QUẢN LÝ PHÂN LUỒNG HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH LÂM ĐỒNG LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC - Pdf 12

Lêi c¶m ¬n
Luận văn thạc sĩ về đề tài “Quản lý phân luồng học sinh dân tộc
thiểu số ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Lâm Đồng” đã được thực
hiện tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn Hội
đồng khoa học, Hội đồng đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục
của trường Đại học Sư phạm Hà Nội cùng các thầy giáo, cô giáo đã trang bị
vốn kiến thức lý luận về khoa học quản lý, giúp cho em nghiên cứu và hoàn
thiện đề tài.
Đặc biệt, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS
Ngô Quang Sơn, người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp
đỡ cũng như cho em sự tự tin để em hoàn thành luận văn này.
Tác giả luận văn cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các đồng
chí lãnh đạo, chuyên viên Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào
tạo, Ban Giám hiệu và bạn bè đồng nghiệp bảy trường phổ thông dân tộc nội
trú huyện của tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện giúp tôi nghiên cứu, khảo sát
và cung cấp thông tin, tư liệu cho luận văn. Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới
những người thân trong gia đình đã luôn động viên, chia sẻ để tôi có thể
hoàn thành luận văn.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên
cứu song luận văn cũng không tránh khỏi những sai sót, kính mong được sự
chỉ dẫn, góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn
được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, tháng 6 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Xuân Loan
MỤC LỤC
3.1.1 Căn cứ vào quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác phân luồng học sinh
dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở ở trường phổ thông dân tộc nội trú
huyện 78
3.1.1 Căn cứ vào quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác phân luồng học sinh dân tộc

pháp mang tính cơ bản 101
Biện pháp 5: Quản lý tốt việc kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia tổ chức
phân luồng; 101
Biện pháp 6: Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học phục vụ cho công tác tổ chức
phân luồng cho học sinh dân tộc thiểu số. Ba biện pháp này mang tính điều kiện 101
Ta có thể biểu thị mối quan hệ này bằng sơ đồ 3.5 sau: 101
3.5.1. Mục đích khảo nghiệm 103
3.5.1. Mục đích khảo nghiệm 103
3.5.4. Nhận xét 106
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu GDP theo giá thực tế và cơ cấu lao động trên địa bàn tỉnh 34
Bảng 2.2: Tăng trưởng kinh tế 2001-2010 36
Bảng 2.3: Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên các trường PTDTNT cấp THCS ở tỉnh
Lâm Đồng trong năm học 2011 -2012 40
Bảng 2.4: Bảng thống kê cơ sở vật chất trường học tại các trường PTDTNT huyện của tỉnh
Lâm Đồng 41
Bảng 2.5a: Bảng xếp loại học lực của học sinh các trường PTDTNT huyện của tỉnh Lâm
Đồng trong năm học 2011-2012 42
Bảng 2.5b: Bảng xếp loại hạnh kiểm của học sinh các trường PTDTNT 43
huyện của tỉnh Lâm Đồng trong năm học 2011 – 2012 43
Bảng 2.6 Chương trình học nghề ở cấpTHCS 45
Bảng 2.7: Sở thích chọn nghề của HS ở trường PTDTNT huyện 49
của tỉnh Lâm Đồng 49
Bảng 2.8: Dự định của PHHS các trường PTDTNT cấp huyện sau khi tốt nghiệp muốn
con em họ đi học nghề 51
Bảng 2.9: Luồng HS sau khi tốt nghiệp trường PTDTNT huyện 53
của tỉnh Lâm Đồng 53
Bảng 2.10: Quan niệm của HS và PHHS về nghề nghiệp 58
Bảng 2.11: Sự hiểu biết của học sinh về các ngành nghề mà học sinh định chọn 58
Bảng 2.12: Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ PL 62

và hội nhập vào kinh tế quốc tế, đòi hỏi phải có một đội ngũ nguồn nhân lực
có trình độ và cơ cấu hợp lý để cạnh tranh trên thị trường thế giới và trong
khu vực. Vì vậy trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến
công tác phân luồng sau trung học nói chung và sau khi tốt nghiệp trung học
cơ sở nói riêng, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập thế giới hiện nay. Đây là
một vấn đề rất quan trọng trong việc đào tạo, phát triển, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Mặt
khác, công tác PL học sinh sau khi tốt nghiệp THCS sẽ góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục HS cấp THPT; tạo tiền đề cho sự phát triển của các
trường DN, các trường TCCN; qua đó góp phần quan trọng đối với vấn đề
đào tạo nghề, tạo việc làm cho HS, góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước, của địa phương.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản
Việt Nam khẳng định:“Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học
sinh sau trung học cơ sở, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề
nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa
phương”.
Luật Giáo dục năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Giáo dục (năm 2009), Điều 61, Mục 3, Chương III coi trường PTDTNT là
trường chuyên biệt và nêu rõ: “Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc
nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học cho con em
dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều
1
kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán
bộ cho các vùng này ”.
Đối với tỉnh Lâm Đồng, một tỉnh miền núi nghèo thuộc khu vực Nam
Tây Nguyên, toàn tỉnh có 7 trường PTDTNT cấp THCS, có khoảng hơn 40%
dân tộc thiểu số như dân tộc Cil, Kơ Ho, Churu, Mạ … thì công tác phân
luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS tại trường PTDTNT theo định hướng
phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số cần được coi trọng. Kết quả thực

PTDTNT huyện của tỉnh Lâm Đồng theo định hướng phát triển nguồn nhân
lực cho địa phương.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác phân luồng HS DTTS sau khi tốt nghiệp THCS ở trường
PTDTNT huyện của tỉnh Lâm Đồng trong thời gian qua đã đạt được một số
kết quả đáng khích lệ song cũng còn hạn chế và bất cập.
Nếu chọn lựa, đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý công tác phân
luồng của hiệu trưởng một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm tình hình địa
phương và nhu cầu của HS DTTS thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục THPT, chất lượng đào tạo nghề, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực dân tộc thiểu số; góp phần phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh Lâm
Đồng
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý phân luồng HS, HS DTTS sau
khi tốt nghiệp THCS
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý công tác phân
luồng HS DTTS sau khi tốt nghiệp THCS ở trường PTDTNT huyện của tỉnh
Lâm Đồng.
3
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý PLHS sau khi tốt nghiệp THCS ở
trường PTDTNT huyện của tỉnh Lâm Đồng.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý phân luồng HS DTTS sau khi tốt
nghiệp THCS ở trường PTDTNT huyện của tỉnh Lâm Đồng trong 2 năm học
2010-2011, 2011-2012 và tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý công
tác PLHS DTTS sau khi tốt nghiệp THCS ở trường PTDTNT huyện của tỉnh
Lâm Đồng theo định hướng phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số.
6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và khả năng có hạn đề tài chỉ tiến hành khảo sát tại

số ở trường phổ thông dân tộc nội trú huyện theo định hướng phát triển nguồn
nhân lực cho địa phương.
Chương 2: Thực trạng quản lý phân luồng học sinh dân tộc thiểu số sau
khi tốt nghiệp trung học cơ sở ở trường phổ thông dân tộc nội trú huyện của
tỉnh Lâm Đồng.
Chương 3: Biện pháp quản lý phân luồng học sinh dân tộc thiểu số sau khi
tốt nghiệp trung học cơ sở ở trường phổ thông dân tộc nội trú huyện theo định
hướng phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÂN LUỒNG HỌC SINH DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ HUYỆN
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO
ĐỊA PHƯƠNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Vấn đề phân luồng HS nói chung và phân luồng HS THCS nói riêng là
một trong những chủ trương lớn của Bộ GD&ĐT được thể hiện qua chiến
lược, kế hoạch phát triển GD&ĐT. Cho đến nay, việc nghiên cứu phân luồng
HS một cách có hệ thống, mang tính tổng thể trong phạm vi cả nước chưa
được nghiên cứu nhiều của các nhà nghiên cứu giáo dục.
Thời gian qua, vấn đề phân luồng HS đã được một số nhà nghiên cứu
đề cập ở mức độ các bài viết ngắn, gắn với từng địa phương, từng phương
diện cụ thể. Trong đó phải kể đến các bài viết như “Tư vấn nghề và phân
luồng học sinh phổ thông sau trung học” (2005), “ Định hướng phân luồng và
liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân” (2009), “ Tư vấn hướng nghiệp
cho học sinh phổ thông” (2009) của tác giả Đặng Danh Ánh; “Phân luồng sau
THCS và THPT ở nước ta hiện nay” (2009) của tác giả Nguyễn Đức Trí; “
Định hướng giáo dục HN cho học sinh phổ thông ở nước ta trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2007) của tác giả Bùi Việt Phú. Ngoài ra
cũng có một số giáo trình đề cập đến công tác HN ở các trường phổ thông

2010), Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “ Hoàn chỉnh và ổn định lâu
dài hệ thống giáo dục quốc dân; chú trọng phân luồng đào tạo sau trung học
cơ sở; bảo đảm liên thông giữa các cấp đào tạo”.
7
Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 2005 của Thủ
tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội
trú “học sinh tốt nghiệp các trường trung học cơ sở dân tộc nội trú và trung học
phổ thông dân tộc nội trú, kể cả nội trú dân nuôi được cử tuyển học nghề nội
trú, trong đó ưu tiên con em các dân tộc thiểu số ở khu vực đặc biệt khó khăn”
Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2001-2010 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ, đối với THCS, cung cấp cho HS học vấn phổ
thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để thực
hiện phân luồng sau THCS, tạo điều kiện để HS tiếp tục học tập hoặc đi vào
cuộc sống lao động. Đối với THPT giúp HS có những hiểu biết về kĩ thuật,
chú trọng HN tạo điều kiện phân luồng sau THPT, để HS vào đời hoặc chọn
ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp.
Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011 - 2020 đã nêu
rõ “… Đảm bảo phân luồng trong hệ thống, đặc biệt là phân luồng sau trung
học cơ sở, trung học phổ thông và liên thông giữa các chương trình giáo dục,
cấp học và trình độ đào tạo [31, 12] và đề ra mục tiêu: “Đến năm 2020, các cơ
sở giáo dục nghề nghiệp có đủ khả năng tiếp nhận 30% số học sinh tốt nghiệp
trung học cơ sở”[31,9]
Quyết định số 49/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 8 năm 2008 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy chế Tổ chức và hoạt động của trường
PTDTNT, Khoản 4, Điều 14, Chương 3 đã nói rõ: “Căn cứ quy hoạch đào tạo
và sử dụng cán bộ của địa phương, trường có kế hoạch hướng nghiệp và phân
luồng HS trong quá trình đào tạo”.
Những quan điểm, chủ trương về công tác PLHS phổ thông của Đảng
và Nhà nước đặt cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp PLHS
trong các trường PTDTNT ở vùng dân tộc đi đúng hướng có chất lượng và

quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất
định”[38, 58].
Trong diendan.edu.net.vn định nghĩa: “Chức năng quản lý là hoạt động
đặc trưng của nhà quản lý tác động tới đối tượng để thực hiện mục tiêu quản
lý; là nội dung mà mọi nhà quản lý thực hiện để giữ đúng vị thế quản lý của
mình. Thông qua hoạt động quản lý, nhà quản lý tác động đến khách thể
nhằm thực hiện ý chí của mình. Việc “tác động đến khách thể” được chủ thể
quản lý thực hiện qua các chức năng cơ bản, các chức năng này quan hệ mật
thiết, bổ sung, hỗ trợ nhau trong quá trình quản lý”.
Từ đó có thể hiểu là chức năng quản lý là một dạng hoạt động gồm các
qui trình tác động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý trong
quá trình quản lý nhằm thực hiện ý chí trong việc thực hiện mục tiêu.
Quản lý gồm các chức năng cơ bản sau:
Kế hoạch: Là hoạt động dựa trên các thông tin về thực trạng của tổ
chức như nhân lực, tài lực, vật lực, các chỉ thị từ cấp trên và các điều kiện
khác để đề ra mục tiêu, dự kiến các nguồn lực, phân bổ thời gian, huy động
phương tiện, đề xuất biện pháp để đạt mục tiêu.
Tổ chức: Là việc thiết lập cấu trúc bộ máy, bố trí nhân lực và xây dựng
cơ chế hoạt động; đồng thời ấn định chức năng nhiệm vụ cho các bộ phận và
cá nhân, huy động, sắp xếp và phân bổ nguồn lực nhằm thực hiện đúng kế
hoạch đã đề ra.
Chỉ đạo: Là việc hướng dẫn công việc, liên kết, liên hệ, động viên, kích
thích, giám sát các bộ phận, cá nhân trong tiến trình thực hiện kế hoạch theo
đúng các bước tổ chức.
Kiểm tra: Là theo dõi, giám sát, đánh giá các hoạt động bằng nhiều
cách thức (trực tiếp hoặc gián tiếp, thường xuyên hoặc định kỳ) nhằm so sánh
kết quả với mục tiêu để nhận biết về chất lượng và hiệu quả của các hoạt
10
động, tìm ra những sai lệch để kịp thời đưa ra những quyết định điều chỉnh
cho phù hợp.

hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục
thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi
người. Cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc
dân” [10, 31]; Còn theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “QLGD là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
(hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo
dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa
hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất".[26, 7]
Do đó QLGD là thực hiện các chức năng của quá trình quản lý trong
công tác QLGD, công tác QLGD còn được hiểu theo khía cạnh nội dung quản
lý là quản lý các yếu tố cấu thành hệ thống phức hợp trong quá trình giáo dục
bao gồm quản lý các yếu tố: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương
pháp giáo dục, tổ chức giáo dục, người dạy, người học, trường học, môi
trường giáo dục và các lực lượng giáo dục.
Mục tiêu QLGD là chất lượng giáo dục của người học một cách toàn
diện, với các tiêu chuẩn chính trị tư tưởng, đạo đức, văn hoá, khoa học kỹ
thuật, phát triển trí tuệ, thể chất, hiểu biết, thích ứng nghề nghiệp được qui
định và bảo đảm đạt chất lượng cao.
Hệ thống QLGD là quản lý các mục tiêu trong mối quan hệ tương thích
12
của các yếu tố chủ đạo để tạo nên tính hợp trội của hệ thống, để nhà trường
đạt tới chất lượng tổng thể bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là
sức mạnh để phát triển. Các yếu tố đó là:
- Mục tiêu giáo dục.
- Nội dung chương trình.
- Lực lượng giáo dục.
- Phương pháp giáo dục.
- Hình thức giáo dục.

chương trình, phương pháp, kế hoạch năm học,…)
b) Bộ máy tổ chức và nhân lực nhà trường gồm số lượng và chất lượng
của đội ngũ nhân lực (có cả đội ngũ người học), kết quả sắp xếp cơ cấu bộ
máy quản lý (Ban giám hiệu, phòng, ban, các đơn vị người học như khóa,
lớp, tổ,…), bố trí đội ngũ nhân sự (Cán bộ quản lý, nhà giáo, cán bộ, nhân
viên và người học) của trường và sự phân định chức năng, nhiệm vụ của đơn
vị, cá nhân trong trường.
c) Nguồn tài lực và vật lực giáo dục gồm tài chính, cơ sở vật chất và
thiết bị giáo dục sản phẩm khoa học công nghệ được các đơn vị và mọi thành
viên nhà trường huy động và sử dụng để thực hiện nhiệm vụ và chức năng
của nhà trường.
d) Môi trường giáo dục gồm vấn đề xã hội học tập, nhu cầu và yêu cầu
nhân lực của cộng đồng và xã hội, cơ hội và thách thức đối với giáo dục, mối
quan hệ hợp tác, sự cạnh tranh phát triển, hoạt động tự vệ với những bất
thuận của tự nhiên (ô nhiễm môi trường, thiên tai,…) và của xã hội (dịch
bệnh, tệ nạn xã hội,…).
14
e) Thông tin giáo dục gồm những dữ liệu đã được xử lý về lĩnh vực như
chế định giáo dục và đào tạo, bộ máy tổ chức và nhân lực nhà trường (cán bộ
quản lý, nhà giáo và người học), nguồn tài lực, vật lực giáo dục của nhà
trường và môi trường giáo dục.
Tựu trung lại quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng
có khoa học có mục tiêu của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến khách thể
quản lý là các nguồn lực nhằm đảm bảo sự vận hành một cách tối ưu các hoạt
động của nhà trường để đạt được mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ thành người lao
động mới.
1.2.2 Biện pháp và biện pháp quản lý
1.2.2.1 Biện pháp
Theo từ điển Tiếng Việt thì biện pháp là cách làm, cách giải quyết một
vấn đề cụ thể [25, 62], hoặc biện pháp là cách thức giải quyết một vấn đề

mục tiêu quản lý”.
1.2.3 Phân luồng và phân luồng trong hệ thống giáo dục
1.2.3.1. Phân luồng
Phân luồng là công tác liên quan đến năng lực học tập, sở thích của HS;
đồng thời tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường lao động, sự đáp ứng về nguồn
nhân lực và sự phát triển kinh tế, xã hội. Đây là vấn đề không những ở nước
ta mà còn nhiều nước trên thế giới quan tâm. Có những khái niệm khác nhau
về phân luồng.
Theo tác giả Phạm Lan Hương, “phân luồng” là khái niệm rộng nhằm
phân chia nhánh, chuẩn bị cho nguồn lực quốc gia.
16
Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học- xuất bản năm 1997) đã xác
định: “phân” là chia ra, tách ra thành các phần riêng biệt, từ một chỉnh thể (ví
dụ: Con sông phân ranh giới giữa hai tỉnh). “Luồng” có nghĩa là dòng chảy di
chuyển theo một chiều nhất định (ví dụ: Luồng nước)[20, 744, 574].
Theo Oxford advanced learner

s Dictionary: “Phân luồng” (To stream)
là sự bố trí, sắp xếp học sinh thành những nhóm dựa trên cơ sở năng lực (To
put school students into groups according to their ability)
Như vậy, “phân luồng” là sự phân tách một đối tượng nào đó (số HS
tốt nghiệp THCS, tốt nghiệp THPT ) thành những luồng (hướng, làn, dòng,
con đường ) khác nhau dựa trên cơ sở nhất định.
1.2.3.2. Phân luồng trong hệ thống giáo dục
Phân luồng trong hệ thống giáo dục là “biện pháp tổ chức hoạt động
giáo dục trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để
HS tốt nghiệp THCS, THPT tiếp tục học ở cấp học hoặc trình độ cao hơn, học
trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của
cá nhân và nhu cầu xã hội; góp phần điều tiết ngành nghề của lực lượng lao
động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước” [11, 2].

chiếm khoảng 6,03% số học sinh dân tộc thiểu số cấp trung học của cả nước.
Hệ thống các trường PTDTNT đã từng bước phát triển và khẳng định vị
trí quan trọng trong việc tạo nguồn đào tạo cán bộ có trình độ cho vùng dân tộc,
miền núi, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh quốc
phòng cho các địa phương. Nhiều HS của trường PTDTNT đã trở thành nhà
khoa học, nhà quản lý, đang tham gia công tác tại các cơ quan của Đảng, Nhà
nước, đoàn thể và trong các doanh nghiệp từ Trung ương đến địa phương.
18
Trường PTDTNT huyện là trường đào tạo nguồn cán bộ người đồng
bào dân tộc cho địa phương; tạo lực lượng lao động có trình độ văn hóa, kỹ
thuật, có sức khỏe phẩm chất tốt để tham gia vào công cuộc xây dựng quê
hương miền núi, vùng dân tộc.
Mỗi huyện được thành lập 01 trường PTDTNT cấp trung học cơ sở, là
trường dành cho thanh thiếu niên các dân tộc thiểu số, bản thân và gia đình có
hộ khẩu thường trú tại các huyện. Học sinh được Nhà nước đảm bảo các điều
kiện cần thiết để ăn học, được nhà trường nuôi dạy và sống nội trú trong quá
trình học tập.Tính chất của trường là Phổ thông, dân tộc và đặc điểm nổi bật
của trường là nội trú.
Trường PTDTNT huyện là cơ quan Giáo dục và Đào tạo thuộc quản lý
chỉ đạo trực tiếp của Sở Giáo dục và Đào tạo. Trường có vị trí mũi nhọn trong
sự nghiệp giáo dục ở miền núi, vùng dân tộc; một trung tâm văn hóa, khoa
học, kỹ thuật của địa phương.
Trường PT DTNT cấp huyện hoạt động theo Thông tư số: 12/2011/TT-
BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 về việc Ban hành Điều lệ trường trung
học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học,
Quyết định số 49/2008/QĐ-GDĐT ngày 25 tháng 08 năm 2008 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Quy chế tổ chức hoạt động của
trường phổ thông dân tộc nội trú và Thông tư Số: 06/2009/TT –BGDĐT ngày
31 tháng 3 năm 2009 về Sửa đổi, bổ sung Điều 10 và Điều 13 của Quy chế
tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú ban hành kèm theo

- FAO (Food and Agriculture Organization) - Tổ chức Lương nông, nhìn
nhận phát triển nguồn nhân lực như một quá trình mở rộng các khả năng tham
gia hiệu quả vào phát triển nông thôn bao gồm cả tăng năng lực sản xuất.
20
Qua các định nghĩa nêu trên có thể thấy rằng phát triển nguồn nhân lực
là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một
cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia. Phát triển nguồn nhân lực
chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực của con người vì sự tiến bộ
kinh tế, xã hội.
Phát triển nguồn nhân lực là động lực thức đẩy sự tăng trưởng trong
thế giới kỹ thuật cao ngày nay. Khác với đầu tư cho nguồn vốn phi con người,
đầu tư cho con người tức là sẽ tác động đến đời sống của các cá nhân, gia
đình, cộng đồng của họ và đến toàn xã hội nói chung.
Khái niệm phát triển nguồn nhân lực cần được hiểu đầy đủ hơn trong ý
tưởng quản lý nguồn nhân lực (Human Resources Management – HRM), với
các nội dung như: đào tạo, sử dụng và việc làm.
1.3. Phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở
1.3.1. Mục tiêu giáo dục trung học cơ sở và định hướng phân luồng
học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở
Theo Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
năm 2009, mục tiêu của giáo dục THCS nhằm giúp HS củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và
những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Như vậy, mục tiêu của của giáo dục THCS gồm các nội dung giáo dục
và các định hướng sau:
- Có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở (củng cố và phát triển những
kết quả của giáo dục tiểu học và tiếp tục bồi dưỡng ở cấp THCS);
- Có những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp;
- Các định hướng: tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status