Khảo sát một số chỉ tiêu tiểu khi hậu chuồng nuôi và ảnh hưởng của chúng đến nhịp thở của lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau tại trại chăn nuôi lợn phước bình 1 của công ty CP việt nam - Pdf 24

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Hiện nay chăn nuôi đang là mũi nhọn phát triển kinh tế trong nông
nghiệp, trong đó chăn nuôi lợn đang được chú trọng quan tâm. Với xu hướng
phát triển chăn nuôi tập trung quy mô lớn, phương thức chăn nuôi chuồng kín
đang dần phổ biến đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt, phương thức chăn
nuôi này thuận lợi hơn cho công tác kiểm soát dịch bệnh.
Chuồng kín có một tiểu khí hậu độc lập được ngăn cách và ít bị ảnh
hưởng bởi môi trường ngoài. Tiểu khí hậu bao gồm các chỉ tiêu thông dụng như
nhiệt độ, ẩm độ, tốc độ gió và chỉ số nhiệt ẩm (THI) Các chỉ tiêu này là một
trong các yếu tố tạo nên môi trường sống và phát triển của lợn, chúng trực tiếp
hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất, cảm giác nóng lạnh và một
số chỉ tiêu sinh lý của lợn. Trong đó chỉ tiêu nhịp thở biểu hiện rõ và dễ dàng
nhận bằng mắt thường. Khi có sự thay đổi bất kỳ của một trong các chỉ tiêu nói
trên thì đều kéo theo sự thay đổi các chỉ tiêu khác và làm thay đổi nhịp thở của
lợn.
Trại chăn nuôi lợn Phước Bình 1 của công ty CP Việt Nam là một mô
hình chăn nuôi chuồng kín điển hình. Tại đây, chuồng nuôi được thiết kế hệ
thống dàn mát ở đầu chuồng và hệ thống quạt thông gió cuối chuồng. Tiểu khí
hậu chuồng nuôi luôn được giữ ở mức ổn định và được điều chỉnh thường
xuyên. Với mục đích tìm hiểu rõ hơn về điều kiện tiểu khí hậu trại chăn nuôi
của công ty CP, xác định ảnh hưởng tiểu khí hậu chuồng nuôi đến nhịp thở của
lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau, từ đó tìm biện pháp khắc phục
nhằm đảm bảo sức khỏe cho lợn nái, sự phát triển tốt của thai. Vì vậy tôi thực
hiện đề tài: “Khảo sát một số chỉ tiêu tiểu khi hậu chuồng nuôi và ảnh
hưởng của chúng đến nhịp thở của lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác
nhau tại trại chăn nuôi lợn Phước Bình 1 của công ty CP Việt Nam”.
Mục tiêu của đề tài:
- Khảo sát và đánh giá sự đồng đều của các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng
nuôi tại các vị trí khác nhau trong chuồng và sự giao động các chỉ tiêu đó theo
thời gian trong ngày.

* Chú ý: độ ẩm cực đại được lấy bằng khối lượng riêng của hơi nước
bão hòa, ví dụ: độ ẩm cực đại ở 28
o
C là 27,2(g/m
3
).
2.1.1.3. Độ ẩm tương đối
Độ ẩm tuyệt đối a chưa cho biết không khí ẩm nhiều hay ẩm ít, vì nhiệt
độ càng thấp thì hơi nước càng dễ bão hòa và độ ẩm tuyệt đối càng gần độ ẩm
cực đại.
Để mô tả mức độ ẩm của không khí ở mỗi nhiệt độ, người ta dùng độ
ẩm tỉ đối B.
Độ ẩm tỉ đối f là đại lượng đo bằng tỉ số phần trăm giữa độ ẩm tuyệt
đối a và độ ẩm cực đại A của không khí ở cùng nhiệt độ cho trước:
2
(39.1)
Trong khí tượng học, độ ẩm tỉ đối f được tính gần đúng theo công thức:
(39.2)
Ý nghĩa độ ẩm tỉ đối cho ta biết mức độ ẩm của không khí. Không
khí càng ẩm thì độ ẩm tỉ đối của nó càng cao.
Có thể đo độ ẩm của không khí bằng các ẩm kế : Ẩm kế tóc, ẩm kế
khô – ướt, ẩm kế điểm sương.
2.1.1.4. Ảnh hưởng của độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí ảnh hưởng đến cân bằng nhiệt của động vật, đặc biệt ở
môi trường quá nóng hoặc quá lạnh. Trong trường hợp quá nóng, giảm nhiệt độ
cơ thể do bốc hơi nước là rất quan trọng đối với sự ổn định thân nhiệt. Áp suất
hơi nước của môi trường càng cao thì sự chênh lệch áp suất hơi nước giữa da
hoặc đường hô hấp với không khí càng thấp, do vậy sự bốc hơi càng giảm. Nói
chung, sự gia tăng áp suất hơi nước của môi trường ít tác động đến cân bằng
nhiệt của các loài động vật chủ yếu dựa vào thở để giảm nhiệt khi có stress nhiệt

thấp thì thúc đẩy các quá trình tỏa nhiệt bằng bức xạ, truyền dẫn và đối lưu dẫn
đến cơ thể mất nhiều nhiệt và bị cảm lạnh.
Độ ẩm không khí trong chuồng nuôi bị chi phối bơi các yếu tố như: sự lưu
thông của không khí, áp suất khí quyển, nước ngầm trong đất, hơi nước do gia
súc thở ra, phân, nước tiểu, nước vệ sinh chuồng trại Để đảm bảo độ ẩm thích
hợp trong bất kỳ nhiệt độ không khí nào, cần vệ sinh chuồng trại một cách
thường xuyên, giảm sự xâm nhập của hơi ẩm vào trong không khí chuồng nuôi.
2.1.2. Nhiệt độ.
Nhiệt độ là đại lượng biểu thị mức độ nóng lạnh. Đây là yếu tố ảnh hưởng
lớn nhất đến cảm giác của gia súc. Người ta thường sử dụng 2 thang nhiệt độ độ
C và độ F.
2.1.2.1 Nhiệt độ tới hạn thấp
Nhiệt độ tới hạn thấp là mốc nhiệt độ môi trường thấp, động vật phải tăng
sản sinh nhiệt lớn hơn nhiệt lượng trao đổi cơ bản để duy trì thân nhiệt.
Quá trình này bao gồm các phản ứng tự vệ như co mạch máu ngoại biên,
dựng lông, điều chỉnh tập tính để giảm mất nhiệt khỏi bề mặt cơ thể.
Tùy thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, mật độ nuôi mà mốc nhiệt độ tới hạn
4
thấp có sự khác nhau. Trong trường hợp lợn cùng khối lượng nhưng nuôi cá thể
thì nhiệt độ tới hạn thấp là cao và ngược lại khi nuôi theo nhóm, do đặc tính điều
hòa nhiệt mang tính chất quần thể nên tiết kiệm được nhiệt năng và cuối cùng là
yêu cầu nhiệt ít, nên cần một nhiệt độ tới hạn thấp hơn. Trong cùng khối lượng cơ
thể nhưng mức dinh dưỡng cung cấp lớn thì hạ thấy được nhiệt độ tới hạn thấp.
2.1.2.2. Nhiệt độ tới hạn cao
Nhiệt độ lới hạn cao là mốc nhiệt độ mà trên đó con vật phải thực hiện cơ
chế sinh lý nhằm đưa nhiệt độ cơ thể xuống mức bình thường bằng cách bốc hơi
thông qua tiết mồ hôi, tăng tần số hô hấp, giãn mạch máu ngoại biên nhằm tăng sự mất nhiệt từ bề mặt cơ
thể. Các phương thức tỏa nhiệt như truyền dẫn, bức xạ và đối lưu được thực hiện. Cũng như nhiệt độ tới hạn thấp, nhiệt độ tới
tới cao cũng có thể bị chi phối bởi các yếu tố như đã nêu ở trên. Theo NRC (1981) lợn từ 3 - 100kg có thể chịu đựng được
nhiệt độ lên tới 35ºC song lợn nái và đực giống thì không vượt quá 33ºC (bởi ở mức nhiệt độ này sẽ ảnh hưởng đến tính chất

2.1.2.4. Vùng stress lạnh
Là khoảng nhiệt độ thấp hơn vùng nhiệt trung hòa và ngay phía dưới nhiệt
độ tới hạn thấp. Các hoạt động cơ học làm giới hạn sự mất nhiệt chuyển dịch về
giá trị tối đa và hoạt động trao đổi chất tăng, tốc độ trao đổi chất tiếp tục tăng tới
mức cao nhất và có thể duy trì trong một giai đoạn dài. Tuy nhiên, con vật chỉ có
thể chịu đựng thêm vài độ thấp hơn. Nhiệt độ cơ thể hạ thấp, kết quả là con vật
giảm thân nhiệt và cuối cùng sẽ chết.
2.1.2.5. Vùng stress nóng
Là vùng phía trên nhiệt độ tới hạn cao. Trong vùng này, con vật giảm các
hoạt động tiêu hao sinh nhiệt trong các mô và thay đổi cách thải nhiệt (như đổ
mồ hôi, thở hổn hển, ). Sản lượng nhiệt tăng do năng lượng cần cho tiêu hao
nhiệt, thêm vào đó là tích nhiệt từ môi trường, con vật sẽ rất khó tự vệ. Kết quả
là lượng ăn vào của con vật giảm và có thể ở trạng thái hôn mê nếu stress nóng
nặng. Khi nhiệt độ cơ thể tăng trên mức bình thường do nhiệt mất đi ít hơn sự
sinh nhiệt trong cơ thể và nhiệt nhận từ môi trường, cuối cùng con vật chết.
Nếu duy trì nhiệt độ ở mức 35ºC thì lợn sẽ bị stress nóng. Tuy nhiên, nếu
chỉ có một số thời điểm có nhiệt độ cao và trung bình nhiệt độ ngày đêm không
vượt quá 25ºC thì sức sản xuất của lợn ở gần vùng nhiệt tối ưu.
Có nhiều phương thức điều hòa thân nhiệt trong điều kiện nhiệt độ môi
trường thay đổi, song tất cả chúng đều quy về 2 phương thức chính là điều hòa
nhiệt vật lý và điều hòa nhiệt hóa học.
2.1.2.6. Tác động của nhiệt độ tới bộ máy hô hấp của lợn
Nhiệt độ cao làm tần số hô hấp tăng lên. Ở gia súc có tuyến mồ hôi kém
phát triển thì hoạt động này là rất rõ. Con vật tiết nhiều nước bọt loãng cũng để
6
tỏa nhiệt cho cơ thể.
Không như ngựa và bò, lợn bốc hơi qua da kém, do vậy trong môi trường
nhiệt độ cao thì bốc hơi nước qua hô hấp để thải nhiệt thừa ra ngoài là chủ yếu.
Để thực hiện tỏa nhiệt theo phương thức này, trước tiên con vật phải tăng tần số
hô hấp.

Nái nuôi con 24 ± 7 25 ± 7 41 ± 6 62 ± 15 92 ±18
Lợn hậu bị 18 ± 4 22 ± 6 36 ± 8 54 ± 9 85 ± 14
Lợn choai 18 ± 5 20 ± 8 33 ± 7 57 ± 14 91 ± 17
Lợn vỗ béo 13 ± 3 16 ± 4 28 ± 6 65 ± 16 120 ± 26
Như vậy, khi nhiệt độ không khí tăng thì tần số hô hấp của lợn tăng, tăng
mạnh khi nhiệt độ không khí từ 30ºC trở lên. Tần số hô hấp tăng, đồng nghĩa với
tăng sự mất nước.
Nghiên cứu của Toshihiko và Notsuki (1987) [23] trên 6 lợn Landrace
thiến ở các khoảng nhiệt độ không khí từ 12-33ºC, độ ẩm 70%, tốc độ gió bằng
1,3m/s cho thấy tỷ lệ nước bốc hơi qua đường hô hấp/tổng lượng nước bốc hơi
có sự thay đổi khi nhiệt độ không khí thay đổi.
Nước bốc hơi qua đường hô hấp chiếm 50-60% khi nhiệt độ không khí
nhỏ hơn 20%,nhưng tăng lên 70% ở nhiệt độ cao. Giá trị tối đa của tỷ lệ này là
74% ở 33ºC.
Theo Morrison và cộng sự (1967) khi nghiên cứu ở nhiệt độ không khí
30ºC và độ ẩm tương đối 90% thì tỷ lệ này là 66%.
Trong điều kiện nhiệt độ môi trường cao, do sự gia tăng tần số hô hấp dẫn
đến một lượng nước mất theo. Theo Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi (1985) [1],
nhiệt độ môi trường càng cao, lượng nước mất đi càng lớn, đồng thời nhu cầu về
oxy cũng như sự thải khí CO
2
cũng tăng.
Bảng 2.2. Sự biến đổi trạng thái sinh lý hô hấp của lợn ở cá nhiệt độ khác
nhau của môi trường
Nhiệt độ
không khí
Tần số
hô hấp
Độ sâu
thở vào

suất cao đến nơi có áp suất thấp. Và sự di chuyển đó cứ tiếp tục cho đến khi nào
sự chênh lệch về áp suất bị triệt tiêu [3].
Vậy, nguyên nhân sinh ra gió là do sự phân bố không đồng đều của áp
suất trên bề mặt của trái đất, sự phân bố không đồng đều của khí áp lại gây nên
bởi sự phân bố không đồng đều của nhiệt độ [3].
Trong hệ thống chuông kín, gió được tạo ra nhờ sự chênh lệch áp suất bằng
việc sử dụng hệ thống quạt hút. Khối không khí bên trong chuồng luôn chuyển động
từ trong ra ngoài và nguồn không khí mới được hút vào qua hệ thống dàn mát.
2.1.3.2. Ảnh hưởng của gió tới cơ thể gia súc
9
Chuyển động của không khí ảnh hưởng đến tốc độ trao đổi nhiệt thông qua sự chuyển động của
chất mang nhiệt và phương thức thoát hơi nước.Tuy vậy, tầm quan trọng của ảnh hưởng này được điều tiết một phần thông
qua việc giảm nhiệt độ da nhờ sự co thắt mạch quản làm giảm sự chênh lệch nhiệt độ giữa cơ thể với môi trường.
Sự lưu thông của không khí được xác định bởi nhiệt hữu hiệu mà con vật cảm nhận được, đặc biệt là trong
điều kiện ẩm kết hợp với tốc độ không khí lớn và khi nhiệt độ không khí thấp. Trong trường hợp đó làm tăng lượng ăn vào.
Tốc độ lưu thông không khí thấp cũng làm tăng lượng khí CO
2
và sự nảy sinh của vi sinh vật.
Theo Close (1989) [7] thay đổi tốc độ gió 0,2m/s tương đương nhiệt độ môi trường 1ºC, còn trong môi trường
nóng, tốc độ tăng độ ẩm tương đối là 15% cũng tương đương tăng nhiệt độ lên 1ºC.
Gió ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới cơ thể gia súc. Chủ yếu là ảnh
hưởng tới quá trình trao đổi nhiệt của nó. Điều đó thể hiện trong việc tăng sự
mất nhiệt bằng bốc hơi và đối lưu. Do vậy khi nhiệt độ không khí cao kết hợp
với gió mạnh thì giảm được quá trình điều tiết nhiệt của cơ thể. Cho nên trong
những ngày nóng nực gió là một yếu tố quan trọng thúc đẩy việc thải nhiệt
lượng thừa ra khỏi cơ thể. Trong trường hợp ngược lại, khi nhiệt độ không khí
thấp kết hợp gió mạnh thì đó là một tác động không có lợi cho cơ thể, nó làm
cho thân nhiệt giảm xuống rất nhanh và lạnh đi.
Tốc độ gió tăng lên thì ảnh hưởng một cách phản xạ đến quá trình trao đổi
chất của cơ thể. Nếu gió mạnh (>20m/s) thì làm rối loạn quá trình hô hấp, làm

- Trên bò sữa: Vương Tuấn Thực và cộng sự (2007), Đoàn Đức Vũ và
cộng sự (2008) .
- Trên bò vàng: Võ Thị Kim Thanh (2008).
- Trên lợn: Nguyễn Văn Phước và cộng sự (2004), Huỳnh Thị Thanh
Thuỷ và cộng sự (2008) .
2.1.4.2. Cách tính THI như thế nào?
Người ta sử dụng nhiệt độ không khí đo bên bầu khô và nhiệt độ không
khí đo bên bầu ẩm (dry- Nilh and wct-bulb air temperatures) để tính toán chỉ số
nhiệt ẩm cho các loài khác nhau. Đối với bò (bài tiết mồ hôi khi có stress nhiệt),
chỉ số này được tính như sau (NRC, 1981) .
THI= (0.35 x nhiệt độ bầu khô) + (0,65 x nhiệt độ bầu ẩm)
Trong khi đó đối với lợn, một loài ít bài tiết mồ hôi, nhiệt độ của bầu ẩm
có trọng số thấp hơn và chỉ số nhiệt ẩm được tính như sau:
THI = (0.65 x nhiệt độ bầu khô) + (0.35 x nhiệi độ bầu ẩm)
Một vài tác giả đã đánh giá ảnh hưởng tổng hợp của nhiệt độ ở nhiệt kế
khô và độ ẩm tương đối bảng chỉ số nhiệt ẩm cho một số loài. Sự liên quan đó
với lợn về bản chất là hai sự tiếp cận riêng biệt. Theo Trung tâm dự báo thời tiết
quốc gia Hoa Kỳ, chi số thứ nhất (trước tiên là cho người nhưng sau đó thay đổi
cho lợn), đã được trình bày bao gồm những hằng số dựa trên những kết quả của
Viện Bảo tồn vât nuôi.Nó được sử dụng để đánh giá giới hạn dựa trên những
11
quan sát tập tính của vậi nuôi trong thời gian nuôi và vận chuyển. Phương trình
cơ bản cho chỉ số thứ nhất là:
I
1
= 0,72t
w
+ 0,72t
d
+40,6

t
w
là nhiệt độ của bầu khô và bầu ướt được tính bằng
0
C.
Hiện nay, THI được sử dụng dưới dạng 2 yếu tố cấu thành là nhiệt độ trên
bầu khô và nhiệt độ trên bầu ẩm qua hàm số dạng:
THI =a*tw + b*td+ c
a= 0,45; b=1,35; c=32 Roller và Goldman (1969),
a=1,53; b=0,27; c=34,07 Fehr và cs (1982) [12],
phương trình hiện đang được sử dụng phổ biến trong việc sử dụng stress để dự
báo mức độ.
Chỉ số nhiệt ẩm thấp khi nhiệt độ không khí thấp và trong trường hợp
nhiệt độ không khí cao thì giá trị THI càng xa nhau.
Với những nỗ lực để thiết lập và cải tiến các chỉ tiêu nhằm lượng hóa
EAT là mục tiêu của các nghiên cứu sau này cho dù hiện tại còn những hạn chế
trong sử dụng.
12
Đa số các tác giả ngoài nước và trong nước ứng dụng phương pháp và công
thức tính toán của Frank Wiersma (1990), dùng đo nhiệt độ và mức độ bốc hơi nước
trong chuồng nuôi (độ ẩm tương đối) rồi tính theo công thức nhiệt kế khô - ướt
THI = nhiệt độ bên khô (
0
F) + [0,36 x nhiệt độ bên ướt (
0
F) + 41,2]
83,6+(0,36*84,2+41,2)10,6
13
2.1.4.3. Bảng tính sẵn chỉ số THI
Bảng tính sẵn chỉ số THI cho lợn (dựa theo Trường Đại học Bang lowa, 2002)

10
8

11
0

Để sử dụng các bảng trên, ta có thể quy đổi
0
F sang
0
C như sau:
14
0
C = (
0
F - 32)/1,8.
Cụ thể:
0
F 75 80 85 90 95 100 105 110 115 120
0
C 23,88 26,66 29,44 32,22 35,00 37,77 40,55 43,33 46,11 48,88
2.1.4.4. Sử dụng THI để cảnh báo stress nhiệt cho gia súc
Với bò: THI <70: thoải mái; THI=72 - 79: cảnh báo; THI = 80 - 89: nguy
hiểm; THI ≥ 90: khẩn cấp
Với lợn: THI < 75: thoải mái; THI = 75 - 78: cảnh báo; THI = 79 - 83:
nguy hiểm; THI ≥ 84: khẩn cấp
Với bò vàng Việt Nam, Võ Thị Kim Thanh (2008) đã phát hiện HSP70
(protein sốc nhiệt 70) ngay khi nhiệt độ chuồng 25
0
C và độ ẩm tương đối 90% .

Trong điều kiện thí nghiệm khó giống như trong thiên nhiên, nhất là đối với một
số yếu tố khí tượng như bức xạ mặt trời,…khó tạo lập trong phòng thí nghiệm.
Do đó cần kết hợp phương pháp phòng thí nghiệm và phương pháp hiện trường
ngoài trời để nghiên cứu về sinh khí tượng vật nuôi [4].
Môi trường mà cụ thể là chuồng trại, nơi tạo ra các điều kiện về ăn uống,
ngủ nghỉ, hoạt động cho gia súc trong quá trình sinh trưởng. Để thẩm định môi
trường chăn nuôi phải xét đến 4 vấn đề: Chất lượng không khí chuồng nuôi;
nhiệt độ chuồng; yếu tố quần thể chuồng trại; chất lượng và số lượng nước.
* Đối với chất lượng không khí, có 4 thành phần: Ammonia, Monoxide
cacbon, độ ẩm chuồng nuôi, bụi chuồng, nếu những yếu tố này vượt quá chỉ tiêu
sẽ rất nhiều nguy hại
+ Ammonia (NH3) là chất được sinh ra từ nước tiểu hay đạm dư thừa
trong phân, nếu hàm lượng trong chuồng đo được 25 phần triệu sẽ gây ra cay
mắt, ho, giảm khả năng chống bệnh; 50 phần triệu lợn sẽ giảm tăng trọng 12%,
gây nhức đầu: 100 phần triệu giảm tăng trọng 30% gây rát họng chảy nước mắt.
Do vậy hàm lượng tối đa cho phép là 25 phần triệu. Để khắc phục khí Ammonia
phải dọn dẹp vệ sinh, di chuyển phân hàng ngày đến nơi quy định có hố ủ, bổ
sung chất Micro aid vào thức ăn để giảm mùi.
+ Monoxide cacbon (CO) là chất sinh ra trong quá trình đốt cháy đặc biệt
từ khí gaz, nếu hàm lượng đo được trong chuồng 50- 100 phần triệu lợn nái sẽ
đẻ ít con và con nhỏ, tỷ lệ con chết lưu cao. Nếu hàm lượng đo được từ 150- 350
phần triệu lợn sẽ giảm ăn 10- 30%, nái chửa sẽ sảy thai, nhiều lợn con chết lưu.
16
Hàm lượng cho phép tối đa là 50 phần triệu, do vậy người chăn nuôi phải
thường xuyên điều chỉnh đèn và bếp gaz, tăng thông thoáng chuồng.
+ Độ ẩm chuồng nuôi, nếu độ ẩm cao từ 80% trở lên sẽ là điều kiện tốt
cho dịch bệnh phát triển, đặc biệt đối với lợn con theo mẹ và sau cai sữa dễ bị
tiêu chảy phân trắng, cần giữ chuồng nền khô ráo, không tắm và cọ rửa nền
chuồng. Nếu độ ẩm thấp quá mức 50%, gây nên khô hanh, làm tăng nồng độ bụi
chuồng, nguy cơ bệnh phổi. Độ ẩm cao ta nên tăng cường độ thông thoáng; nếu

thời kỳ cuối của thai do yêu cầu phát triển của bào thai, nó phải hấp thụ chất
dinh dưỡng từ con mẹ nên con mẹ thường gầy đi. Trong thời gian có chửa hoạt
động của tim, phổi trở nên khó khăn do áp lực của bào thai đè lên xoang bụng và
ngực. Quá trình lưu thông máu, sự hô hấp và bài tiết đều bị ảnh hưởng. Do vậy ở
thời cuối có chửa con vật thường bị phù nề, khó thở và hay đi tiểu tiện, có thể
mệt mỏi.
2.2.2. Tình hình phát triển của thai lợn
Tùy từng giống mà có sự sai khác nhau rất lớn về kích thước của thai và
ngay trong cùng một ổ thì thai cũng có kích thước to nhỏ khác nhau, nhưng
trung bình thì ta thấy như sau:
- Một tháng: thân dài 1,6-18cm, các bộ phận trong cơ thể đã hình thành.
- Hai tháng: 35 ngày thân dài 5cm, 60 ngày thân dài 8cm. Ngoại hình đã
rõ và đã phân biệt được thai đực thai cái.
- Ba tháng: thân dài 14-18cm, mép, tai, đuôi đã có lông tơ nhỏ. Trước khi
lợn đẻ dài 20-25cm, toàn thân phủ lông dày, xương sọ cứng và đã có răng cửa và
răng nanh [3].
2.2.3. Chăm sóc lợn nái mang thai
Chuồng trại: không sử dụng chuồng 2 bậc, mỗi lợn nái được nhốt riêng
một ô chuồng, nhiệt độ trong chuồng luôn đảm bảo từ 22 – 26
o
C, tốc độ lưu
thông gió khoảng 1,2m/s. chuồng luôn được vệ sinh sạch sẻ, khô ráo. Trước khi
đẻ 7 - 10 ngày chuyển lợn mẹ sang chuồng đẻ để cho lợn mẹ làm quen với
chuồng mới. Chuồng phải được vệ sinh khử trùng theo một quy trình khép kín
nhằm đảm bảo chuồng không có vi trùng.
Vệ sinh thú y: định kỳ tẩy giun sán trong thời gian có chửa, tẩy lần cuối
trước khi đẻ 2 tuần và chú ý tắm rửa định kỳ tuần 2 lần, xịt ghẻ, diệt ký sinh
trùng ngoài da trước khi chuyển sang ô chuồng mới.
2.2.4. Hô hấp và tần số hô hấp
18

che nắng, tránh mưa tạt, gió lùa. Phía trước trại được thiết kế một dàn máy làm
19
lạnh kiểu tổ ong để làm mát chuồng nuôi. Phía sau, cuối trại được gắn 4 quạt
máy cỡ lớn liên tục quay để thông gió. Chuồng nuôi có hệ thống biogas (gồm 3
hầm 60m3) để xử lý chẩt thải và tận dụng khí đốt dùng cho sinh hoạt, chạy máy
phát điện với công suất 10 kW/h.
Theo anh Bằng, từ khi có máy phát điện chạy bằng khí gas từ hầm biogas,
các thiết bị dùng điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của gia đình như bơm
nước, đun nấu, thắp sáng, sưởi ấm, làm mát cho heo và các tiện nghi khác đều
hoạt động hết công suất mà điện vẫn ổn định. Việc sử dụng khí gas từ hầm
biogas để chạy máy phát điện có thể giúp gia đình anh tiết kiệm từ 3 - 4 triệu
đồng mỗi tháng. Đây là một khoản tiền không nhỏ đối với đại đa số các hộ nông
dân hiện nay. Hơn nữa, việc sử dụng khí gas từ hầm biogas để chạy máy phát
điện còn góp phần giảm bớt tình trạng thiếu điện như hiện nay. Ngoài ra, nó còn
mang lại sự chủ động trong sản xuất, sinh hoạt ở trại chăn nuôi.
Trung bình 1m3 thể tích hầm biogas sẽ sinh ra khoảng 1m3 gas/ngày. Theo
kết quả khảo sát, lượng gas này sẽ xuất ra 0,5 kw điện, có giá trị 1.250 đ. Như
vậy, sau một năm, 1m3 thể tích hầm biogas sẽ thu được 400.000 - 5 00.000đ.
Nếu là hầm ủ bằng túi nilon (giá khoảng 300.000 - 400.000đ/m3) thì sau hơn 1
năm người dân có thể thu hồi vốn; sau hơn 2 năm nếu là hầm ủ xây bằng xi
măng dạng hình vuông hay hình chữ nhật (giá khoảng 700.000 - 800.000 đ/m3);
và sau hơn 3 năm đối với hầm ủ xây bằng xi măng dạng vòm kiểu Thái Đức
hoặc kiểu KT1 Trung Quốc (giá khoảng 1.000.000 đ/m3).
Hiện tại, trại chăn nuôi heo của gia đình anh có 400 con heo thường xuyên
có mặt trong chuồng, trong đó có 60 heo nái sinh sản, 140 heo hậu bị và 200 heo
thịt. Được bố trí làm 3 khu: khu chăn nuôi heo nái sinh sản, khu nuôi heo con
giống và khu nuôi heo thịt. Nhờ vậy, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đều đạt yêu
cầu. Lợi nhuận thu được sau khi khấu trừ mọi chi phí như lãi ngân hàng, thức ăn
gia súc, khấu hao chuồng trại, điện nước, công lao động,… mỗi năm gia đình
thu được 250 - 300 triệu đồng.

tại trại Phước Bình 1 Công ty CP Việt Nam.
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 02 tháng 01 năm 2012 đến ngày 05 tháng
05 năm 2012.
- Điạ điểm nghiên cứu: đề tài được thực hiện tại trại Phước Bình 1 của Công
ty CP Việt Nam 186 ấp 7 xã Phước Bình huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá sự đồng đều của các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi giữa các
vị trí khác nhau trong chuồng theo chiều cao, chiều dọc, chiều ngang và theo
thời gian trong ngày.
- Xác định sự ảnh hưởng của các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi đến
nhịp thở của heo nái mang thai ở giai đoạn khác nhau: 2-3 tuần, 7-8 tuần và 13-
14 tuần.
3.4. phương pháp nghiên cứu
- Xác định các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi: nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ
gió và chỉ số nhiệt ẩm (THI) bằng máy KESTREL 3000 (hình 3.1).
Hình 3.1. Máy Kestrel 3000
- Phương pháp sử dụng máy được trình bày ở phần phụ lục 1.
- Các vị trí đo tiểu khí hậu chuồng nuôi: các chỉ tiêu được đo ở 4 dãy (dãy
1, 4 5 và 8), mỗi dãy đo ở 3 vị trí (đầu chuồng, giữa chuồng và cuối chuồng),
mỗi vị trí đo ở 2 điểm (điểm trên và điểm dưới).
22
• Đầu chuồng cách dàn mát 4,2m
• Giữa chuồng cách dàn mát 42m
• Cuối chuồng cách quạt 3,8m
• Điểm trên cách sàn 1.6m
• Điểm dưới cách sàn 50-60cm
- Thời gian đo: các chỉ tiêu tiểu khí hậu được đo 4 lần trong 1 ngày: 7-8
giờ, 10-11 giờ, 13-14 giờ và 16-17 giờ.
- Các chỉ tiêu tiểu khí hậu sau khi đo được ghi vào bảng theo dõi kết quả

bình
ngày
Nhiệt độ Trên 26,7±1 28±0,6 27,8±1,2 26,9±1,1 27,3±0,8
Dưới 27,2±0,3 28,1±0,5 28,5±0,7 27,1±1,2 27,7±0,4
TB
*
26,9±0,8 28±0,5 28,1±1 27±1,1 27,5±0,7
P 0,209 0,851 0,191 0,739 0,234
Độ ẩm
(%)
Trên 96,2±1,7 93,3±2,2 92,8±3 94,7±2,9 94,3±1,9
Dưới 94,4±2,1 92,6±1,5 91,6±1,7 93,3±3,2 92,9±1,6
TB* 95,5±2 93±1,9 92,2±2,5 94±3,1 93,7±1,9
P 0,074 0,467 0,353 0,358 0,127
Tốc độ
Gió
(m/giây)
Trên 1,31±0,3 1,26±0,4 1,29±0,3 1,23±0,3 1,29±0,3
Dưới 0,96±0,2 1,02±0,3 1,01±0,1 1,01±0,2 0,99±0,2
TB* 1,14±0,3 1,14±0,4 1,15±0,3 1,12±0,3 1,14±0,3
P 0,011 0,143 0,019 0,117 0,027
THI
Trên 32,8±2,3 35,9±1,7 35,4±2,9 33,3±2,7 34,3±2,1
Dưới 33,9±0,7 35,7±1,4 36±1,9 33,4±2,5 34,8±1,4
TB* 33,3±1,8 35,8±1,5 35,6±2,4 33,3±2,5 34,5±1,7
P 0,240 0,788 0,613 0,982 0,553
TB*: trung bình
Qua bảng 4.1 ta thấy, nhiệt độ trung bình ngày trong chuồng nuôi của trại
Phước Bình 1 là 27,5ºC, độ ẩm trung bình ngày là 93,7%, tốc độ gió trung bình
ngày là 1,14m/giây, chỉ số nhiệt ẩm THI trung bình ngày là 34,5. không có sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status