LỜI NÓI ĐẦU
Có những tuổi thơ êm ấm trong nhung lụa, dịu dàng trong yêu thương, lại
có những tuổi thơ dữ dội trong chiến tranh, cơ hàn, bất hạnh trong cuộc sống đời
thường.
Chiến tranh đã lùi xa qua hơn 1/4 thế kỷ, những vết thương chiến tranh đã dần
dần liền sẹo. Dù đã 20 năm nay, cùng với sự ra đời của Trung tâm Bảo trợ xã hội 4
- Hà Nội chuyên tiếp nhận, chăm sóc, quản lý và giáo dục các đối tợng là trẻ em
lang thang đờng phố, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Song ở đâu đó trên
các trục đờng chính, các nhà ga, bến xe, công viên, vờn hoa… chúng ta vẫn thấy
hiển hiện thơng tâm những hình ảnh bất hạnh của ngày hôm qua. Những nhức nhối,
những hình ảnh thơng tâm ấy vẫn thôi thúc chúng ta trên mỗi chặng đờng, trong
từng giấc ngủ. Đó là những đứa trẻ không cha, không mẹ, không nhà cửa, không
ngời thân, tuổi thơ không đợc cắp sách đến trờng… Đó là những đói rách, bệnh tật,
suy dinh dỡng và cả nguy cơ bóc lột sức lao động, lạm dụng tình dục, sa vào tệ nạn
xã hội… tất cả vẫn đang đeo đẳng trẻ em lang thang, trẻ em mồ côi… trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Để góp phần vào công tác xã hội hoá việc chăm sóc bảo vệ và giáo dục trẻ em,
nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (Trong đó có trẻ em lang thang đ-
ờng phố) nhiều cơ sở bảo trợ xã hội đợc hình thành nhằm huy động sự đóng góp
của các cơ quan nhà nớc, các tổ chức văn hoá, đoàn thể nhân dân, các tổ chức từ
thiện, tổ chức nhân đạo và các tổ chức xã hội khác, của các cá nhân có lòng hảo
tâm trong và ngoài nớc và nguồn viện trợ quốc tế, hỗ trợ cho trẻ em.
Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai, trẻ em phải đợc nâng niu chăm sóc
và lớn lên trong tình yêu thơng. Đó là triết lý, là câu ca, là trách nhiệm không
chỉ của riêng ai. Vì một thế giới ngày mai với triệu triệu nụ cời luôn nở trên môi trẻ
thơ.
Do còn thiếu kinh nghiệm trong việc lĩnh hội thực tế cũng nh kinh nghiệm bản
thân còn hạn chế nên trong báo cáo này sẽ không tránh khỏi những sai sót. Kinh
mong nhận đợc sự nhận xét, đánh giá của các thầy, cô giáo trong Khoa Công tác xã
hội để báo cáo thực tập tốt nghiệp của em đợc hoàn thiện .
1
cơ sở vật chất. Đến nay, Trung tâm Bảo trợ xã hội 4 đã có hệ thống cơ sở vật chất
khá đầy đủ, môi trờng xanh, sạch đẹp, đáp ứng ngày một tốt hơn công tác chăm
sóc, quản lý đối tợng.
Giai đoạn 1987-1996 là giai đoạn mới mang tính bớc ngoặt của Trung tâm.
Các hoạt động chăm sóc, quản lý đối tợng có nhiều bớc chuyển biến mang tính
khởi sắc, Trung tâm Bảo trợ Xã hội đợc tách ra và đổi tên thành Trung tâm Bảo trợ
xã hội 4 - Hà Nội chuyển từ Lĩnh Nam - Thanh Trì - Hà Nội về đóng tại xã Tây
Đằng - Ba Vì - Hà Tây, hệ thống cơ sở vật chất của Trung tâm đã đợc cải thiện
nâng cao. Những năm 1991-1992 Trung tâm chỉ có vài dãy nhà cấp 4 cho đối tợng
ăn ở, sinh hoạt, nay đã xây dựng 2 khu nhà 2 tầng dành riêng cho công tác chăm
sóc, quản lý trẻ em, một nhà ăn và cả khu hội trờng khá rộng rãi. Cùng với việc xây
mới các khu nhà là sự đổi mới phơng pháp chăm sóc giáo dục trẻ, Trung tâm đã
mạnh dạn xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung chuyển sang quản lý theo kiểu mô hình
gia đình nhỏ, bớc đầu đã nâng cao chất lợng nuôi dỡng, quản lý. Kết quả là cả số l-
ợng cán bộ nhân viên và đối tợng tiếp nhận nuôi dỡng đều tăng lên không ngừng.
Từ chỗ chỉ có hơn 10 cán bộ công nhân viên trong suốt 9 năm do ông Nguyễn Văn
Mầu làm Giám đốc, Trung tâm đã tiếp nhận quản lý gần 300 đối tợng trong đó đối
tợng là trẻ em khoảng 150 trẻ (chiếm khoảng 50% số với tổng số đối tợng của
Trung tâm). Đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý đã tăng từ 18 đến 36 cán bộ, đáp ứng
ngày càng đầy đủ hơn những yêu cầu về đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý.
Đến giai đoạn 1996-2009, tổng số đối tợng là trẻ em lang thang do Trung
tâm quản lý nuôi dỡng đã giảm xuống còn 98 trẻ với đội ngũ cán bộ dao động trong
khoảng từ 21 đến 37 ngời do Giám đốc Phạm Quang Thịnh đứng ra chỉ đạo. Trung
tâm đã tiếp nhận, nuôi dỡng 230 đối tợng trong đó có 134 đối tợng là ngời già cô
đơn không nơi nơng tựa, 96 đối tợng là trẻ em mồ côi, lang thang không nguồn
nuôi dỡng. Những khó khăn đã dần dần đợc đẩy lùi, Trung tâm hoạt động ngày
càng hiệu quả và trởng thành dần theo năm tháng. Có thể nói, cho đến nay, Trung
tâm đã hoàn toàn lớn mạnh. Với một đội ngũ công nhân viên chức dày dặn kinh
nghiệm, có tinh thần trách nhiệm cao và cơ sở vật chất khang trang sạch đẹp. Trung
tâm đã cơ bản hoàn thành các nhiệm cvụ được giao, đã giáo dục, giúp đỡ hàng trăm
xã hội lành mạnh văn minh của toàn quốc gia. Trung tâm bảo trợ xã hội 4 có chức
4
năng, nhiệm vụ chính là: Tiếp nhận, quản lý, giáo dục, nuôi dỡng các đối tợng xã
hội thuộc diện cứu trợ xã hội thờng xuyên bao gồm: ngời lang thang xin ăn, trẻ mồ
côi, trẻ bị bỏ rơi không rõ nguồn gốc, mất nguồn nuôi dỡng và các cụ già ốm đau
không nơi nơng tựa, ngời tàn tật lê lết, lang thang đờng phố, trẻ em có hoàn cảnh
gia đình đặc biệt khó khăn của các tỉnh phía Bắc.
Dới sự chỉ đạo trực tiếp của Sở Lao động thơng binh - Xã hội Hà Nội, Trung
tâm Bảo trợ xã hội 4 đã tiếp nhận và hoàn thành sản xuất các nhiệm vụ đợc giao
trong suốt 20 năm qua. Từ ngày thành lập tới nay Trung tâm liên tục tiếp nhận các
nhiệm vụ khác nhau và hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó.
Thời gian đầu thành lập, Trung tâm có nhiệm vụ tổng hợp là quản lý, nuôi dỡng
trẻ em mồ côi, lang thang và ngời già cô đơn không nơi nơng tựa. Đến tháng 11-1998
tiếp nhận khu B diện tích 24 ha của Trung tâm Phục hồi chức năng con liệt sỹ của Bộ
Lao động thơng binh - Xã hội ở Xuân Sơn, thị xã Sơn Tây làm khu B của đơn vị. Đến
tháng 5-1992 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội giao nhiệm vụ: tổ chức tiếp nhận
quản lý ngời lang thang, giúp đỡ họ trở về quê và tổ chức nuôi dỡng 150 trẻ mồ côi, tổ
chức học văn hoá, học nghề, Trung tâm còn tiếp nhận cơ sở may ở Đồng Dầu - Dục
Tú - Đông Anh - Hà Nội làm trạm phân loại đối tợng lang thang. Đến tháng 12-1993
tổ chức thực hiện dự án các gia đình lang thang vô gia c cho 40 hộ vào làm ăn sinh
sống ở làm kinh tế xã hội. Từ tháng 7-1995 thành phố lại bổ xung nhiệm vụ: “nuôi d-
ỡng ngời già cô đơn, tàn tật không rõ nguồn gốc”. Liên tục các năm tiếp theo: 1997-
1999-2009 thành phố tiếp tục bổ xung nhiệm vụ cho đơn vị: “Quản lý giáo dục những
ngời tàn tật, lê lết xin ăn đờng phố, những ngời lang thang từ lần thứ 3. Hớng nghiệp
cho trẻ xin ăn, ép mua ép giá đeo bám khách du lịch”.
Do mấy năm gần đây, tình hình đất nớc có nhiều biến đổi nên số lợng,
cơ cấu, và tình trạng trẻ em lang thang có xu hớng tăng lên. Là một đơn vị của
ngành Lao động Thơng binh xã hội, Trung tâm Bảo trợ cho 4 luôn cố gắng hoàn
thành mọi nhiệm vụ được giao, phấn đấu thực hiện mục tiêu chung: Tăng cường
vận động toàn xã hội tham gia bảo vệ chăm sóc trẻ em đặc biệt là những trẻ em
em lang thang.
- Trong thời gian thực tập, tôi đợc giao nhiệm vụ làm việc tại phòng Giáo dục -
dạy nghề, trực tiếp quản lý trẻ em cùng cán bộ của phòng. Phòng Giáo dục - dạy
6
nghề hiện nay có 14 cán bộ. Trong đó có duy nhất một cán bộ nam, hầu hết đều là
những người có nhiều năm kinh nghiệm, nhiệt tình, tận tụy chăm sóc; dạy dỗ các
cháu. Tuy nhiên, đến nay, cán bộ trong phòng mới có bằng Trung cấp hoặc sơ cấp,
chỉ có duy nhất một cán bộ có bằng đại học lại đang làm trái ngành. Đây cũng là
một khó khăn của Phòng Giáo dục - dạy nghề. Trong thời gian tới phòng phải có ý
kiến, yêu cầu cấp lãnh đạo sắp xếp, bố trí để được đi học, nâng cao trình độ chuyên
môn để đáp ứng nhu cầu chăm sóc đối tợng đạt kết quả cao.
1.3. Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và lao động
1.3.1 Về số lượng lao động
Theo số liệu thống kê, tính đến hết ngày 31/12/2009 thì tổng số cán bộ công
nhân viên của Trung tâm là 55 ngời, và có cơ cấu nh sau: nữ là 30 người chiếm
55% nam 25 người chiếm 45%.
Do yêu cầu và tính chất công việc đòi hỏi số lợng cán bộ nữ phải nhiều nên
số lượng cán bộ nữ của Trung tâm chiếm tới 55%, tập trung chủ yếu ở bộ phận
quản lý trẻ em và bộ phận cấp dưỡng. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ nữ nhiều cũng gây
khó khăn cho việc thực hiện các chế độ ưu đãi đối với lao động nữ như: giải quyết
chế độ ốm đau, thai sản, vệ sinh cuộc sống cá nhân, giảm giờ làm, cắt ca trực cho
lao động nữ mang thai từ đó từ đó dẫn đến thiếu cán bộ nhân viên để chăm sóc
quản lý và nuôi dỡng đối tượng.
Trong số 55 cán bộ công nhân viên có:
02 cán bộ lãnh dạo
15 cán bộ y tế
12 cán bộ cấp dỡng.
26 cán bộ chăm sóc đối tợng <số liệu 12-2009>
Nếu tính bình quân thì:
01 cán bộ lãnh đạo phải quản lý 40 đối tợng.
việc làm tích cực, tạo động lực tinh thần cho toàn thể cán bộ công nhân viên hăng
hái nhiệt tình hơn nữa trong công tác chăm sóc, quản lý đối tợng.
Hiện nay, mức độ phù hợp giữa trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên
và cách bố trí công tác còn cha phù hợp với tính chất và yêu cầu công việc. Thực
tế cho thấy rằng, trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên còn cha cao. Tuy
8
nhiều ngời đã làm việc lâu năm, có kinh nghiệm chăm sóc, quản lý đối tợng nhng
nếu chỉ có thực tế mà không có cơ sở lý luận, không có kỹ năng, không tuân theo
các quy định, các yêu cầu chung… về công tác chăm sóc quản lý giáo dục đối tợng
sẽ là không có hiệu quả cao. Trong khi đội ngũ cán bộ tập trung vào bộ phận trực
tiếp chăm sóc quản lý đối tợng còn quá mỏng, số lợng cán bộ chăm sóc gián tiếp
còn khá đông và đầy đủ. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải tăng cờng, bổ sung thêm cán
bộ trực tiếp chăm sóc cho phòng Giáo dục - Dạy nghề và phòng Y tế - Nuôi dỡng.
Song song với việc tăng thêm số lợng công nhân có chât số lợng cần phải có sự
phân công, sắp xếp một cách hợp lý để các hoạt động diễn ra có hiệu quả.
Bảng phân công lao động theo chuyên môn:
(Đơn vị: người)
Phòng ban
Chuyên môn đào tạo
Hành chính
tổng hợp
Quản lý
trẻ em
Y tế
Nuôi dưỡng
Trên đại học - - -
Đại học - Cao đẳng 1 2 -
Trung cấp - Sơ cấp 5 9 10
Công nhân kỹ thuật 4 1 6
thụ, cây hoa cây cảnh, bồn nớc và cả một hệ thống ghế đá đợc đặt ngay dới gốc
cây… Tất cả đã tạo ra một môi trờng xanh - sạch - đẹp cho toàn Trung tâm. Phía
sau các khu nhà là khu tăng gia sản xuất với vờn cây ăn quả (vải, nhãn, hồng
xiêm…) và vờn rau, ao cá… có diện tích khá rộng, có khả năng đáp ứng đầy đủ các
nhu cầu về rau sạch và hoa quả cho đối tợng trong toàn Trung tâm.
Ngoài hệ thống đờng đi đợc lát gạch và đổ bê tông, từ ngoài cổng Trung tâm
còn có các hành lang khá rộng phục vụ cho các đối tợng đặc biệt là vào những ngày
thời tiết xấu.
Đặc biệt, Trung tâm còn có một khu vui chơi giải trí cho đối tợng là trẻ em
với hệ thống hội trờng, th viện, cầu trợt, đu quay… đáp ứng nhu cầu vui chơi cơ
bản của các em.
Có thể nói, trong điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, nguồn kinh phí còn
hạn hẹp nhng hệ thống cơ sở vật chất của Trung tâm đã khá đầy đủ. Đây là kết
quả của sự nỗ lực cố gắng của toàn thể cán bộ nhân viên Trung tâm, đặc biệt là ban
10
lãnh đạo, đã tranh thủ các nguồn đầu t từ bên ngoài, huy động sức ngời, sức của
xây dựng nên. Với sự cố gắng không ngừng, chắc chắn trong những năm tới cơ sở
vật chất của Trung tâm sẽ đợc cải thiện, nâng cấp hiện đại hơn nữa, đáp ứng các
nhu cầu, nhiệm vụ đặt ra.
1.4.2. Về tình hình xây dựng các khu nhà
Nhìn chung các khu nhà trong Trung tâm đợc xây dựng khá kiên cố bao
gồm cả nhà tầng và nhà cấp 4. Xét về mặt tổng thể, Trung tâm đợc xây dựng và
chia thành 8 khu chính: khu Hành chính; khu Y tế - Nuôi dỡng; khu Quản lý trẻ
em, khu Nhà ở cách ly; khu nhà kho, khu hội trờng th viện và vui chơi giải trí, khu
dạy và học nghề; khu tăng gia sản xuất. Cụ thể nh sau:
Khu hành chính:
Là khu nhà hai tầng khép kín, diện tích tuy không rộng nhng tơng đối khang
trang và phù hợp với quy mô của Trung tâm. Ở đây có phòng của Giám đốc, phó
giám đốc, phòng khách, phòng họp… với tiện nghi khá đầy đủ.
Khu Y tế - Nuôi dưỡng:
khu nhà có tính chất đặc biệt này.
Khu nhà kho:
Có diện tích tương đối nhỏ dùng để chứa các dụng cụ lao động vệ sinh,
tỡnh trạng cá nhân của đối tượng và cả lơng thực thực phẩm dự trữ để chăn nuôi và
tăng gia sản xuất.
Khu hội trờng hoạt động và sân chơi:
Được bố trí ngay giữa Trung tâm với hệ thống hành lang khá rộng và thoáng.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị khá đầy đủ, có khu hoạt động trong nhà và khu thể
thao riêng biệt. Cạnh hội trường lớn dùng làm nơi vui chơi hoạt động của trẻ của trẻ
còn có một hội trường nhỏ dùng làm phòng truyền thống và phòng họp cơ quan…
được trang bị tiện nghi khá đầy đủ. Một diện tích khá rộng và bằng phẳng dùng làm
sân bóng mi ni cho trẻ tổ chức hoạt động, chơi các môn thể thao: bóng đá, cầu lông,
bóng chuyền…
Khu dạy và học nghề:
12
Đây là một lỗ lực và cố gắng lớn của Trung tâm có sự hỗ trợ của các tổ chức
và cá nhân đảm bảo cho các cháu đang tuổi trởng thành có một nghề nghiệp ổn
định, đảm bảo cuộc sống sau này.
Trung tâm hiện nay đang có 4 lớp học nghề: nghề mộc, nghề may, khảm trai
và sửa chữa xe máy. Đây là khu có diện tích nhỏ, cần đợc mở rộng hơn nữa và
đầu t hơn nữa để thuận lợi cho việc tập trung các cháu dễ dàng quản lý các cháu.
Các cháu nữ đợc tham gia các lớp cắt may hoặc đợc học nghề may nón…
Khu tăng gia sản xuất:
Là khu có diện tích rộng nhất đợc bố trí phía sau Trung tâm với một ao cá
nhỏ, một khu chăn nuôi và một khu trồng rau màu, cây ăn quả. Diện tích này đợc
tận dụng tối đa để tạo việc làm cho các cháu ngoài thời gian học tập, vui chơi và
đáp ứng một phần nhu cầu về thực phẩm, rau quả cho đối tợng trong Trung tâm.
1.4.3 Về hệ thống điện nước
Tuy cha có hệ thống điện lưới riêng nhng tình hình cung cấp sử dụng điện
của Trung tâm tương đối tốt, có thể đảm bảo cho các nhu cầu cân thiết về điện sinh
theo học, tỷ lệ học sinh khá giỏi ngày càng cao, năm sau cao hơn năm trớc.
Dựng vợ gả chồng cho 15 em không có ngời thân, hiện các em sống hạnh
phúc và có việc làm ổn định.
Tổ chức việc làm cho đối tợng có khả năng lao động, đẩy mạnh chăn nuôi,
trồng rau, kết quả đã đạt đợc: 70 tấn lợn hơi; 9 tấn cá; 360 tấn rau xanh; 3 tấn vải
thiều; 12 tấn hồng xiêm…
Đơn vị có phong trào văn hoá, văn nghệ, thể thao sôi nổi: 5 lần đạt giải cao
tại liên hoan nghệ thuật trẻ em thiệt thòi ở Hà Nội và tại Liên hoan nghệ thuật của
ngành năm 2004 kỷ niệm 55 năm ngày thơng binh liệt sỹ. Đơn vị đạt danh hiệu cơ
quan văn hoá hàng năm, đội ngũ cán bộ đoàn kết nhất trí, ý thức tổ chức kỷ luật
trách nhiệm cao, có sức khoẻ, trình độ năng lực, khả năng công tác, kịp thời đợc bổ
sung đáp ứng với nhiệm vụ, những tập thể cá nhân lao động giỏi ngày càng tăng.
Chỉ tính từ năm 2000 đến 2004 có:
75 lợt cá nhân lao động giỏi đợc đơn vị công nhận.
22 lợt tập thể lao động xuất sắc đợc thành phố công nhận.
6 cá nhân ngời tốt việc tốt cấp sở và thành phố.
14
Đặc biệt với nhiều lỗ lực và cố gắng, Trung tâm đã đợc các cấp khen thởng
trong những năm qua:
- Năm 1992: Nhận bằng khen của Chính phủ.
- Năm 1993: Cờ thi đua của Uỷ ban nhân dân thành phố.
- Năm 1994: Huân chơng lao động hạng 3.
- Năm 2001: Bằng khen của bộ lao động thơng binh xã hội.
- Năm 2002: Bằng khen của Uỷ ban nhân dân thành phố.
- Năm 2003: Bằng khen của Uỷ ban nhân dân thành phố.
Với những cố gắng của tập thể đơn vị và những kết quả đã đạt đợc, Trung tâm
Bảo trợ xã hội 4 xứng đáng là đơn vị tiêu biểu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cấp
trên giao.
1.6. Các cơ quan tài trợ , đối tác trong quá trỡnh thực hiện an sinh xó hội và cụng
tỏc xó hội.
thành phố cũng nh các phòng, ban nghiệp vụ sở Trung tâm Bảo trợ xã hội 4 đã th-
ờng xuyên phối hợp với các phòng tổ chức xã hội huyện, thành phố, các doanh
nghiệp Nhà nớc và t nhân trong công tác chăm sóc - nuôi dưỡng và giáo dục quản
lý các cháu, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các cháu tái hoà nhập cộng đồng. Tiêu
biểu là các Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội khuyến học, Đoàn thanh niên
Huyện uỷ huyện Ba Vì…
Nhưng tất cả sự giúp đỡ đó chỉ là yếu tố ngoại lực, muốn phát triển và phát
triển bền vững, Trung tâm phải phát huy các yếu tố thuộc về nội lực của mình.
Trung tâm có đội ngũ cán bộ viên chức dày dặn kinh nghiệm với nhiều năm công
tác quản lý dạy dỗ các cháu ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Đặc biệt trong thời
gian vừa qua, cán bộ của phòng giáo dục dạy nghề đã đợc tổ chức đi tập huấn ở
Sơn Tây và Hà Nội. Đây là cơ hội tốt để cán bộ nâng cao đợc trình độ, có khả năng
sáng tạo các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm nâng cao hiệu quả của
các hoạt động và khuyến khích sự tham gia nhiệt tình của các cháu, với tấm lòng
yêu trẻ, say mê nghề nghiệp, tình thương và trách nhiệm, sự hy sinh cao cả, luôn
lấy cái “tâm” làm đầu, các mẹ, các cô, các chị, các bác trong Trung tâm đã thay mẹ,
thay cha các cháu dễ quản lý, nuôi dỡng, chăm sóc, dạy dỗ các cháu nên ngời.
16
Với những thuận lợi cơ bản đó, Trung tâm đã nỗ lực phấn dấu và đạt nhiều
thành tích qua hơn hai mơi năm thành lập và phát triển. Trong thời gian tới, chắc
chắn Trung tâm sẽ phát huy những thuận lợi đó, khắc phục các khó khăn còn gặp
phải và sẽ giành đợc nhiều thành tích xuất sắc hơn nữa, hoàn thành tốt các nhiệm
vụ được giao.
2.1.2 Những khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản nh đã nêu ở trên, Trung tâm Bảo trợ xã hội 4
đang gặp phải một số khó khăn sau:
Hiện tại, tổng số trẻ em trong Trung tâm là khoảng 150 em với cơ cấu phức tạp,
ở độ tuổi từ 3 đến 18 tuổi, đặc biệt còn có 5 cháu là trẻ sơ sinh từ hai đến bốn tháng
tuổi, có những cháu bị tàn tật, bị bệnh tâm thần. Hơn 100 cháu là hơn 100 tính nết,
hơn 100 hoàn cảnh, số phận éo le. Một vấn đề đặt ra là đặc điểm tâm lý của các
ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến một
số cháu trở nên ngang bướng, hay gây gổ, tính tình cục cằn, thô lỗ, khó bảo.
Ngoài những yếu tố ảnh hởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ thì nguồn tài
chính để xây dựng và duy trì các hoạt động của Trung tâm thờng hạn hẹp, hạn
chế nhiều đến chất lợng chăm sóc trẻ.
Một khó khăn lớn đối với Trung tâm hiện nay là vấn đề việc làm cho những em
đến tuổi trưởng thành. Các em thường được đa về địa phương nơi các em ra đi. Một
số địa phương đã làm tốt công tác giúp đỡ các em ổn định cuộc sống. Nhưng nhiều
em, với vốn sống ít ỏi. Không có việc làm, không thu nhập, không biết nương tựa
vào đâu. Đây là một vấn đề nan giải của Trung tâm bởi rất khó huy động nguồn lực
đầu t vào các lớp dạy nghề. Hiện tại các lớp dạy và học nghề của Trung tâm chỉ
hoạt động cầm chừng và kém hiệu quả.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác nuôi dỡng chăm sóc, quản lý và
giáo dục các cháu còn cha đầy đủ. Hiện tại, phòng đọc, phòng học, nhà ăn còn chật
chội, thiếu thốn cần phải được tiếp tục mở rộng và nâng cấp hiện đại hơn.
Giờ giấc làm việc của cán bộ ở Trung tâm còn gò bó, các chế độ chính sách
động viên tạo động lực cho cán bộ nhân viên còn ít đợc đa ra và cha kịp thời. Tuy
thế cho đến nay, vấn đề này đã đợc quan tâm hơn trớc và trong thời gian tới cần đ-
18
ợc Đảng, Nhà nớc và Sở Lao động Thơng binh Xã hội quan tâm theo dõi chỉ đạo
nhiều hơn nữa.
Trình độ của cán bộ công nhân viên cha đồng đều và còn có những hạn
chế nhất định, cần đợc đào tạo bồi dỡng nâng cấp cao hơn nữa để đáp ứng những
yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới hiện nay.
Mặc dù còn có những khó khăn, nhng với tình thơng và trách nhiệm, lòng yêu
trẻ và đức hy sinh cao cả, toàn thể cán bộ viên chức của Trung tâm đã nêu cao tinh
thần trách nhiệm, phấn đấu vơn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ đợc giao.
19
II. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG ASXH Ở
TTBTXH 4 - HÀ NỘI
năm 2007
Tiếp nhận
năm 2009
Trẻ mồ côi 5 5 11 5 9
Trẻ khuyết tật 3 5 2 5 6
Trẻ lang thang 12 16 19 5 11
Tổng số 20 21 32 5 26
20
Năm 2004, Phòng Quản lý trẻ em trực tiếp quản lý: 45 cháu mồ côi, 21 trẻ
khuyết tật và 63 trẻ lang thang.
Trong đó: Phân loại theo giới tính có:
- Nam : 93 em
- Nữ : 36 em
Nếu phân loại theo độ tuổi thì có:
- Từ 1-10 tuổi : 25 em
- Từ 11-16 tuổi : 83 em
- Từ 16-18 tuổi : 21 em.
Nếu phân loại theo trình độ văn hoá:
- Học Tiểu học : 37 trẻ
- Học THCS : 24 trẻ
- Học THPT : 8 trẻ.
Hiện nay, Phòng Giáo dục - Dạy nghề đang trực tiếp quản lý khoảng 150 cháu.
Nếu phân loại theo giới tính thì có:
- Nam : 105 em
- Nữ : 45 em.
Nếu phân loại theo độ tuổi thì:
- Từ 0 đến dới 1 tuổi : 5 em
- Từ 1-10 tuổi : 85 em
- Từ 11-16 tuổi : 25 em
Ngoài ra, hàng năm, Trung tâm đã tổ chức cho 100% các em đi học văn hoá,
riêng một số cháu không đủ điều kiện đến trờng, đơn vị đã phối hợp với các trường
ở địa phương mở lớp học xoá mù chữ tại Trung tâm. Từ năm 1999 đến năm 2004
có 160 em đợc đi học văn hoá. Hàng năm, tỷ lệ học sinh tiên tiến đạt trung bình
10%, có 3 em thi đỗ đại học, 1 em đạt giải nhì thi học sinh giỏi môn tiếng Anh tỉnh
Hà Tây.
Cùng với việc học văn hoá, công tác hướng nghiệp - dạy nghề cho các em hàng
năm cũng đợc quan tâm đặc biệt nhằm tạo cơ hội cho các em hội nhập cộng đồng.
Bằng các dự án viện trợ phi Chính phủ. Đơn vị đã tổ chức cho nhiều em học nghề
22
mây tre đan xuất khẩu, 40 em học nghề may, 20 em học nghề sửa chữa xe máy, 25
em học nghề mộc…
Năm 1999 - 2000, xởng may của Trung tâm đã may đợc 4.000 màn cá nhân,
6.000 chiếc quần cộc cho xí nghiệp sản xuất kinh doanh ngời tàn tật. Năm 2001,
Trung tâm may đợc 1.500 sản phẩm phục vụ trang cấp cho đơn vị và hai Trung
tâm bạn.
Năm 2000 - 2004, Trung tâm đã liên kết với Trung tâm giới thiệu việc làm
Trung ơng đoàn, đào tạo đợc 20 em học nghề cơ khí hàn nguội. Trong 4 năm 2002
- 2004 Trung tâm đã đa đợc 60 em về học tại trờng THKT Kinh tế Du kịch Hoa sữa
(ở Lĩnh Nam, Thanh Trì, Hà Nội) và đã giải quyết cho 65 em trở về tái hoà nhập
cộng đồng nh: đi làm tại các doanh nghiệp Nhà nớc, doanh nghiệp t nhân hoặc do
địa phương đón về… Có nhiều cháu đạt mức lơng tà 700.000 - 1.000.000đ/tháng.
Không có cháu nào quay trở về con đường lang thang hoặc có hành vi ảnh hởng tới
uy tín của Trung tâm và địa phương.
Hiện nay, Trung tâm đang mở lớp đào tạo nghề cho 20 em nh học sửa chữa xe
máy, 15 em học nghề mộc, 15 em học may bằng nguồn tài chính do tổ chức A.C
Thụy Điển tài trợ.
Ngoài những hoạt động về dạy văn hoá, dạy nghề, hàng năm, Trung tâm còn tổ
chức tốt các hoạt động văn hoá thể thao nh: có đội bóng đá nhi đồng tham gia thi
đấu tại huyện, giao lu văn hoá của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Hà
ngời trồng cây”, từ đó giúp các em có dịp tìm hiểu thêm về truyền thống anh hùng
bất khuất của ông cha.
Đồng chí Giám đốc Trung tâm vốn là một cựu chiến binh trở về sau những năm
tháng chiến tranh khốc liệt. Bác rất vinh dự và tự hào khi đợc sống, chiến đấu trong
những năm tháng đầy gian khổ nhng hào hùng của toàn dân tộc. Bác đã xúc động
kể lại cho các cháu nghe những câu chuyện truyền thống, những giây phút lịch sử
hào hùng của cha anh và những chiến công vĩ đại các anh đã ghi tên. Qua đó, các
em có dịp sống lại với những năm tháng gian nan đầy oanh liệt của dân tộc Việt
Nam ta, khơi dậy lòng yêu nớc, tinh thần đoàn kết và tinh thần dũng cảm vợt lên
hoàn cảnh của các em. Từ đó, các em thêm gắn bó, yêu thơng lẫn nhau, ngoan
24
ngoãn vâng lời, chăm chỉ học tập cùng xây dựng Trung tâm ngày một trởng thành
vững mạnh.
3. Tình hình thực hiện chính sách , chế độ theo quy định của Nhà nước
Là một đơn vị hành chính sự nghiệp, Trung tâm Bảo trợ Xã hội 4 nghiêm túc
thực hiện các quy định tại Luật Lao động và các điều lệ Bảo hiểm, về chế độ đối
với viên chức. Toàn thể cán bộ công nhân viên trong biên chế của Trung tâm đợc
đóng bảo hiểm xã hội. Ngoài 55 cán bộ trong biên chế, hiện nay tại Trung tâm đang
có 5 lao động hợp đồng thử việc, tuy cha đợc đóng Bảo hiểm xã hội nhng vẫn đợc
tham gia bảo hiểm y tế và đợc tính trả đầy đủ các khoản trợ cấp, phụ cấp.
3.1. Tỡnh hỡnh thực hiện chớnh sỏch theo quy định của nhà nước.
Hàng tháng Trung tâm đã trích 17% tổng quỹ lương của toàn đơn vị để đóng
Bảo hiểm xã hội. Đây cũng chính là một cách tạo động lực trong lao động của
Trung tâm.
Do đặc điểm tính chất công việc, Trung tâm có đội ngũ cán bộ nữ khá đông
đảo chiếm tới 50% tổng số cán bộ công nhân viên toàn Trung tâm. Vì thế Trung
tâm đã nghiêm chỉnh thực hiện các chế độ đãi ngộ đối với lao động nữ đã đợc quy
định trong luật lao động, Điều lệ Bảo hiểm xã hội nh: Chế độ con ốm mẹ nghỉ, chế
độ thai sản, thờng xuyên thăm khám sức khoẻ định kỳ, tham gia đóng đầy đủ các
loại BHYT, BHXH. Ưu tiên cho lao động nữ về thời gian làm việc, thời gian nghỉ