Đỗ Phủ đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong thơ ca đời
Đường nói riêng và trong văn học Trung Hoa nói chung. Ông được đánh giá
là “Đại thi hào văn học Trung Hoa, cây đại thụ sừng sững toả bóng đến
ngàn năm”. Dịch Quân Tả trong “Lịch sử văn học Trung Quốc”, tập 1 có
viết: “Đỗ Phủ là một nhà thơ, một ngôi sao sáng chúi trờn thi đàn thế giới.
Riêng với thi đàn Trung Quốc, ông là sao Bắc Đẩu mà muôn vì sao khác đều
phải vây quanh”. Thơ Đỗ Phủ đạt đến trình độ cao về mặt nội dung và nghệ
thuật. Đặc biệt, thơ trữ tình chiếm số lượng lớn trong sáng tác của ông. Vì
vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu nghệ thuật thơ trữ tình Đỗ Phủ (mảng thơ
cận thể) là một giới hạn có tính chất gợi mở đòi hỏi sự tìm tòi sáng tạo của
độc giả. Đi sâu tìm hiểu vấn đề này không chỉ dừng lại ở mức độ khám phá
một tài năng nghệ thuật bậc thầy mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc tiếp
1
cận và giảng dạy các bài thơ của Đỗ Phủ được đưa vào chương trình phổ
thông và chuyên nghiệp.
tiếp tục tìm hiểu.
2. LỊCH SỬ VÊN ĐÒ
Từ khi có thơ Đỗ Phủ đến nay đã có rất nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu,
nhà lí luận phê bình ở Trung Quốc, Việt Nam và nước ngoài dày công
nghiên cứu nhiều lĩnh vực, nhiều phương diện của thơ Đỗ Phủ, tạo nên một
truyền thống phong phú trong nghiên cứu với nhiều công trình có giá trị lớn
về thơ Đỗ Phủ.
Trên cơ sở những tài liệu đã khảo sát trực tiếp hoặc gián tiếp, chúng tôi
có thể lược thuật các công trình chuyên khảo về thơ Đỗ Phủ cũng như các
khía cạnh nghệ thuật thơ trữ tình của Đỗ Phủ và phân chia theo ba khu vực
nghiên cứu:
a. Nghiên cứu nghệ thuật thơ trữ tình Đỗ Phủ ở Trung Quốc
Từ trước tới nay đó cú hàng trăm công trình nghiên cứu, biên soạn,
chuyên khảo và hàng nghìn bài báo viết về thời đại, cuộc đời và thi phẩm Đỗ
Phủ của các tác giả Kim Thỏnh Thỏn (đời Thanh), Hồ Thích, Lương Khải
Siờu, Quách Mạt Nhược, Hồ Thiếu Thạch, Văn Nhất Đa, La Dung, Bằng
Chớ Bớnh, Tiễn Bỏ Hỏn, Tiêu Điều Phi, Trần Bang Đàm, Khâu Chấn
Thanh Một trong những vấn đề các nhà nghiên cứu Đỗ Phủ ở Trung Quốc
từ trước đến nay đề cập là hình thức nghệ thuật thơ ca của ông. Những khái
niệm, thuật ngữ có tính chất lí thuyết, hình tượng của các nhà nghiên cứu
như “ý tượng”, “ý cảnh”, “thần tứ”. thực sự là những gợi ý, những kiểu
“mã hiệu”, những chỡa khoỏ để cho người đọc khám phá thế giới nghệ thuật
thơ trữ tình của Đỗ Phủ.
Các công trình của các học giả Trung Quốc từ trước đến nay chủ yếu cú
cỏc hướng: sưu tập, chú giải, hiệu đính như công trình “Toàn Đường thi”
do Tào Dần cùng mười học giả khác biên soạn vào năm 1705 gồm 900
quyển. Tổng tập này tập hợp được hơn 48.900 bài thơ của hơn 2.300 nhà thơ
3
thời Đường, Ngũ Đại trong đó có Đỗ Phủ. Ngoài ra còn rất nhiều hướng
nghiên cứu khác nữa.
đánh giá cao thơ Đỗ Phủ và xếp “luật thi” của Đỗ Phủ vào hàng “lục tài tử”
(sáu bộ sách hay) trong văn học cổ điển Trung Quốc. Trong sách “Tuyển
phê Đường thi nhất thiên thủ” ông đã phê bình tám bài “Thu hứng” của
Đỗ Phủ dưới góc độ thi pháp học. Có thể coi đây là những bài phê bình thơ
Đỗ Phủ sâu sắc và chính xác nhất.
Phố Khởi Long, nhà nghiên cứu Đỗ Phủ đời Thanh nói thơ Đỗ Phủ là
“Không một lời châm biếm mà chỗ nào cũng châm biếm”. Cửu Triệu Ngao
cho rằng thơ Đỗ Phủ “trong cái vẻ hoa lệ có hơi sắt thép”.
Một công trình rất đáng chú ý có liên quan đến việc nghiên cứu nghệ
thuật thơ ca Đỗ Phủ là “Lịch sử văn học Trung Quốc” ở chương “Đỗ
Phủ”, phần III: “Thành tựu nghệ thuật thơ ca Đỗ Phủ”, nhiều vấn đề có liên
quan đến nghệ thuật trữ tình trong thơ Đỗ Phủ được tác giả trình bày sáng rõ.
Tác giả cho rằng phong cách thơ Đỗ Phủ là phong cách “trầm uất”, “trong
cách sáng tạo ý cảnh, khí phách rộng lớn, bút pháp lưu loát, phóng
khoáng nhà thơ có những thành công độc đáo” [43; 531]. Ở các giỏo trình
“Lịch sử văn học Trung Quốc”, thơ trữ tình của Đỗ Phủ được nghiên cứu
trong phạm trù nghệ thuật thơ ca chứ chưa có sự tách bạch riêng lẻ.
Nhà thơ Văn Nhất Đa nói: “Đỗ Phủ là nhà thơ viết cho nhân dân,
nhưng nhân dân không hiểu”. Câu nói đó một phần đề cập đến sự thâm thuý,
nhiều ý nghĩa về nội dung, đồng thời cũng nói lên giá trị nghệ thuật cao siêu,
sâu sắc của thơ Đỗ Phủ.
Năm 1988, ở Trung Quốc xuất bản một số công trình bàn về sự phát
triển thể thơ luật thi và tuyệt cú của Đỗ Phủ như công trình của Diệp Gia
Doanh, Trần Bang Đạm
Trên đây là tóm lược việc nghiên cứu có liên quan đến nghệ thuật thơ
trữ tình của Đỗ Phủ ở Trung Quốc từ trước đến nay. Mặc dù đề cập đến
5
những khía cạnh nhỏ nhưng chúng tôi tin rằng đó là những định hướng đưa
chúng tôi tìm về với những gì đẹp nhất trong hồn thơ thi nhân họ Đỗ!
b. Nghiên cứu nghệ thuật thơ trữ tình Đỗ Phủ ở Việt Nam
Việt Nam những năm đầu thế kỉ. Khoảng năm 1907- 1908, ở Hà Nội tổ chức
cuộc thi dịch bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ.
Mặc dù các nhà thơ lớn của Việt Nam đã tiếp thu được những tinh hoa
của thơ ca Đỗ Phủ và đánh giá rất cao vị trí thơ của ông. Nhưng các ý kiến của
các tri thức phong kiến phần nhiều mang tính chất cảm nhận riêng lẻ, chưa đạt
đến trình độ khái quát cao. Phải đợi đến sau cách mạng tháng Tám và đến
những năm gần đây thơ Đỗ Phủ mới được chiếu rọi, đánh giá, xem xét từ
nhiều mặt và có nhiều ý kiến sâu sắc, tổng quát, toàn diện về thơ Đỗ Phủ.
Trần Trọng Kim trong “Đường thi” (Nxb Tân Việt - Hà Nội - 1951) ở
phần “Lời nói đầu” đã gọi thơ Đỗ Phủ là loại thơ “Một lời ngụ trăm tình”.
Lần đầu tiên giáo sư Trần Trọng San cho ra mắt “Thơ Đường” quyển 1,
trong “Phần dẫn nhập” tác giả đề cập đến nghệ thuật thơ Đỗ Phủ. Ông cho
rằng “Nghệ thuật tác thi của Đỗ Phủ rất tinh vi, xảo diệu. Ông dùng hết mọi
thể thơ mà không thể nào không giỏi” và “nhất là lối thơ thất ngôn luật thi
thì thi tài họ Đỗ thật là không tiền không hậu”.
(Trần Trọng San - Thơ Đường, 3 tập- Nxb Bắc Đẩu, Sài Gòn 1972).
Các tác giả Việt Nam đều đề cập đến một vài khía cạnh về nghệ thuật
thơ trữ tình của Đỗ Phủ. Tác giả Trương Chính cho rằng Đỗ Phủ “sở trường
về cổ thể mà cũng sở trường về luật thi”. Tác giả Nguyễn Khắc Phi thừa
nhận Đỗ Phủ rất có ý thức trong việc “tôi luyện ngôn ngữ nghệ thuật" và
"tôn trọng niêm luật đối ngẫu trau chuốt dùng chữ sắp đặt âm điệu”.
Tác giả Trần Xuân Đề có nhận định: “Tuyệt đại bộ phận thơ của Đỗ Phủ
là thơ trữ tình, có một số bài thơ tự sự, nhưng kết hợp cả yếu tố trữ tình” [12;
59]. Cũng như thế, Lê Nguyễn Lưu nhận xét: “Thơ Đỗ Phủ phần lớn là thơ
trữ tình, còn lại là thơ tự sự nhưng ngay thơ tự sự cũng có tính chất trữ tình”.
7
Ở một khía cạnh khác, Trần Xuân Đề cho rằng Đỗ Phủ “là người có nhiều
sáng tạo trong việc vận dụng những thể tài nghệ thuật thơ ca”.
Cũng viết về những vần thơ trữ tình của Đỗ Phủ, trong cuốn “Cuộc
sống thơ và thơ cuộc sống” Hoàng Trung Thụng đó dành nhiều trang viết
giả đi đến kết luận: Khảo sát thơ của Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị thấy “Các nhà
thơ này vừa làm những bài thơ hiện thực kiệt xuất vừa sáng tác những bài
thơ trữ tình tiêu biểu”.
Các nhà nghiên cứu thường nhắc đến Đỗ Phủ trong tương quan với hai
nhà thơ nổi tiếng không kém là Lí Bạch và Vương Duy. Nhưng nhiều nhất
vẫn là sự so sánh Đỗ Phủ - Lí Bạch. Lí Bạch yêu đời và rực sáng, Đỗ Phủ
đau buồn và trầm uất. Lí Bạch nổi lên bởi sự chúi sỏng và sức mạnh của tài
năng, còn Đỗ Phủ bằng sự chân thành và chiều sâu của tình cảm. “Như là
một người làm phù phép, Lí Bạch trút cả tâm hồn vào những cơn lốc sáng
tạo, còn Đỗ Phủ thì viết như một nhà hiền triết, thơ ông nảy sinh từ sự suy
nghĩ sâu lắng”.
Ngoài ra có rất nhiều các bài báo, tạp chí, khoá luận, luận án nghiên
cứu về nhiều phương diện trong thơ ca Đỗ Phủ. Tiêu biểu như luận án “Sự
phát triển thi pháp của Đỗ Phủ qua các thời kì sáng tác” của Hồ Sĩ Hiệp
đó nờu được những đặc trưng riêng biệt của thơ ca Đỗ Phủ trong mỗi giai
đoạn phát triển. Từ đó ta thấy được những bước chuyển biến về nội dung,
nghệ thuật của nhà thơ xuất sắc đời Đường này. Bên cạnh đó, nghiên cứu về
thơ ca Đỗ Phủ các nhà nghiên cứu đều chú ý dừng lại ở những kiệt tác của
Đỗ Phủ như chựm tỏm bài thơ "Thu hứng".
Tóm lại, thơ Đỗ Phủ là một đối tượng lớn thu hút nhiều cây bút nghiên
cứu sắc sảo, khám phá và chiếm lĩnh. Nhiều giá trị nội dung cũng như nghệ
thuật của thơ Đỗ Phủ đã được hé mở. Các khía cạnh về nghệ thuật thơ trữ
tình của Đỗ Phủ đã được nhắc đến nhưng sự bỏ ngỏ đú chớnh là những chỗ
trống mà người thực hiện công trình này mong muốn được tìm hiểu.
9
c. Nghiên cứu nghệ thuật thơ trữ tình Đỗ Phủ ở nước ngoài
Với những thành tựu đạt được, thơ Đỗ Phủ trở thành một di sản chung
của thế giới. Từ lâu đã có nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm và
nghiên cứu thơ Đỗ Phủ với nhiều công trình có giá trị.
Ở Liờn Xụ có công trình: “Ba nhà thơ lớn đời Đường” do
Bằng tất cả khả năng của mình chúng tôi cũng hi vọng sẽ được đi sâu
nghiên cứu cái hay, cái đẹp trong những vần thơ trữ tình của Đỗ Phủ. Tìm
hiểu nguyên nhân làm nên sự hấp dẫn của đề tài.
Hơn nữa, nghiên cứu nghệ thuật thơ trữ tình của Đỗ Phủ cũng là cách
tiếp cận nghiên cứu nghệ thuật của các nhà thơ lớn đời Đường, Tống và các
nhà thơ cổ điển tiêu biểu của Việt Nam. Bên cạnh đó có thể nhận thấy những
điểm tương đồng và khác biệt giữa nghệ thuật thơ trữ tình và nghệ thuật thơ
tự sự của Đỗ Phủ. Nghiên cứu nghệ thuật thơ trữ tình Đỗ Phủ cũng là con
đường đi tới nghiên cứu nội dung và giá trị nghệ thuật của thơ ông- một
trong những nhà thơ lớn nhất của nhân loại.
Trong quá trình tìm hiểu nghệ thuật thơ trữ tình Đỗ Phủ vấn đề được
đặt ra là phải phân tích biểu hiện nghệ thuật của thơ trữ tình Đỗ Phủ trong
mối quan hệ chặt chẽ với bối cảnh lịch sử, với thiên nhiên, với chính ngay
cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của nhà thơ và ở những thời điểm cụ thể. Tất
cả những sự phân tích đó đều không ngoài mục đích tìm hiểu tâm hồn của
một bậc “Thánh thơ”, tài năng của một người đã được mệnh danh là “Tập
đại thành của thơ ca cổ điển Trung Quốc”.
b. ý nghĩa:
+ í nghĩa về mặt lí luận:
Bước đầu nghiên cứu nghệ thuật thơ trữ tình của một tác giả tiêu biểu
trong thơ ca cổ điển đời Đường, chỳng tôi nhận thấy Đỗ Phủ không những là
một nhà thơ lớn mà còn là nhà văn hoá, nhà nghệ thuật xuất sắc của đời
11
Đường. Tìm hiểu về nghệ thuật thơ trữ tình của Đỗ Phủ không những có ý
nghĩa về nội dung, nghệ thuật mà còn có ý nghĩa về mặt lí luận thơ ca. Vì thế
mà từ trước đến nay mọi người đều quan niệm “lấy Đỗ Phủ làm đại biểu cho
lí luận về thơ” (Quách ThiÕu Ngu). Và “Người ta có thể lấy Đỗ Phủ làm
một ví dụ để chứng minh cho cách giải quyết đúng đắn nhiều vấn đề về thơ
ca” (Hoàng Trung Thông).
Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề có liên quan đến lí luận nghệ thuật
+ Lê Đức Niệm (Giới thiệu), Nhượng Tống (dịch)- Thơ Đỗ Phủ- Nxb
Văn hoá thông tin H 1996.
+ Hoàng Trung Thông (Giới thiệu)- Thơ Đỗ Phủ- Nxb Văn học 1962.
+ Nam Trân (Tuyển chọn) - Thơ Đường (2 tập) - (phần Thơ Đỗ Phủ) -
Nxb Văn học 1987.
Sở dĩ chúng tôi chọn các bộ thi tuyển trên làm đối tượng nghiên cứu vì
ở đó tập hợp những bài thơ tiêu biểu của Đỗ Phủ. Hơn nữa, các tuyển tập này
rất quen thuộc với người Việt Nam. Những bài được chọn giảng trong
chương trình cũng hầu hết được rút ra từ đây.
Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu cũng rất quan trọng của luận văn là
tham khảo các công trình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp thơ ca của Đỗ
Phủ bao gồm cỏc chuyờn luận, giáo trình, các sách nghiên cứu về Đỗ Phủ
cũng như những tài liệu có liên quan đến Đỗ Phủ.
b. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật thơ trữ
tình của Đỗ Phủ và giới hạn trong phạm vi thơ cận thể, bao gồm luật thi (tỏm
cõu) và tuyệt cú (bốn câu) chứ chưa có điều kiện để nghiên cứu về tất cả thơ
trữ tình của Đỗ Phủ. Tất nhiên nghiên cứu về nghệ thuật cũng chính là cách
để tìm hiểu về nội dung, nói nghệ thuật để nêu bật nội dung.
Để thấy được đặc trưng nghệ thuật cũng như những nét độc đáo, riêng
biệt trong thơ trữ tình của Đỗ Phủ, chúng tôi mở rộng phạm vi so sánh, đối
13
chiếu với mảng thơ tự sự của ông, bởi trong thơ tự sự cũng có tính chất trữ
tình và so sánh với một số nhà thơ khác như Lí Bạch, Bạch Cư Dị. Tuy
nhiên, do dung lượng của luận văn nên sự mở rộng phạm vi chỉ được thực
hiện trong những trường hợp cần thiết.
Với phạm vi đó, người viết mong muốn gúp thờm một cái nhìn, một
tiếng nói của mình khi nhìn nhận, đánh giá về nghệ thuật thơ trữ tình của Đỗ
Phủ và đó cũng là cơ sở để khảo sát các kiệt tác của ông.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thơ trữ tình của Đỗ Phủ dưới góc độ thể tài, trước hết chúng
tôi muốn làm rõ khái niệm “Thể tài”.,
Tác giả Lại Nguyên Ân trong “Từ điển văn học bộ mới” có viết:
“Phạm trù phân loại các tác phẩm văn học vốn đa dạng đồng thời có sự
giống nhau, từng nhóm một, theo một số dấu hiệu nhất định. Cỏc nhúm lớn
nhất là những “loại”, mỗi loại gồm những nhóm nhỏ hơn là những “thể”
(hoặc “thể loại”, “thể tài”).
Ở cấp độ phân chia những loại, có uy tín nhất là cách phân chia
của Arixtụt, theo đó toàn bộ các tác phẩm văn học gồm ba loại lớn:1-Tự sự;
2- Trữ tình ; 3- Kịch" [29; 863].
“Trong phạm vi mỗi loại văn học là các thể(“thể loại” hoặc “thể tài”),
chúng được phân chia căn cứ vào tố chất thẩm mĩ chủ đạo, vào giọng điệu,
vào dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm" [29; 864].
15
Tuy có khác biệt nhất định về thể tài ở những tác phẩm thuộc những
thời điểm khác nhau, nhưng “mỗi thể tài là một cấu trúc bền vững, ổn định,
một hệ thống những thành tố hình thức đã thấm nhuần những hàm nghĩa
nhất định”.
“Thể tài hay thể loại là một giới hạn về phạm vi đời sống được đề cập
với những nguyên tắc thẩm mĩ riêng, trong quan hệ với cái tôi trữ tình, thể
loại là thể hiện một gúc nhỡn, một trường quan sát, một quan niệm đối với
đời sống” [47; 142].
Có thể thấy, thể loại hay thể tài là một phạm trù thuộc hình thức của tác
phẩm văn học, là phương tiện hình thức phù hợp với nội dung nhất định.
Chóng có mối quan hệ sâu xa với hoàn cảnh xã hội- lịch sử của thời đại, với
đặc tính tõm lớ dân tộc và với truyền thống của từng nền văn học.
Xét về thơ trữ tình, đặc điểm nổi bật nhất của thơ trữ tình là bộc lộ cảm
xúc một cách trực tiếp. Nếu ở thơ tự sự tác giả chú ý hướng về miêu tả sự
kiện thì thơ trữ tình hướng về bộc lộ cảm xúc, tình cảm. Đó có thể là những
cảm xúc, những suy tư về nhân tình thế thái, về số phận và cuộc sống của
“Trữ tình là một trong ba phương thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự
sự và kịch) được dùng làm cơ sở phân loại tác phẩm văn học. Nếu tự sự thể
hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả bằng con đường tái hiện một cách khách
quan các hiện tượng đời sống, thì trữ tình lại phản ánh đời sống bằng cách
bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình
qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và
nhân sinh” [24; 316].
Bản thân từ “Trữ tỡnh” có nghĩa là bộc lộ, giãi bày tình cảm, tâm tư của
cá nhân mình với mọi người. Từ xưa, nhu cầu thổ lộ tâm tư đã được các nhà
lí luận phương Đông đề cập tới. Kim Thỏnh Thỏn đó từng chỉ ra rằng tình
cảm của con người là nội dung chủ yếu của thơ ca: “Thơ chẳng phải là cái gì
đặc biệt. Nó chỉ là những lời thốt ra từ con tim và dựa trên đầu lưỡi mà
17
người ta không thể không thốt ra lời”. Viên Mai cũng đã từng chỉ rõ: “Thơ là
để nói lên mối tình của ta ”.
Rõ ràng, các nhà lí luận đã khẳng định rằng: tình cảm con người, “tiếng
kêu bất thình lình của con tim đến mọi người”…là nội dung chủ yếu của thơ,
một hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt. Và nhu cầu giãi bày tình cảm, bộc
lộ tâm tư đã trở thành nội dung chủ yếu của một loại tác phẩm văn học. “Trữ
tỡnh” đó trở thành tên gọi một loại thể văn học mà bộc lộ tâm tư, giãi bày
tình cảm là nội dung chủ yếu. “Trữ tình là một loại thể văn học có một kiểu
xây dựng hình tượng nghệ thuật riêng là hình tượng cảm xúc” [67; 208].
Như vậy, trữ tình là một loại hình văn học khác hẳn loại tự sự và kịch
về mặt bản chất và hình tượng. Nếu nói đến tự sự là nói đến chi tiết, kết cấu,
cốt truyện; nói đến kịch là nói đến mâu thuẫn, xung đột, hành động kịch thì
nói đến trữ tình là nói đến cảm xúc, tâm trạng, đến tâm tư, tình cảm, đến thế
giới tinh thần của con người. Với đặc trưng cơ bản là bộc lộ tình cảm, trữ
tình hướng đến “khả năng biểu cảm ở ngay tổ chức bên trong của ngôn ngữ
con người, truyền cho nó sự xúc động và tính chủ quan” [66; 174]. Trữ tình
thường hướng đến hình thức thơ và “thơ là hình thức tổ chức ngôn từ phù
tình cảm mãnh liệt”. Nhà thơ Chilờ Pablo Neruda cũng nói: “Làm thơ phải
có tình cảm mãnh liệt". Tình cảm mãnh liệt ở đây không phải là thứ tình cảm
kêu gào, khóc cười ồn ào ở bên ngoài mà là sự rung động mãnh liệt ở bên
trong, sự dày vò, chấn động trong tâm hồn. Tình cảm mãnh liệt ở đây có
nghĩa là nhà thơ phải sống rất sâu vào tâm hồn mình, lắng nghe các xao động
trong tâm hồn mình, đau đớn, sướng vui với những gì trong ấy. Tình cảm
mãnh liệt là điều kiện hàng đầu của thơ cũng như của thơ trữ tình.
Thuật ngữ “Thơ trữ tỡnh” được sử dụng nhằm phân biệt với thơ tự sự
thuộc loại tự sự. Đó là: “Thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình
trong đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình
19
trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp” [24; 246].
Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện
phức tạp của thế giới nội tâm từ các cung bậc của tình cảm cho tới những
chính kiến, những tư tưởng triết học.
Như vậy có thể nói rằng: Thơ trữ tình là loại thơ thông qua bộc lộ cảm
xúc riêng tư cá thể về đời sống mà thể hiện tư tưởng về con người, cuộc đời
và thời đại nói chung.
Tác giả cuốn sách “Về thi pháp thơ Đường” nói rằng: “Ngắn gọn là
đặc trưng hình thức của thơ trữ tình. Lí luận cơ sở đầu tiên của nó là thuyết
“Lời không nói hết ý” “ý” có thể được giải thích là “ý hướng”, “tư tưởng”,
“ý niệm”, đúng hơn là núi “tõm trạng” [50; 452]. Tác giả Hà Minh Đức thì
cho rằng: “Thơ trữ tình chú trọng đến cái đẹp của tâm trạng con người và
của cuộc sống khách quan” [14; 179].
Theo L.Ghindơbua, thơ trữ tình "luôn thể hiện ý thức tác giả và những
đặc điểm của ý thức thời đại". A. Pụtepnhia núi: “Nhà thơ trữ tình viết lịch
sử tâm hồn mình và gián tiếp viết lịch sử của thời đại mình”.
Điều cơ bản của thơ trữ tình là khái niệm nhân vật trữ tình, tức chủ thể
bộc lộ tình cảm. Nhân vật trữ tình là người trực tiếp thổ lộ những suy nghĩ và
cảm xúc trong bài thơ. Nhân vật trữ tình không có diện mạo, tiểu sử, hành
và cao hơn nữa là về thời đại.
Nói về thơ Trung Quốc, nhìn chung yếu về tự sự, mạnh về trữ tình. Thơ
trữ tình đời Đường hầu hết không miêu tả mà chỉ thể hiện bằng quan hệ để
gợi ý. Các thể thơ được sử dụng trước thời Đường và ngay trong thời Đường
hầu hết là những phương tiện để các nhà thơ bộc lộ tâm sự riêng của mình.
Sáng tác của Đỗ Phủ cũng không thể thoát li truyền thống đó. Thơ ông
không thể không có yếu tố trữ tình hơn nữa lại hết sức sâu sắc, cảm động.
Tác giả Nguyễn Hà khẳng định: “Thơ Đỗ Phủ, dẫu sáng tác theo thể
tài nào, ở thời kì quá độ từ Thịnh Đường sang Trung Đường ấy, không thể
21
không mang dấu ấn của thời đại”. Hơn nữa, Đỗ Phủ là một thi nhân giàu
tính sáng tạo. Thơ trữ tình của ông được tôi luyện và nắn nót kĩ càng, có thể
làm mẫu mực cho người khác. Vì vậy mà thơ trữ tình của ông có ảnh hưởng
rất lớn đối với hậu thế.
Đến với thơ trữ tình của Đỗ Phủ chúng ta đến với một tấm lòng đôn
hậu, một trái tim thiết tha yờu ghột nồng cháy. Chúng ta sẽ biết đến sự vĩ đại
của một thiên tài, một bậc “Thi thánh” của Trung Hoa và nhân loại.
2. CÁC THỂ TÀI THƠ TRỮ TÌNH CẬN THỂ
Đỗ Phủ là nhà thơ có nhiều sáng tạo trong việc vận dụng những thể tài
nghệ thuật thơ ca. Căn cứ vào nội dung của bài thơ, ông sử dụng những thể
thơ khác nhau một cách thích ứng.
Thể thơ Đỗ Phủ sử dụng có thể chia làm hai loại lớn là: cổ thể thi và
cận thể thi. Thơ cổ thể (gồm cổ phong và nhạc phủ), thơ cận thể (gồm luật
thi và tuyệt cú). Theo thống kê thì “Đỗ Phủ có bốn trăm mười sáu bài thuộc
loại cổ thể thi và một nghìn không trăm ba mươi bảy bài thuộc loại cận thể
thi” [12; 63]. Cổ thể thi là loại thơ tự do, cận thể thi là loại thơ cách luật.
Trong luận văn này chúng tôi không tìm hiểu tất cả các thể thơ Đỗ Phủ đã sử
dụng mà chỉ tìm hiểu về thơ cận thể.
Thơ cận thể còn gọi là kim thể hay cách luật. Cách gọi tên cận thể thi là
để phân biệt với loại thơ cổ thể thi đời trước. Cận thể thi là một thể thơ rất
cách của luật thi trong một bài thơ phải bảo đảm sáu yêu cầu về niêm, luật,
vận, đối, tiết tấu, bố cục. Luật thi buộc phải theo những quy tắc nhất định
của thanh âm và bố cục tình ý.
Luật thi là thuật ngữ dùng để chỉ thơ bỏt cỳ đời Đường. Luật thi gồm có hai
loại là ngũ ngôn bỏt cỳ luật thi (ngũ luật) và thất ngôn bỏt cỳ luật thi (thất luật).
Tìm hiểu luật thi của Đỗ Phủ theo tác giả Trần Xuân Đề “Thực chất
luật thi là loại âm luật thi, cách luật thi”. Luật thi có những qui định rất ngặt
nghèo về âm vận bằng trắc và phải đảm bảo một số nguyên tắc nhất định:
23
Ở loại thơ ngũ luật về số lượng mỗi cõu cú năm chữ, ở loại thất luật
mỗi cõu cú bảy chữ, không thể thêm hoặc bớt, mỗi bài quy định cú tỏm cõu,
không thể nhiều hơn hoặc ít hơn.
Về đối, bốn câu giữa đối nhau, chỉ được dùng thanh bằng bắt vần, hai
câu một vần (câu thứ nhất có thể bắt vần hoặc không), không được thay vần,
trong một bài thơ không có chữ trùng nhau. Những câu: một, ba, năm, bảy là
những câu đơn không bắt vần, chữ cuối cùng là thanh trắc. Trong tám bài
“Thu hứng”, “Đăng cao”, “Đăng lâu” và nhiều tác phẩm khác, khi dùng
phộp đối “chẳng những đối chữ mà Đỗ Phủ còn đối cả ý và đối nghĩa. Ý và
nghĩa trong phép đối của Đỗ Phủ rất sâu sắc, cân nhắc, thận trọng và hàm
chứa cảm xúc trữ tình” [27; 144]. Một bài luật thi gồm hai khổ thơ bốn câu
và mỗi khổ thơ bốn câu gồm hai liên thơ. Vì vậy, liên thơ là đơn vị cơ bản
trong bài. “Trong bốn liên thơ của một bài luật thi, liên ba và liên bốn buộc
phải tạo thành bằng những câu thơ có đối và liên đầu, liên cuối bằng những
câu thơ không đối. Sự đối chọi giữa những câu đối và không đối này là đặc
trưng của luật thi, hệ thống được tạo thành bằng những yếu tố đối lập ở mọi
cấp độ (thanh âm, từ pháp, cú pháp, tượng trưng vv…). Giữa các cấp độ ấy
có cả một mạng lưới các tương quan, trong đó chúng nâng đỡ nhau, bao
hàm lẫn nhau” [50; 144].
Đặc trưng mĩ học của luật thi biểu hiện ở tính hàm súc, lời ít, ý nhiều, ý
ở ngoài lời. Kết cấu hết sức chặt chẽ “Mỗi bài thơ giống như một bài toán
vậy mà người đời sau coi là mẫu mực của luật thi đời Đường.
* Tìm hiểu thơ thất ngôn luật thi (thơ thất luật).
Mỗi bài cú tỏm cõu, mỗi câu bảy chữ, tổng cộng năm mươi sáu chữ gắn
với năm mươi sỏu õm. Hai mươi tỏm õm bằng và hai mươi tỏm õm trắc. Trong
lịch sử thơ ca cổ điển Trung Quốc thơ thất luật chính thức có từ thời Đông Hán.
Đỗ Phủ có một trăm năm mươi lẻ một bài thất luật, vượt hẳn số lượng
thơ thất luật của các nhà thơ thời Sơ và Thịnh Đường. Những tác phẩm này
có thể coi là những tác phẩm đứng hàng đầu trong đời Đường.
25