I. MỞ ĐẦU.
Dư luận xã hội được coi là những trạng thái đặc trưng của ý thức xã
hội. Tính đặc trưng của dư luận xã hội thể hiện ở chỗ nó không tồn tại như
một dạng độc lập với các trạng thái ý thức xã hội như chính trị, tôn giáo,
khoa học, nghệ thuật,…mà nó xuyên suốt trong các dạng ý thức xã hội đó.
Dư luận xã hội không phải là bản thân chính trị, thế nhưng nó có mặt và
hoạt động tích cực trong hành vi, ý thức chính trị của cá nhân. Dư luận xã
hội không phải là khoa học nhưng chúng ta có thể gặp nhiều tình huống dư
luận xã hội lên tiếng về những vấn đề khoa học như việc nhân bản vô
tínhcon người, vấn đề sinh học, hay sự nóng lên của trái đất…
Dư luận xã hội tồn tại từ lâu đời cùng với xã hội loài người, được xem
là có trước cả pháp luật, có tác dụng là phương tiện giáo dục, định hướng
và điều chỉnh hành vi. Khi nói đến dư luận xã hội người ta thường nghĩ đến
những đánh giá của cộng đồng đối với những sự kiện xã hội nhất định.
Những đánh giá này dù có chủ định hay không chủ định nhằm tới một ai,
song ai cũng xem đó là một cách đánh giá mà mình cần phải xem xét mỗi
khi hành động.
Sự hình thành của dư luận xã hội diễn ra theo nhiều cách, bằng nhiều
con đường đã khiến dư luận xã hội trở thành một thực thể trung gian mang
thông tin có ý nghĩa đối với sự tồn tại của cộng đồng và ảnh hưởng rất lớn
đối với các cá nhân và các nhóm trong xã hội. Chính vì thế, những hiểu
biết về dư luận xã hội là rất cần thiết và hữu ích. Để hiểu rõ về dư luận xã
hội và có cách nhìn đúng đắn về các sự vật, hiện tượng mà nó đề cập đến
thì ta cần nắm được các tính chất cơ bản của nó. Từ đó mới có thể rút ra
được những thông tin, những quan điểm đúng đắn để đưa vào thực tế. Điều
này rất quan trọng vì nó có ảnh hưởng lớn đến cách nhận thức của con
1
người ra sao và tác động của nó tới ý thức pháp luật của mỗi người như thế
nào?. Sau đây em xin phân tích các tính chất cơ bản của dư luận xã hội để
làm rõ được các vấn đề đó.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
hội về một hiện tượng bạo hành trẻ em xảy ra trong xã hội.
Ngoài ra, tính khuynh hướng cũng biểu thị sự thống nhất hay xung đột
của dư luận xã hội. Xét theo các mức độ tán thành hoặc phản đối được nêu ở
trên, nếu đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng hình chữ U thì biểu thị sự
xung đột; còn nếu đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng chữ J thì biểu thị sự
thống nhất. Đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng chữ U khi trong xã hội có
hai loại quan điểm mâu thuẫn, đối lập nhau về cùng sự kiện, hiện tượng, quá
trình xã hội nào đó đều có tỉ lệ số người ủng hộ cao. Ví dụ như về vấn đề
trường chuyên hiện nay ở cả nông thôn hay thành thị đều xuất hiện hai quan
điểm. Quan điểm thứ nhất là của phụ huynh học sinh có con em đến độ tuổi
đi học, họ đều rất muốn cho con em mình vào học tại các trường chuyên bởi
lẽ họ luôn nghĩ rằng học trường chuyên sẽ tốt hơn, có điều kiện phát triển
hơn so với các trường bình thường. Vì thế, họ đua nhau thậm chí tranh giành
nhau để có được một suất trong trường chuyên. Quan điểm thứ hai là của các
nhà giáo am hiểu về giáo dục hoặc đang làm việc tại các trường bình thường
thì không muốn có tình trạng học lệch hoặc tình trạng bất công giữa các
trường, gây ra nghịch cảnh trường thì quá tải vì quá đông học sinh, trường
thì lại quá ít. Chính từ hai quan điểm này mà nền giáo dục nước ta gặp phải
nhiều rắc rối và dẫn đến những tiêu cực không đáng có.
3
Mặt khác, nếu đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng chữ J thì tức là
trong xã hội có một loại quan điểm (tán thành hoặc phản đối) có tỉ lệ số
người ủng hộ cao mà thôi, điều đó biểu thị sự thống nhất cao trong dư luận
xã hội. Ví dụ như dư luận xã hội đối với vấn đề lạm phát, tham nhũng ở Việt
Nam hiện nay. Hẳn ai cũng biết rõ, nước ta đang có tỉ lệ lạm phát rất cao so
với toàn thế giới, tình trạng tham nhũng diễn ra ở hầu hết các nơi trên cả
nước. Dư luận xã hội đang lên tiếng phản đối rất mạnh mẽ về vấn đề này.
Dư luận thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để thể hiện tiếng nói
của mình. Việc hình thành hoặc thể hiện dư luận trên hệ thống thông tin đại
chúng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng sẽ tạo sức ép lên những cơ
nhân qua ý kiến nhóm để hình thành dư luận xã hội là một quá trình biện
chứng. Sự phát triển các tầng ý kiến này sẽ quy định cường độ của dư luận
xã hội về một hiện tượng xã hội nào đó. Tính lợi ích của dư luận xã hội được
nhìn nhận trên hai phương diện là lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần.
Lợi ích vật chất được nhận thức rõ nét khi các hiện tượng diễn ra
trong xã hội có liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh tế và sự ổn định cuộc
sống của đông đảo người dân. Một khi trong xã hội diễn ra những sự việc
hiện tượng, mà sự có mặt của nó có ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế, sức khỏe,
…của người dân, vượt quá sức chịu đựng của họ thì lúc ấy dư luận xã hội sẽ
lên tiếng, đấu tranh để lấy lại lợi ích của mình. Thực tế đã cho thấy rõ điều
này, thời gian gần đây Chính phủ đưa ra quyết định tăng giá gas, giá xăng
dầu đã khiến cho cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn. Không
những thế, các điểm bán xăng lẻ lại tự ý nâng giá hay đóng cửa chờ thời
điểm tăng giá mới bán. Nhưng việc này đã khiến cho dư luận xã hội có
5
nhiều bức xúc cho rằng việc sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu không công
khai, minh bạch và yêu cầu Chính phủ và các cơ quan chức năng phải có
những hành động cụ thể để giải quyết vấn đề. Hay một ví dụ khác cũng thể
hiện rõ nét tính lợi ích của dư luận xã hội đó là vấn đề tham nhũng, thái độ
đồng tình với các chủ trương của Chính phủ trong việc giải quyết dứt khoát,
không tránh né dù đối tượng tham nhũng giữ cương vị, trọng trách cao đến
đâu, cũng có nghĩa rằng nhu cầu công bằng xã hội được nhiều nhóm xã hội
ủng hộ.
Cùng với đó, lợi ích tinh thần cũng được đề cập khi các vấn đề, các sự
kiện đang diễn ra đụng chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội,
phong tục tập quán, khuôn mẫu hành vi ứng xử văn hóa của cộng đồng xã
hội hoặc của cả dân tộc. Người Việt Nam cũng như nhiều dân tộc, quốc gia
trên thể giới đều có những nét đẹp riêng, những văn hóa riêng, những phong
cách lối sống của riêng mình được coi là truyền thống và đều muốn giữ gìn
và phát huy nó ngày càng tốt đẹp hơn. Vì thế, khi có những hiện tượng xã
được các nhà xã hội học rất quan tâm. Cơ sở của bất kì hành vi tập thể nào
cũng là hiệu ứng phản xạ quay vòng, trong đó khởi điểm từ cá nhân hay
nhóm xã hội nhỏ sẽ gây nên chuỗi các kích thích của các cá nhân khác,
nhóm xã hội khác. Để duy trì được chuỗi kích thích này luôn cần có các
nhân tố tác động lên cơ chế hoạt động tâm lý của cá nhân và nhóm xã hội.
Đối với dư luận xã hội các nhân tố tác động đó có thể coi là các thông tin
bằng các hình ảnh, âm thanh sống động trực tiếp, có tính thời sự. Dưới tác
động của các luồng thông tin này, các nhóm công chúng khác nhau sẽ cùng
được lôi cuốn vào quá trình bày tỏ sự quan tâm của mình thông qua các hoạt
động trao đổi, bàn bạc, tìm kiếm thông tin, cùng chia sẻ thông tin của với
7
người xung quanh. Chính nhờ tính chất này mà dư luận xã hội có sức lan tỏa
rất nhanh trên phạm vi rộng khắp. Một sự việc diễn ra cách đây không lâu đó
là “hiện tượng thánh vật trên sông Tô Lịch”. Sự việc bắt đầu trong quá trình
nạo vét sông Tô Lịch của đội thi công số 12 thuộc Công ty xây dựng VIC đã
phát hiện ra nhiều di vật cổ, những cây cọc gỗ được chôn đứng, những bộ
hài cốt…và sau đó ít lâu cũng xảy ra rất nhiều sự kiện ngẫu nhiên, gây kinh
hoàng cho toàn đội thi công số 12, bản thân và gia đình, những người thân
của thợ thi công tham gia trực tiếp vớt hài cốt, nhổ cọc dưới lòng sông liên
tục bị tai nạn thảm khốc…Từ đó, người ta cho rằng tất cả những điều đã xảy
ra là do bị “thánh vật”. Rồi các clip, hình ảnh liên tục được đưa lên báo chí,
thậm chí có cả trong chương trình thời sự chiếu trên ti vi. Ngay lập tức,
thông tin này đã được lan truyền đi khắp các tỉnh thành, ai ai cũng biết đến
và làm dậy lên một làn sóng dư luận xã hội về hiện tượng này. Thái độ của
dư luận xã hội cũng rất lưỡng lự, không biết đâu là thật, đâu là giả, gây ra
tình trạng lo lắng, sợ hãi đối với đông đảo người dân, đặc biệt là những
người dân sống quanh sông Tô Lịch. Có thể thấy sự tác động của các luồng
thông tin là rất lớn, nó ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của dư luận xã hội
đối với các sự kiện, hiện tượng diễn ra trong cuộc sống. Đặc biệt, đối với các
sự kiện lớn của đất nước như tình trạng chiến tranh, các cuộc bầu cử, hay
dân Việt Nam.
Ngược lại với tính bền vững tương đối, dư luận xã hội cũng rất dễ bị
biến đổi. Cái mới lúc đầu chỉ được số ít thừa nhận và do đó dễ bị đa số phản
đối. Nhưng ý kiến của đa số sẽ nhanh chóng, dễ dàng thay đổi khi cái mới
vươn lên khẳng định mình trong cuộc sống. Tính biến đổi của dư luận xã hội
thường được xem xét trên hai phương diện.
9
Thứ nhất, biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa: sự phán
xét, đánh giá của dư luận xã hội về bất kì sự kiện, hiện tượng hay quá trình
xã hội nào cũng phụ thuộc vào các hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội đang
tồn tại trong nền văn hóa của cộng đồng người. Với cùng sự kiện, hiện tượng
nhưng dư luận xã hội của các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự
đánh giá, phán xét khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau đó là do
phong tục tập quán ở mỗi nơi một khác. Điều này thấy rất rõ giữa các dân
tộc ở Việt Nam, chẳng hạn như phong tục tảo hôn của một số dân tộc miền
núi, nó được thực hiện một cách bình thường nhưng đối với dân tộc Kinh thì
đó lại là một hiện tượng xấu, gây ra nhiều hậu quả không tốt cho xã hội và
cần phải loại bỏ. Hay một ví dụ khác như quan hệ tình dục ngoài hôn nhân
dễ dàng được chấp nhận ở các nước Châu Âu, Bắc Mĩ mà lại bị phản đối
mạnh mẽ thậm chí bị trừng phạt theo luật lệ tôn giáo ở Trung Đông, Ấn Độ,
coi đó là một hành vi đi ngược lại với đạo đức con người.
Thứ hai, biến đổi theo thời gian: Cùng với sự phát triển của xã hội,
nhiều giá trị văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán có thể bị thay
đổi ngay trong cùng nền văn hóa xã hội, dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn
nhận, đánh giá của dư luận xã hội. Ví dụ, trong xã hội phong kiến, quan
niệm trọng nam khinh nữ diễn ra rất phổ biến, thậm chí nó còn trở thành một
tư tưởng in hằn trong tiềm thức của người dân Việt Nam xưa. Con trai rất
được coi trọng còn con gái thì bị hạ thấp và thậm chí còn bị tước đi một số
quyền vốn có của mình. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng thay đổi và tiến bộ
hơn, nam nữ được bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trong xã hội, người
tương đối trong khả năng phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội có thể
được nhìn nhận dưới ba khía cạnh:
Đầu tiên, dù có đúng đến mấy thì dư luận xã hội vẫn có những hạn
chế, do đó, không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức của dư luận xã hội.
Dù có sai đến mấy thì trong dư luận xã hội vẫn có những hạt nhân hợp lý
không thể coi thường được. Ví dụ như tình trạng lấy chồng ngoại quốc của
phụ nữ Việt Nam hiện nay. Đây là một hiện tượng bị dư luận xã hội phê
phán, cho rằng đó là một hình thức buôn bán phụ nữ trắng trợn. Tuy nhiên,
cũng cần phải suy xét đến những nguyên nhân của rất nhiều trường hợp lấy
chồng nước ngoài chỉ vì hoàn cành gia đình quá khó khăn, muốn lấy chồng
để phụ giúp cho gia đình, như vậy thì việc lấy chồng nước ngoài là một việc
làm hợp lý.
Thứ hai, chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất
phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận cả đa số cũng đúng hơn dư
luận của thiểu số. Chẳng hạn như, từ xa xưa, trong khi rất nhiều người cho
rằng Mặt trời quay quanh Trái Đất thì nhà bác học Galile đã khẳng định rằng
Trái Đất quay quanh Mặt Trời, tuy nhiên lại không được xã hội thừa nhận.
Mãi về sau này, khi nhiều nha khoa học chứng minh thì mới đc thừa nhận
chân lý đó.
Thứ ba, đối với những vấn đề trừu tượng, phức tạp, dư luận của giới
tri thức, của những người có trình độ học vấn cao thường chín chắn hơn so
với những người có trình độ học vấn thấp. Ví dụ như đối với các chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước là những vấn đề hết sức phức tạp và mang
tầm vi mô. Những người có học vấn thấp thì sẽ chỉ nhìn thấy những cái
trước mắt, những ảnh hưởng trước mắt của nó đến bản thân mình, Tuy nhiên
đối với các nhà trí thức, có tầm hiểu biết rộng thì lại xem xét nó một cách
toàn diện hơn, và có những đánh giá chính xác hơn.
12
6. Tác động của dư luận xã hội đến ý thức pháp luật.
Ý thức pháp luật là hiện tượng mang tính giai cấp, xuất hiện cùng với
tưởng, quan điểm pháp luật. Với từng thời điểm cụ thể, từng giai cấp thống
trị cùng với những quan điểm, tư tưởng của giai cấp đó và nếu như ý chí của
giai cấp cầm quyền có nhiều nét tương đồng với dư luận xã hội của các tầng
lớp nhân dân thì dư luận xã hội sẽ tác động mạnh mẽ và tích cực tới sự hình
thành, phát triển và phổ biến hệ tư tưởng trong xã hội.
Như vậy có thể nói, dư luận xã hội với tư cách là một hiện tượng
thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội luôn có tác động mạnh mẽ đến
hệ tư tưởng pháp luật.
b. sự tác động của dư luận xã hội đến tâm lý pháp luật.
Tâm lý pháp luật hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm,
cảm xúc, tâm trạng của các cá nhân và các nhóm xã hội đối với pháp luật,
cũng như những hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời sống xã hội. Tâm lý xã
hội thường chỉ biểu hiện cấp độ nhận thức thông thường dựa trên cơ sở tình
cảm pháp luật truyền thông, kin nghiệm sống, tập quán và tâm lý xã hội.
Ảnh hưởng của dư luận xã hội đến tâm lý pháp luật thể hiện trên các phương
diện sau:
Một là, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến tâm lý pháp luật, góp
phần định hướng cho sự hình thành tình cảm pháp luật tích cực, đúng đắn
của mỗi công dân.
Hai là, dư luận xã hội tác động tới tâm trạng của con người trước luật
pháp. Tâm trạng của con người trước luật pháp là sự thể hiện trạng thái tâm
lý của các cá nhân trước các sự kiện, hiện tượng pháp lý diễn ra trong xã hội
thường ngày. Những tâm trạng đó được bộc lộ trong nội dung các phán xét,
14
đánh giá của dư luận xã hội. Dư luận xã hội có thể động viên, khích lệ, khơi
gợi niềm tin của các thành viên trong xã hội tin tưởng vào sự công bằng
nghiêm minh của pháp luật.
Ba là, thông qua dư luận xã hội, các cá nhân tự đánh giá về hành vi
ứng xử của mình trong phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hiện
hành. Điều đó cho thấy, dư luận xã hội luôn có tác động tới ý thức tự giác
3. Tính lan truyền………………………………………………… 7
4. Tính bền vững tương đối và tính dễ biến đổi………………… 9
5. Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế xã hội
của dư luậ xã hội……………………………………………………
11
6. Tác động của dư luận xã hội đến ý thức pháp luật……………. 13
a. Sự tác động của dư luận xã hội đến hệ tư tưởng pháp
luậ…………………………………………………………………….
13
b. Sự tác động của dư luận xã hội đến tâm lý pháp
luật……………………………………………………………
14
III. Kết thúc………………………………………………………… 15
17