so sánh nghi lễ đám cưới của các quốc gia đông nam á - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
Châu Á là châu lục lớn nhất và đông dân nhất thế giới, bao gồm 50 quốc gia.
Nhắc đến châu Á là nhắc đến một vùng Viễn Đông đầy bí ẩn và lãng mạng. Và khi
nói đến đám cưới người châu Á, chính sự khác biệt về vị trí địa lý, sự đa dạng,
phong phú của các nền văn hóa, các truyền thống, tập quán và tôn giáo đã biến
những đám cưới ở đây trở thành những lễ hội đặc biệt luôn tuân theo những tập tục
truyền thông, vừa thiêng liêng lại vừa nhộn nhịp, tràn đầy sắc màu và đậm đà bản
sắc dân tộc.
Không giống như người phương Tây, đám cưới của người châu Á, dù ở bất
kì quốc gia nào, cũng đều có những hình ảnh, biểu tượng truyền thống tượng trưng
cho dân tộc, cho cội nguồn, thể hiện niềm tự hào, lòng biết ơn đối với tổ tiên, ông
bà mình. Người châu Á rất coi trọng hôn nhân, coi hôn nhân là một dịp lễ trọng đại
của đời người. Vì vậy đám cưới của họ thường được tổ chức rất long trọng sau một
thời gian dài chuẩn bị kĩ lưỡng và thường kéo dài nhiều hơn một ngày.
Bài tiểu luận này chỉ tập trung đề cập đến việc tổ chức hôn lễ của một vài
quốc gia châu Á. Đó là: Hàn Quốc, Nhật Bản và Lào với mong muốn sẽ giúp cho
người đọc hiểu thêm về một số tập quán thú vị trong đám cưới của người châu Á.
1
Phần I : Đám cưới ở Hàn Quốc
1. Trước lễ cưới
Tại Hàn Quốc, hôn nhân giữa nam và nữ đồng nghĩa với việc kết nối hai gia
đình, chứ không chỉ đơn thuần là kết nối hai cá nhân với nhau. Với ý nghĩa đó, sự
kiện này được gọi là Taerye – Đại Lễ, và mọi người thân quen đều đến tham dự.
Lễ cưới được tổ chức linh đình và vô cùng trang trọng với nhiều thủ tục, nghi lễ
kéo dài và cầu kì. Chịu ảnh hưởng của giá trị Khổng Giáo truyền thống, nghi thức
kết hôn tại Hàn Quốc khá dài dòng và phức tạp.
a) Eui Hon (Mai mối)
Tiến trình tìm kiếm người vợ hoặc chồng tương lai cho con cái trong nhà
thường phải nhờ đến các nhà mai mối, họ sẽ thu thập thông tin từ những cô gái -
chàng trai theo dòng dõi gia đình, học vấn hay đẳng cấp xã hội sao cho tương
xứng. Người làm mai mối sẽ kết nối cho các cặp vợ chồng tương lai và định ngày

tố nam giới; còn gọi là âm và dương. Thông thường, lễ thành hôn diễn ra vào lúc
chạng vạng, đại diện cho sự cân bằng giữa ánh sáng ban ngày và bóng tối ban
đêm. Màu xanh tượng trưng cho Eum còn màu đỏ tượng trưng cho Yang.
Kireogi (Uyên ương - cặp ngỗng dại)
Một đôi ngỗng dại làm từ gỗ đại diện cho tân lang và tân nương. Trong nghi
thức Jeonanrye của lễ cưới, chú rể đưa một con ngỗng gỗ kireogi cho nhạc mẫu
của mình. Ngỗng tượng trưng cho nhiều quy tắc mà đôi vợ chồng mới phải tuân
theo trong đời sống hôn nhân của họ:
- Ngỗng dại chỉ có một bạn đời trong suốt cuộc sống của mình. Ngay cả khi 1 con
chết, con còn lại sẽ không bao giờ tìm bạn đời mới.
3
- Ngỗng dại là loài vật hiểu rõ ràng tôn ti trật tự. Ngay cả khi bay trên bầu trời,
chúng vẫn duy trì đúng cơ cấu và sự hài hòa tuyệt đối.

Gà trống và gà mái được bọc lại bằng vải xanh và vải đỏ được đặt ngồi trên hoặc
dưới bàn hôn lễ. Mào gà trống đánh dấu sự khởi đầu của một ngày mới, sự khởi
đầu tươi sáng như ý nghĩa của cuộc hôn nhân bền vững. Tiếng gáy của gà trống
còn báo hiệu cho quỷ dữ biết rằng ngày đã đến và chúng phải mau biến mất khỏi
thế giới này. Chú gà trống trong lễ cưới đánh dấu niềm hy vọng rằng các linh hồn
ma quỷ sẽ phải tránh xa, không làm phiền cặp vợ chồng mới cưới.
Ý nghĩa thứ hai đại diện cho niềm hy vọng rằng cặp vợ chồng mới cưới sẽ có
nhiều con cái - điều rất quan trọng trong xã hội nông nghiệp truyền thống
Cuối cùng ngày hôn lễ cũng đã đến. Các thành viên trong gia đình và dân
làng lân cận đều đến để xem cử hàng lễ cưới.
2. Trong và sau lễ cưới
Lễ cưới diễn ra với nhiều nghi thức, từ việc đi đứng cho đến phong cách cúi
chào đều rất lễ nghi:
 Ch'inyoung (Diễu hành)
4
Theo nghi thức truyền thống, hôn lễ diễn ra bên nhà gái. Chú rể thường cỡi

6
Sau lễ cưới, chú rể sẽ phải đến nhà cô dâu và ở lại đó 3 ngày trước khi đón cô dâu
về nhà mình.
Phần II : Đám cưới ở Nhật Bản
Thanh niên của Nhật Bản dù có tân tiến, hiện đại đến mấy vẫn luôn tổ chức
lễ cưới theo truyền thống dân tộc. Khái niệm về nghi lễ và hôn nhân tại Nhật tuy
có một vài thay đổi để phù hợp nhưng vẫn duy trì những sắc thái cổ truyền.
1. Trước lễ cưới
Sau khi hai bên đã thống nhất đi đến hôn nhân, nakodo sẽ đứng ra tổ chức
một nghi lễ đính hôn gọi là Yuinou. Nghi lễ này có lịch sử gần 1400 năm từ thời
thiên hoàng Nintoku, và được phổ biến rộng rãi vào cuối thời Edo.
Trong lễ Yuinou, cả hai gia đình gặp nhau tại bàn tiệc, trao đổi quà tặng và ăn
mừng chuẩn bị cho lễ cưới sắp tới. Thông thường nhà trai sẽ nộp tiền và lễ vật
tượng trưng cho sự may mắn như kombu (rong biển- tượng trưng cho sự phát đạt
của con cháu về sau) . Nhà gái sẽ tặng lại một món quà tương đương phân nửa giá
7
trị lễ vật mà họ nhận. Ngày nay, lễ này càng bị lược bỏ, thay vào đó chàng trai
tặng cô gái chiếc nhẫn đính hôn và cô gái tặng lại một món quà.
Hai gia đình sẽ trao đổi những món quà gọi là Yuinouhin tượng trưng cho
may mắn và hạnh phúc. Các món quà khác nhau tuỳ theo tục lệ riêng từng vùng,
nhưng thường là số lẻ và có thể lên đến 9 món quà. Ngoài obi cho cô dâu và
hakama cho chú rể, một vài món quà thường thấy là:
(Surume) cá khô để thể hiện ước
muốn về hạnh phúc dài lâu
(Tomoshiraga) ước mong cho cô dâu
chú rể sẽ hạnh phúc đến già
(Yanagidaru) bình rượu tượng trưng
cho gia đình hạnh phúc
(Suehiro) cái quạt để cầu mong sự
thịnh vượng cho gia tộc

Sau nghi thức này, gia đình hai bên sẽ cùng nâng chén để đánh dấu sự hoà
hợp không chỉ của hai vợ chồng mới cưới mà còn là của hai gia đình. Các nhạc
công được mời đến sẽ chơi những bản nhạc truyền thống trên các nhạc cụ cổ như
đàn và sáo. Sau khi các nghi lễ này kết thúc, hai vợ chồng sẽ thực hiện công việc
cuối cùng là tiếp đón bạn bè, khách khứa đến dự bữa tiệc cưới.
Sau tiệc cưới, cô dâu và chú rể dâng hoa đôi bên cha mẹ tỏ lòng biết ơn đấng
sinh thành đã cho họ một nửa của đời mình.
Phần III : Đám cưới ở Lào
1. Trước lễ cưới
Theo tập tục của người Lào, sau hôn lễ chú rể phải về ở nhà cô dâu. Người
Lào gọi tục lệ này là “Vivahamongkhon”, người Việt gọi là “gửi rể”.
Con gái Lào, từ 16 tuổi trở lên, được tự do tiếp bạn trai tại nhà, có thể cùng bạn
trai đi dự các buổi lễ (Bun), hội chợ (Ngan) trong hay ngoài làng. Tình cảm nam
nữ nảy nở cũng từ sự giao thiệp cởi mở trong khuôn khổ lễ giáo đó. Người Lào
quan niệm vấn đề nam nữ như Cát với Nước, cát với nước tự nhiên thu hút nhau
qua tiếp xúc, giao tế. Còn người Việt Nam thì cho rằng chuyện tiếp xúc giữa trai
gái giống như Lửa với Rơm, do đó mà mới có câu “lửa gần rơm lâu ngày cũng
bén”.
11
2. Trong và sau lễ cưới
Phong tục cưới xin của người Lào gồm các tục lệ sau:
 Tục Bắn Tin (Thạp Tham): bố mẹ chàng trai nhờ ông bà mai đưa tin cho
cha mẹ cô gái về ý định của mình. Và tuy tự do, cởi mở nhưng cô phù-
sáo (thiếu nữ Lào) cũng vùng vằng e lệ, đỏ mặt ngượng ngùng khi cha mẹ
trực tiếp hỏi mình “chịu” hay “không chịu”. Thường thì các cô gái Lào sẽ
trả lời : con không biết, con không lấy chồng đâu, con sẽ ở vậy với cha
mẹ suốt đời. Điều này đồng nghĩa với việc cô gái đồng ý với lời dạm hỏi.
o Lễ vật ăn hỏi của người Lào gọi là Khà Đoòng. Dĩ nhiên số lượng cao
thấp là do tài thương lượng của ông bà mai với bố mẹ cô gái. Ở thành
phố, phần vật liệu thách cưới thường được tính bằng tiền hay vàng ta.

o Hai Pha-khoắn trong ngày cưới đặc biệt hơn thường lệ , nhiều khi cao
tới 7 hay 9 tầng có chu vi bằng cả thước và có cả tiền lẫn vàng. Hoa
Champa thì được thế bằng DDooocHac (hoa cau).
o Nghi lễ Su-khoắn phải được diễn ra nơi trang trọng nhất trong nhà,
thường là phòng khách, nhân dịp này nó lại được lau chùi, dọn dẹp kĩ
hơn, bày biện mỹ thuật đẹp mắt hơn nên trông rất sang trọng. Người
được mời làm chủ lễ theo lẽ là các vị sư song thực tế thường là do một
Chan hay một Thít tức tu sĩ đã hoàn tục. Rồi trong khung cảnh đông
đủ mà trang nghiêm, mọi người hiện diện xung quanh Pha-khoắn đều
chắp tay trước ngực hay trước trán còn vị chủ lễ ngồi xấp bằng trên
thảm, an vị theo hướng tốt đã chọn kỹ, đối diện người được hân hạnh
nhận lễ Su-khoắn, bắt đầu cất tiếng Suột Môn (tụng kinh).
o Trong mỗi cuộc hôn nhân, theo phong tục Lào, có tất cả 3 lễ Su-
khoắn:
- Do gia đình nhà trai tổ chức riêng cho chú rể.
- Do gia đình nhà gái tổ chức riêng cho cô dâu.
14
- Do hai gia đình sui gia cùng tổ chức.
o Bài kinh cầu trong buổi lễ thứ nhất và thứ hai có nội dung tốt đẹp gần
giống nhau, nhắc nhở cô dâu chú rể về công đức sinh thành của bố
mẹ,… Bài kinh trong buổi lễ thứ ba có nội dung đặc thù cho tình
nghĩa vợ chồng, bổn phận dâu rể Trước mâm Pha-khoắn, chú rể ngồi
bên phải, cô dâu ngồi bên trái.
 Cuối cùng là lễ đưa rể: theo phong tục thì cuộc đưa chồng về nhà vợ
được tổ chức sau ngày làm lễ Su-khoắn .
o Đến giờ lành, phái đoàn nhà trai – tuyệt đối không được có bà góa hay
người đã li dị - mang lễ vật đã được đôi bên thỏa thuận đến nhà gái. Hai
Pha-khoắn nói trên đã được mang đến nhà gái từ trước.
o Phái đoàn nhà trai tiến dần về hướng nhà gái trong tiếng reo hò, lăm,
khắp, xởng (các điệu hát, hò đặc biệt của Lào) hòa lẫn âm thanh của các

gặp gỡ, tiếp xúc, làm quen với nhau, tǎng cường giao tiếp, mở rộng các mối quan hệ
xã hội. Đến với đám cưới là đến với một sinh hoạt vǎn hoá lành mạnh không thể
thiếu trong cuộc sống mỗi con người và cả cộng đồng người châu Á nói chung.
Có thể nói, hôn lễ đã trở thành một nét văn hóa tinh thần không thể thiếu của
toàn bộ người dân châu Á. Một bài nghiên cứu về châu Á sẽ không trọn vẹn nếu
thiếu đi việc tìm hiểu các phong tục cưới hỏi ở châu lục này.
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status