HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
SẺNG VI LAY PHON KẸO PẠ SỢT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN
Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY
Chuyên ngành : Chính trị học
Mã sè : 60 31 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ MINH QUÂN
HÀ NỘI - 2005
MỤC LỤC
Tran
g
1
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, TẠO ĐIỀU KIỆN CHO
VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở LÀO
HIỆN NAY
6
1.1. Phát triển nền kinh tế thị trường, chuẩn bị công nghiệp hóa, hiện
đại hóa là yêu cầu và điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở
Lào hiện nay 6
1.2. Tuyên truyền giáo dục ý thức dân chủ, ý thức pháp luật nâng cao
dân trí trong nhân dân 22
Chương 2: ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ
NƯỚC THEO HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN Ở LÀO HIỆN NAY
33
2.1. Nhận thức về đổi mới và hoàn thiện theo hướngxây dựng nhà
nước pháp quyền ở Lào hiện nay 33
lý xã hội - như kinh nghiệm lịch sử cho thấy là hình thức tổ chức nhà nước
có thể đáp ứng được các yêu cầu phát triển của xã hội. Trong thời đại ngày
nay, xây dựng nhà nước pháp quyền đã trở thành một trong những vấn đề có
tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của các quốc gia, nhất là đối với
các nước đang phát triển. Xây dựng nhà nước pháp quyền, một mặt, là xây
dựng một nhà nước có khả năng thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,
khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của nhân dân cho phát triển đất nước, mặt
khác, còn là cơ sở đảm bảo sự ổn định, sự bền vững của bản thân nhà nước.
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (NDCM) xác định phải từng bước
đổi mới và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân (CHDCND)
Lào theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN)
của dân, do dân và vì dân. Bởi vì, đối với nước CHDCND Lào - mét nước
còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội còn
thấp như hiện nay - thì việc xây một nhà nước pháp quyền càng có ý nghĩa
quyết định. Việc đặt vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền theo định
hướng XHCN ở Lào hiện nay, một mặt, là đòi hỏi khách quan của việc
chuyển sang nền kinh tế thị trường, của quá trình dân chủ hoá xã hội và quá
trình hội nhập quốc tế, mặt khác, còn là yêu cầu của việc xây dựng và củng
cố chế độ dân chủ nhân dân theo định hướng XHCN.
Xây dựng nhà nước pháp quyền dù ở quốc gia nào cũng là một quá
trình lịch sử, là kết quả của sự phát triển của sự phát triển kinh tế, chính trị và
xã hội. Trong những điều kiện lịch sử nhất đinh, việc xây dựng nhà nước pháp
quyền ở mỗi nước lại lại đòi hỏi những cách làm cụ thể - những giải pháp cụ
1
thể, phù hợp. Xây dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện ở Lào là một
công việc lâu dài, phức tạp và hệ trọng, đòi hỏi nhiều giải pháp các yếu tố liên
quan đến điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa,
tâm lý dân téc, nhu cầu xã hội, quan hệ quốc tế. Việc xác định các giải pháp
đòi hỏi phải gắn được lý luận với thực tiễn, các giải pháp được nêu ra cần
phải phù hợp với điều kiện trong nước của Lào và xu hướng phát triển của thế
nước pháp quyền ở Lào (đề tài luận văn này) là sự tiếp nối các đề tài, các công
trình nghiên cứu đã có về tính tất yếu, những đặc điểm, những yêu cầu của việc
xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào. Có thể thấy một số công trình sau đây:
1. Khăm Cải Viêng Xa Văn (1995), Sự kiện lịch sử của việc thành lập
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Tạp chí A Lun May (CHDCND Lào).
2. Phông Xa Vặt Búp Pha (1996), Sự phát triển của Nhà nước Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào, Tạp chí A Lun May (CHDCND Lào).
3. Chả Lơn Dia Pao Hơ (1995), Sự vững mạnh của quyền lực nhà
nước là yếu tố đảm bảo cho nền độc lập chủ quyền quốc gia, Tạp chí Xây
dựng Đảng Nhân dân cách mạng Lào.
4. En Sô La Thi (2000), Xây dựng nhà nước đảm bảo quyền lực của
nhân dân lao động ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện
nay, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu với những quy mô và
cấp độ khác nhau về nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền
được thực hiện từ những năm 1991 -1995 và từ 1995 đến nay. Có thể thấy
nhiều đề tài lớn đã được thực hiện trong những năm 1991 -1995 như một số
đề tài cấp Nhà nước thuộc Chương trình KX. 05, một số đề tài cấp Nhà nước
thuộc các Chương trình KX. 08 và KX. 10 cho đến nay. Những kết quả nghiên
cứu trên là những cơ sở hết sức quý giúp cho việc thực hiện đề tài của luận văn
này.
3
Đăc biệt, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đã được nhiều tác giả
nghiên cứu dưới góc độ của khoa học chính trị, trong đó có Chính trị học. Có
thể nêu một số công trình sau đây:
1. Nguyễn Thị Tâm (2002), Đổi mới phương thức lãnh đạo đối với
nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện
nay, Luận văn thạc sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh.
2. Võ Văn Bơ (1999), Xây dựng nhà nước pháp quyền Cộng hòa xã
Luận văn giới hạn nghiên cứu ở một số giải pháp chủ yếu về kinh tế,
chính trị và xã hội để xây dựng nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, của Đảng NDCM Lào và của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cơ sở
lý luận cho việc nghiên cứu.
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp của chính trị học và xã
hội học mácxít, gắn phân tích lý luận với tổng kết thực tiễn.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của một số giải pháp xây dựng
nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào trên cơ sở tư duy mới về việc phát triển
kinh tế thị trường, xây dựng xã hội công dân, đổi mới tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở Lào hiện nay.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp phần vào việc xây dựng và
hoàn thiện bộ máy Nhà nước CHDCND Lào theo hướng nhà nước pháp quyền.
5
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
khảo cho nghiên cứu, học tập và giảng dạy trong các cơ sở đào tạo về một số nội
dung liên quan đối với những giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết.
6
Chương 1
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠO ĐIỀU KIỆN
CHO VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở LÀO HIỆN NAY
1.1. PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, CHUẨN BỊ CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA LÀ YÊU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG
và đồng bằng nhỏ ven các triền sông, suối, nông dân trồng lúa nước một vụ
kết hợp với chăn nuôi trong gia đình và đánh bắt hái lượm tự nhiên để sinh
sống. Ở các vùng đồng bằng, thành phố, thị xã trục đường giao thông ven
các triền sông lớn và sông Mê Kông sản xuất phát triển hơn so với các
vùng khác. Nhưng nhìn chung sản xuất nông nghiệp là chính và vẫn giữ
phương thức canh tác tiểu nông sản xuất nông nghiệp chủ yếu là dùa vào
sức kéo của trâu bò, sức người với các công cụ lao động thô sơ như: cày,
cuốc, dao, liềm. Công cụ cơ khí nhỏ chưa được sử dụng phổ biến, việc
dùng phân bón, thuốc trừ sâu và kỹ thuật canh tác như thâm canh, tăng vụ
còn rất hạn chế, cho nên hiệu quả, năng suất chất lượng lao động sản xuất
còn rất thấp kém. Nông sản làm ra chỉ đủ để ăn và tiêu dùng trong cuộc
sống hàng ngày.
Trong nông nghiệp và nông thôn cũng chưa có phân công chuyên
môn hóa rõ rệt, sản xuất của các hộ nông dân là vừa trồng trọt, vừa chăn
nuôi, cho nên hiệu quả năng suất còn thấp.
Năng suất lúa nước bình quân đạt: năm 1976 là 1,43 tấn/ha,
1980 là 1,65 tấn/ha, 1985 là 2,11 tấn/ha. Trồng trọt độc canh,
trồng lúa nếp là chủ yếu, kỹ thuật canh tác lạc hậu và chỉ làm
một vụ, chăn nuôi cũng chỉ là hoạt động mang tính chất kinh tế
gia đình chưa thành sản xuất hàng hóa [45, tr.36].
Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung khai thác gỗ, lâm sản để
tiêu dùng trong cuộc sống và một phần để xuất khẩu. Một số lâm sản có giá
trị rất cao và rất quý, nhưng phương thức khai thác còn thô sơ, tùy tiện và
coi thường các biện pháp tu bổ tái tạo rừng. Sản xuất tự nhiên dùa vào rừng
núi, sông hồ chủ yếu chỉ cung cấp cho tiêu dùng hàng ngày của nhân dân
8
địa phương, chưa tận dụng một cách hợp lý và có hiệu quả những tiềm
năng sắn có Êy, chưa được bảo vệ và khai thác đúng mức.
Trước ngày giải phóng kinh tế - xã hội của Lào là từng trải qua một
thời kỳ có hai vùng kinh tế - xã hội khác nhau:
theo hướng có sự giúp đỡ một chiều của các nước XHCN phát triển đi
trước. Dù còn sơ khai nhỏ bé nhưng nền kinh tế đất nước vẫn phải tự tìm
đường tồn tại và phát triển trên cơ sở bình đẳng, hai bên cùng có lợi với
các nước XHCN và quan hệ thị trường sòng phẳng với các nền kinh tế
khác trên thế giới. Đó là những thách thức rất to lớn và căng thẳng đối với
nền kinh tế cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của đất nước Lào.
Trước những đòi hỏi gay gắt và nghiêm trọng đó của thực tế lịch sử,
Đảng NDCM Lào đã khởi xướng sự nghiệp đổi mới, tiếp nhận xu thÕ đổi
mới đúng đắn của một số nước XHCN anh em, đặc biệt là Việt Nam. Đại hội
Đảng lần thứ IV (1986) đã khẳng định: "Quyết tâm chuyển nền kinh tế tự
nhiên, nửa tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa với một kiểu cơ cấu mới, gắn
nông nghiệp, lâm nghiệp với công nghiệp và dịch vụ" [43, tr.25].
1.1.1.2. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội ở Lào thời kỳ đổi mới
Thực hiện đường lối đổi mới trong đó có đổi mới kinh tế mà trọng
tâm là đổi mới cơ chế quản lý, sự phát triển của nền kinh tế Lào đã từng
bước có những chuyển biến rất quan trọng. Có thể thấy những chuyển biến
cơ bản sau đây:
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ lệ công nghiệp
và dịch vụ
Cơ cấu kinh tế trước năm đổi mới (1985), tiêu biểu là các năm
1980-1984, 1985 và 1986 nông nghiệp chiếm 73-83%, công nghiệp chiếm
6-10%, dịch vụ chiếm 11-17% (như đã thể hiện ở bảng trên).
10
Qua đổi mới cơ cấu kinh tế đã có sự đổi thay đáng kể: về cơ cấu
nông nghiệp năm 1995 chiếm 54,3%, 1996 chiếm 52%, 1997
chiếm 51,5% và 1998 chiếm 52,8%. Công nghiệp năm 1995 chiếm
18,8%, 1996 chiếm 20,6%, 1997 chiếm 20,82%, 1998 chiếm
21,73%. Dịch vụ năm 1995 chiếm 27,00%, 1996 chiếm 27,4%,
1997 chiếm 26,96% và 1998 chiếm 26,2% của GDP [47, tr.83].
Với sự chuyển dịch tích cực của cơ cấu kinh tế đó nên tổng sản
(89% của năm 1989, xuống 10% của những năm 1990-1996).
Hai là, đã chuyển đổi hệ thống ngân hàng, từ hệ thống ngân hàng
một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp với chức năng nhiệm vụ khác
nhau: Ngân hàng Trung ương làm nhiệm vụ quản lý điều tiết tầm vĩ mô về
mặt lưu thông tiền tệ; Ngân hàng Thương mại làm nhiệm vụ lưu động tín
dụng và cung ứng dịch vụ vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh. Tách
Kho bạc Nhà nước khỏi hệ thống Ngân hàng Quốc gia. Đồng thời đã cho
một ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh tại CHDCND Lào, nhằm mở rộng
thị trường vốn, tăng đầu tư cho nền kinh tế.
Việc thực hiện chính sách trên đã góp phần làm cho kinh tế thị
trường ổn định và mở rộng. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống ngân hàng
vẫn còn nhiều yếu kém, chưa thực sự trở thành công cụ điều tiết chủ đạo
cho nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Điều này thể hiện rõ
trong việc đồng Kíp hiện đang ngày càng có nguy cơ tụt xuống làm cho thị
trường giá cả biến động liên tiếp.
Ba là, hệ thống tài chính nhà nước được chuyển từ hệ thống tài
chính dưới hình thức làm nghĩa vụ cho nhà nước của các đơn vị kinh
doanh, các hộ gia đình thành hệ thống nép thuế theo pháp luật. Sự thay đổi
trên đã góp phần làm cho chính sách tài chính cấp vĩ mô của Nhà nước có
12
hiệu lực và có khả năng huy động nguồn tài chính ngày càng tăng cho ngân
sách nhà nước, góp phần thúc đẩy việc đầu tư vào sản xuất. Tuy nhiên, hệ
thống tài chính các cấp chưa hẳn là công cụ điều tiết có hiệu quả, nhất là
trong nền kinh tế thị trường của một quốc gia kém phát triển. Việc quản lý,
sử dụng, kiểm soát ngân sách vốn đầu tư cả trong và ngoài nước chưa chặt
chẽ. Hiện tượng bội chi ngân sách vẫn thường xảy ra. Do những yếu kém
đó nên chưa phát huy tối đa tiềm lực tài chính của đất nước, cũng như việc
thu hót các nguồn tài chính từ bên ngoài.
Bốn là, đã cải cách hệ thống quản lý hành chính về kinh tế từ quản
lý kinh tế theo sự phân cấp như tỉnh, huyện và Trung ương sang quản lý
chính sang chế độ chi - trả bằng tiền mặt theo quy luật thị trường, mở rộng
buôn bán tù do hợp pháp, chuyển từ chế độ tiền lương cung cấp theo phiếu sổ
tay sang chế độ lĩnh lương bằng tiền mặt. Chuyển từ hệ thống nhiều tỷ giá
trao đổi của nhà nước sang hệ thống giá cả và tỷ giá trao đổi đơn nhất. Xóa bỏ
những hàng rào ngăn sông cấm chợ giữa các tỉnh và địa phương với nhau.
Trao đổi buôn bán theo cơ chế thị trường được mở rộng giữa thành thị
và nông thôn trên cả nước và mở rộng buôn bán qua biên giới.
Theo thống kê, năm 1994-1995 giá trị lưu thông hàng hóa cả
nước so với năm 1985 tăng 9 lần, riêng năm 1995 khả năng sức
mua tăng lên 11,3% so với năm 1994. Việc buôn bán với nước
ngoài ngày càng phát triển. Đến nay CHDCND Lào đã có quan
hệ buôn bán với hơn 30 nước trên thế giới với tổng giá trị buôn
bán năm 1994-1995 đạt đến 759,7 triệu USD so với năm 1993-
1994 tăng 461%, trong đó xuất khẩu đạt 274 triệu USD so với
14
năm 1985 tăng 24,7 lần, nhập khẩu đạt tới 485 triệu USD, so với
năm 1985 tăng 24,4 lần [36, tr.59].
+ Chuyển sang mở rộng và đa phương hóa các quan hệ kinh tế
với nước ngoài
Trước khi có những biến động lớn ở Liên Xô và Đông Âu những năm
1990-1991, Lào có quan hệ kinh tế chủ yếu với các nước XHCN. Trong đó,
chủ yếu Lào tiếp nhận viện trợ từ các nước XHCN. Hiện nay, một mặt Lào
tiếp tục củng cố, mở rộng quan hệ với các nước XHCN anh em truyền thống -
trong đó có Việt Nam và quan hệ trên tinh thần mới, cơ chế mới. Mặt khác,
tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước trong cộng đồng thế giới. Trong điều
kiện hiện nay Đảng và Nhà nước Lào đã và đang coi việc mở rộng quan hệ
kinh tế với nước ngoài theo hướng đa phương hóa như một chiến lược hàng
đầu để thu hót vốn đầu tư và công nghệ hiện đại nhằm xây dựng củng cố đất
nước. Chính sách này đã là một trong những yếu tố giúp CHDCND Lào vượt
qua tình trạng khó khăn về nhiều mặt đặc biệt là về mặt tài chính. Do chính
kiểu tự nhiên, tự cung, tự cấp của đồng bào vẫn tiếp diễn.
Qua khảo sát của các tổ chức quốc tế về vấn đề nghèo nàn lạc
hậu cho thấy vẫn còn hơn 40% số dân cư trên cả nước đang sinh
sống dưới mức nghèo khổ, riêng miền Nam chiếm 60%, đa số
gia đình có thu nhập bình quân dưới 100 USD/năm nhiều hộ còn
thiếu đói [36, tr.61].
Về sản xuất công nghiệp, tuy tỷ lệ tăng bình quân tương đối cao
(12%/năm). Nhưng công nghiệp chưa thực sự có tác dụng thúc đẩy sản xuất
nông, lâm nghiệp.
Tỷ lệ sản xuất công nghiệp phục vụ nông lâm nghiệp còn rất thấp
mới chiếm 0,5% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp, sản phẩm
tiêu dùng chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của xã hội, hơn 90% hàng
16
tiêu dùng nhất là thực phẩm, phải nhập từ bên ngoài vào. Tổng giá
trị xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 60-65% so với tổng giá trị nhập
khẩu. Việc sản xuất để bù đắp nhập siêu cũng rất khó khăn, vì
không Ýt các doanh nghiệp trong nước bị phá sản, hàng hóa sản
xuất ra không có khả năng cạnh tranh với hàng ngoài [36, tr.62-63].
Về du lịch đã có phát triển khá nhanh, nhưng phần lớn là dịch vụ trong
thành phố lớn mà chủ yếu lại phục vụ trong sinh hoạt xa xỉ, lãng phí như nhà
hàng ăn uống, khách sạn. Ở đây các đồ ăn, thức uống và các thiết bị phục vụ
toàn là hàng nhập từ bên ngoài vào. Dịch vụ vẫn trải qua biên giới chưa được
củng cố thỏa đáng, hệ thống thương mại, tài chính, ngân hàng chưa thực sự là
công cụ điều tiết khuyến khích sản xuất tiêu dùng trong nước, tâm lý thích
dùng hàng ngoại, xài tiền ngoại còn phổ biến làm ảnh hưởng đến uy tín giá trị
đồng Kíp - nội tệ.
Việc thu hót đầu tư nước ngoài dù đạt kết quả tốt trên nhiều lĩnh vực
nhưng khâu chuẩn bị điều kiện đón nhận các dự án đầu tư nước ngoài cũng
còn hạn chế nhất là thiếu đội ngò cán bộ có kiến thức kinh nghiệm trên lĩnh vực
này, thiếu sự chuẩn bị cho việc thống kê, khảo sát cơ bản trước khi đón nhận các
Thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức thuê mướn lao động, tuy không
để biến thành quan hệ thống trị, dẫn tới sự phân hóa xã hội thành hai cực đối
lập, phân phối và phân phối lại hợp lý các thu nhập. Khuyến khích làm giàu
hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, không để diễn ra chênh lệch quá
đáng về mức sống và trình độ phát triển, giữa các vùng, các tầng líp dân cư.
Đồng thời, tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của nhà nước, khai thác
triệt để vai trò tích cực đi đôi với khắc phục và ngăn ngõa hạn chế những tác
động tiêu cực của cơ chế thị trường. Bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ trước pháp luật của mọi doanh nghiệp và cá nhân không phân biệt thành
phần xã hội. Từng bước chuyển nền kinh tế tự nhiên, nửa tự nhiên, tự cung, tự
18
cấp sang nền kinh tế hàng hóa, trao đổi theo cơ chế thị trường. Thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
có sự quản lý của nhà nước theo cơ chế thị trường trong điều kiện nước
CHDCND Lào, như vậy, đòi hỏi một sự nỗ lực vượt bậc và căn bản trong
nhận thức và hành động không chỉ của Đảng, Nhà nước, mà còn của tất cả
mọi tầng líp nhân dân các bộ téc Lào. Từng bước từ bỏ cách nghĩ, cách làm từ
một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, tự tóc - tự cấp để chuyển sang cách
nghĩ, cách làm trong sản xuất hàng hóa, theo cơ chế thị trường, cạnh tranh
ngày càng gay gắt thật sự là một cuộc cách mạng. Đó là cuộc cách mạng
không chỉ trong xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất, mà còn là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tư tưởng và văn hóa. Do vậy,
tuyên truyền, giáo dục nhân dân mạnh dạn chuyển đổi cách làm ăn, đầu tư
vốn cho sản xuất, kinh doanh, đóng góp sức người, sức của xây dựng đất
nước. Tuyên truyền giáo dục trong cán bộ, đảng viên cách làm ăn mới trong
điều kiện của thị trường, qua đó mà rèn luyện cán bộ trưởng thành.
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường tất yếu đặt ra yêu cầu và tạo ra
những điều kiện cần thiết, hiện thực cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở
CHDCND Lào. Quá trình đổi mới kinh tế luôn đặt ra yêu cầu đổi mới chính trị và tạo
đóng góp của tất cả các thành phần kinh tế, nhưng do bản chất các thành phần
kinh tế khác nhau, nên mục tiêu hoạt động của các thành phần kinh tế không
chỉ có mặt thống nhất mà còn có mâu thuẫn với nhau. Nhà nước cần có chính
sách kết hợp hài hòa lợi Ých kinh tế, hướng sự hoạt động của các thành phần
kinh tế vào những mục tiêu phát triển chung của đất nước.
Càng phát triển nền kinh tế thị trường thì Nhà nước càng cần phải có
chính sách toàn diện, đồng bộ, đúng đắn và lâu dài đối với các thành phần
kinh tế trong quá trình phát triển. Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục tư
20
tưởng chính trị nâng cao nhận thức trong mọi tầng líp nhân dân về đường lối
phát triển các thành phần kinh tế.
1.1.2.3. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế mới đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng tăng tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ
Thời kỳ đổi mới được đánh dấu bằng Đại hội IV của Đảng NDCM
Lào, quyết định chuyển nền kinh tế bao cấp sang kinh tế hàng hóa, chuyển
nền kinh tế với hai thành phần cơ bản là kinh tế quốc doanh và tập thể sang
nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết
của nhà nước. Đường lối đổi mới đó được ghi trong Hiến pháp đầu tiên của
chế độ CHDCND Lào.
Điều 13 của Hiến pháp quy định, “Chế độ kinh tế của đất nước là
kinh tế nhiều thành phần có mục tiêu phát triển sản xuất và mở
rộng lưu thông, chuyển từ kinh tế tự nhiên thành kinh tế hàng
hóa, đưa nền kinh tế phát triển đi lên và nâng cao cuộc sống vật
chất lẫn tinh thần của nhân dân các bộ téc Lào” [34, tr.5].
Việc chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải từng bước thiết lập một hệ
thống các thể chế, các cơ chế quản lý mới, phù hợp với sự vận động và phát
triển của kinh tế hàng hóa.
Nhà nước phải tự đổi mới toàn diện, từ chính sách, pháp luật, tổ chức,
quyền chuyển nhượng và quyền thừa kế theo pháp luật.
Về quản lý kinh tế thực hiện theo cơ chế kinh tế thị trường có sự điều
tiết của Nhà nước, thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý, hợp lý cho địa
phương. “Nhà nước khuyến khích và hướng dẫn phát triển hợp tác kinh tế với
22