BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM VÕ THỊ THÙY MINH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ
TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC QUỐC
GIA ĐÔNG NAM Á LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM VÕ THỊ THÙY MINH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
TÓM LƯỢC
1. GIỚI THIỆU 1
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 4
3. DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1. Các biến nhân tố tác động lên khả năng thu hút FDI 20
3.2. Dữ liệu nghiên cứu 25
3.3. Mô hình nghiên cứu 25
3.4. Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1. Mô hình hồi quy Pooled OLS 28
3.4.2. Mô hình hồi quy hiệu ứng cố định 29
3.4.3. Mô hình hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên 30
3.4.4. Các phương pháp kiểm định 31
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 35
4.1. Thống kê mô tả 35
4.2. Kết quả ước lượng 39
5. KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FDI : u tư trc tip nưc ngoài
FEM : Mô hình hiu ng c nh
GDP : Tng sn phm quc ni
nhân tố lên khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia Đông Nam Á
và xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng.
Tác giả đã thiết lập mô hình hồi quy đa biến nhằm xem xét tác động của các yếu
tố quy mô thị trường, sự ổn định kinh tế và triển vọng tăng trưởng, tỷ giá thực, chỉ số
cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại, tích lũy tài sản gộp và mức độ ổn định chính trị của
một quốc gia lên khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia
khu vực Đông Nam Á. Dữ liệu được thu thập cho 9 nước Đông Nam Á, bao gồm Việt
Nam, Campuchia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Lào, Philippines, Indonesia và
Brunei, được lấy từ World Bank’s World Development Indicators, dữ liệu hàng năm từ
năm 2001-2012. Riêng chỉ số xếp hạng mức độ ổn định chính trị được lấy từ World
Bank’s Worldwide Gorvernance Indicators. Sử dụng phần mềm EVIEWS để phân tích
dữ liệu bảng bằng phương pháp bình phương bé nhất với các mô hình hồi quy Pooled
OLS, hồi quy hiệu ứng cố định và hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên và phương pháp FGLS
(Feasible Generalized Least Square) nhằm xác định mối liên hệ giữa biến phụ thuộc và
các biến độc lập có trong mô hình nghiên cứu.
Kết quả cho thấy rằng quy mô thị trường, triển vọng tăng trưởng, cơ sở hạ tầng,
tích lũy tài sản gộp và độ ổn định chính trị của một quốc gia là những nhân tố tác động
cùng chiều lên khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia tại khu
vực Đông Nam Á.
T khóa: FDI, u tư trc tip nưc ngoài
1
Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
Khu vực Đông Nam Á trong những năm gần đây thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài ngày càng tăng mạnh. Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu
vực này chiếm trong tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu cũng ngày
càng tăng. Tuy có bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính, nhưng đây cũng xu
từ đó thu hút nhiều hơn nguồn vốn đầu tư chảy vào. Chính vì lẽ đó mà đề tài
“Nghiên cu các nhân t tác ng n kh năng thu hút u tư trực tiếp nước
ngoài của các quốc gia Đông Nam Á” được thực hiện.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài của các quốc gia Đông Nam Á. Cụ thể là tìm hiểu tác động của
các nhân tố gồm quy mô thị trường, sự ổn định kinh tế và triển vọng tăng trưởng, tỷ
giá thực, chỉ số cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại, tích lũy tài sản gộp và mức độ ổn
định chính trị của một quốc gia lên khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của
quốc gia đó. Từ đó, tìm ra các đề xuất phù hợp cho chính sách thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài của các quốc gia Đông Nam Á.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu mối quan hệ giữa khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
với các nhân tố tác động, bài viết sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng bằng
phương pháp bình phương bé nhất với các mô hình hồi quy Pooled OLS, hồi quy
hiệu ứng cố định và hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên và phương pháp FGLS (Feasible
Generalized Least Square).
3
1.4. Phm vi và i tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa khả năng thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài với các nhân tố gồm quy mô thị trường, sự ổn định kinh tế và triển vọng
tăng trưởng, tỷ giá thực, chỉ số cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại, tích lũy tài sản
gộp và mức ổn định chính trị của các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Phạm vi và thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trên các quốc gia
Đông Nam Á. Số liệu được lấy từ World Bank’s World Development Indicators và
World Bank’s Worldwide Gorvernance Indicators từ năm 2001-2012.
1.5. Đóng góp của đề tài
- Tổng kết các nghiên cứu trước đây về các nhân tố tác động lên khả năng
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
quan trọng nhất chảy vào các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát
triển. FDI giải quyết được hai thử thách chủ yếu của các nước, đó là, sự thiếu hụt
nguồn tài chính và kỹ năng công nghệ và bí quyết quản lý.
Sự thiếu hụt nguồn tài chính rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát
triển của một nền kinh tế. Vốn đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước,
đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động. Từ đó tạo tiền đề tăng thu
nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội.
5
Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì hậu
quả khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Đặc biệt FDI
là nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho các
nước nhận đầu tư.
Việc thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp
thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và
phát triển qua nhiều năm. Tuy nhiên, việc nắm bắt các công nghệ và bí quyết quản
lý đó tốt hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
FDI hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua việc đem đến cơ hội tiếp xúc với
công nghệ mới, tiên tiến và hiệu quả hơn, tạo ra nhiều việc làm, cải tiến cơ sở vật
chất và gia tăng hiệu quả sản xuất của nền kinh tế nước nhận đầu tư.
Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia sẽ tham gia ngày càng
nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế. Để hội nhập vào nền kinh tế thế
giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với
sự phân công lao động quốc tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của nước nhận đầu tư
phù hợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
đầu tư nước ngoài. Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh
quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Bởi vì, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở các nước nhận
đầu tư. Bên cạnh đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp vào sự phát triển nhanh chóng
trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năng
hội. Những đất nước có tình hình kinh tế, chính trị xã hội ổn định, ít bạo động là
7
điểm đến của các nhà đầu tư thuộc nhóm này. Việt Nam có thể là một ví dụ điển
hình.
FDI được phân ra làm hai loại: FDI định hướng thị trường và FDI định
hướng xuất khẩu. Đối với loại FDI định hướng thị trường, nhân tố quan trọng nhất
thu hút FDI chính là quy mô và tỷ lệ tăng trưởng của nước nhận đầu tư. FDI định
hướng xuất khẩu chủ yếu tìm kiếm tính hiệu quả sản xuất (OECD, 2000).
Việc hiểu rõ những động lực và các nhân tố chính tác động lên khả năng thu
hút FDI sẽ hướng dẫn cho những lựa chọn chính sách đúng đắn nhằm thu hút dòng
đầu tư chảy vào các quốc gia.
2.1.2. Tình hình FDI toàn cầu và khu vực Đông Nam Á
Xét trên toàn thế giới, FDI từ mức trung bình hàng năm 142 tỷ USD trong
những năm 1985 – 1990 lên hơn 836 tỷ USD năm 2001, đến năm 2007, FDI đã đạt
mức 2 nghìn tỷ USD (UNCTAD, 2013). Tuy nhiên, từ sau năm 2007 có sự sụt giảm
về FDI toàn cầu do khủng hoảng tài chính thế giới mà thấp nhất là năm 2009, lượng
FDI toàn cầu chỉ còn 1,2 nghìn tỷ USD (UNCTAD, 2013).
Sau khủng hoảng tài chính, FDI có sự phục hồi nhẹ, năm 2010 đầu tư trực
tiếp nước ngoài toàn cầu đạt 1,4 nghìn tỷ USD; năm 2011, FDI toàn cầu tăng lên
đến 1,6 nghìn tỷ USD; tuy nhiên, năm 2012 có sự sụt giảm 18%, chỉ còn 1,3 nghìn
tỷ USD trong năm này (UNCTAD, 2013). UNCTAD dự báo trong tương lai mức
FDI sẽ tăng lên, một khi các điều kiện vĩ mô được cải thiện và các nhà đầu tư lại
tiếp tục tin tưởng. Đồ thị FDI toàn cầu từ 2004-2012 và dự báo cho giai đoạn 2013-
2015 được trình bày trong hình 2.1. 8
Sự phân bố FDI trong khu vực Đông Nam Á thể hiện trong hình 2.4.
Singapore hiện đang là nước dẫn đầu về tỷ trọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào khu vực Đông Nam Á. Tuy tỷ trọng này có giảm mạnh do khủng hoảng
tài chính thế giới, nhưng nhìn chung luôn dẫn đầu và ổn định qua các năm, chiếm
trên 50% lượng vốn FDI đổ vào khu vực. Thái Lan giai đoạn đầu xếp thứ 2 về tỷ
trọng thu hút vốn FDI, tuy nhiên càng về sau tỷ trọng này càng giảm và Indonesia
đã vượt lên.
11 Hình 2.4: S phân b FDI khu vc ông Nam Á, giai on 2001-2012
Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu trên unctad.org
Malaysia cũng là một điểm đến thu hút các nhà đầu tư, đến năm 2012,
Malaysia xếp thứ 3 về tỷ trọng thu hút vốn đầu tư FDI. Brunei, Campuchia,
Myanmar, Lào và Đông Timor là nhóm xếp thấp nhất, hầu như tỷ trọng của những
nước này trong khu vực là không đáng kể. Tỷ trọng thu hút vốn FDI của Việt Nam
thuộc dạng trung bình trong khu vực này, dao động quanh mức 7-8%. Trong hai
năm FDI toàn cầu bị ảnh hưởng nhiều nhất là 2008 và 2009, tỷ trọng thu hút vốn
FDI của Việt Nam lại đạt mức cao nhất. Điều đó cho thấy, sự ổn định của nền kinh
tế Việt Nam đã giữ chân các nhà đầu tư nước ngoài tốt hơn các nước khác.
12
2.2. Tng quan các nghiên cu trước đây về các nhân tố tác động lên khả năng
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trên thực tế, đã có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động đến khả
năng thu hút FDI, qua những thời kỳ khác nhau, và qua nhiều nền kinh tế khác
nhau. Mỗi một nghiên cứu tìm ra một số các nhân tố có ảnh hưởng đến khả năng
thu hút FDI, có một số nhân tố ở nghiên cứu này thì tác động có ý nghĩa thống kê
nhưng ở nghiên cứu khác thì lại không có. Nỗ lực của bài viết này nhằm hệ thống
gia này bị tác động bởi yếu tố chi phí vốn hơn là do yếu tố chi phí lao động, và do
nhu cầu xuất khẩu hơn là nhu cầu trong nước.
Wang và Swain (1995) sử dụng phương pháp hồi quy OLS để nghiên cứu
các yếu tố ảnh hưởng lên dòng FDI chảy vào Hungary và Trung Quốc từ năm 1978-
1992. Kết quả cho thấy quy mô thị trường có tác động cùng chiều lên FDI, trong khi
đó, chi phí vốn có tác động ngược chiều. Ngoài ra, tác giả còn tìm thấy một số ít
bằng chứng về tác động của rào cản thuế quan và các biến về nhập khẩu.
Bevan và Estrin (2000) sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng và hồi
quy hai bước để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến FDI của các nền kinh tế
chuyển đổi khu vực Trung và Đông Âu từ năm 1994-1998. Các tác giả đã tìm ra
rằng khoảng cách và chi phí lao động có tác động ngược chiều với FDI, trong khi
quy mô thị trường (GDP), xếp hạng rủi ro quốc gia tác động cùng chiều lên FDI.
Thêm vào đó, các tác giả còn tìm thấy rằng xếp hạng rủi ro quốc gia chịu ảnh hưởng
bởi sự phát triển của khu vực tư nhân, sự phát triển của ngành, cán cân tài khóa,
tổng dự trữ và tham nhũng.
14
Nghiên cu của Asiedu (2002) sử dụng dữ liệu bảng của 71 quốc gia đang
phát triển, trong đó một nửa là các quốc gia nghèo nhất châu Phi – SSA, các nước
còn lại gọi là non-SSA, từ 1988-1997 để tìm hiểu xem liệu các nhân tố tác động đến
FDI chảy vào các nước đang phát triển có tương đương với tác động ở các nước
SSA hay không. Tác giả tập trung vào ba biến giải thích chính: suất sinh lợi đầu tư,
sự phát triển cơ sở hạ tầng và độ mở thương mại và kết luận rằng sự tác động lên
FDI ở châu Phi có sự khác biệt. Suất sinh lợi đầu tư cao và sự phát triển cơ sở hạ
tầng tác động cùng chiều lên FDI của nhóm nước non-SSA nhưng lại không có ý
nghĩa đối với nhóm nước SSA. Ngoài ra, độ mở thương mại có tác động cùng chiều
lên FDI của nhóm nước SSA, nhưng tác động này thấp hơn so với tác động lên FDI
của nhóm non-SSA. Có sự khác biệt như vậy bởi vì đầu tư vào châu Phi khá là rủi
ro. Tác giả cũng đề xuất các nước châu Phi cần tự do hóa chính sách thương mại,
thực hiện cải cách để thuyết phục sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài.
động của các biến truyền thống, kết quả còn cho thấy tác động của các nhân tố
chuyển đổi. Mức độ tư nhân hóa đo bằng thị phần tư nhân có tác động cùng chiều
lên FDI. Rủi ro quốc gia cũng có tác động có ý nghĩa thống kê lên FDI cho thấy
rằng tính không ổn định của hệ thống luật pháp, chính trị và môi trường kinh tế là
một nhân tố quan trọng tác động lên khả năng thu hút FDI.
Nunes và các cộng sự (2006) nghiên cứu các nước Mỹ La tinh và tìm thấy
quy mô thị trường, độ mở thương mại, cơ sở hạ tầng, sự ổn định kinh tế vĩ mô (lạm
phát), lương, nguồn nhân lực và nguồn tài nguyên là các nhân tố tác động lên FDI
chảy vào từ năm 1991-1998. Cụ thể là, quy mô thị trường, cơ sở hạ tầng và lạm
phát có tác động cùng chiều, trong khi đó, chi phí lao động có tác động ngược
chiều.
Nghiên cứu của Sahoo (2006) sử dụng đồng liên kết và GLS để xác định các
nhân tố tác động lên khả năng thu hút FDI ở các nước Nam Á, từ năm 1975-2003.
Tác giả tìm thấy rằng quy mô thị trường, tỷ lệ tăng trưởng của lực lượng lao động,
cơ sở hạ tầng và độ mở thương mại là các nhân tố tác động lên việc thu hút FDI.
Tác giả cũng đề xuất những nước này cần duy trì đà tăng trưởng để cải thiện quy
16
mô thị trường, sử dụng lao động dư thừa tốt hơn, tăng cường mở cửa thương mại,
phát triển cơ sở hạ tầng để thu hút FDI nhiều hơn nữa.
Demirhan và Masca (2008) nghiên cứu trên 38 quốc gia đang phát triển từ
năm 2000-2004 nhằm tìm ra các nhân tố tác động lên FDI chảy vào những nước
này. Kết quả tìm thấy các nhân tố có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê
gồm tốc độ tăng trưởng GDP đầu người, số lượng điện thoại cố định và độ mở
thương mại. Tỷ lệ lạm phát và thuế suất có tác động ngược chiều và có ý nghĩa
thống kê.
Ahmad và Malik (2009) sử dụng dữ liệu bảng của 35 quốc gia đang phát
triển, từ năm 1970-2003. Các tác giả đã xem xét 6 biến nhân tố tác động lên FDI
gồm GDP, thu nhập đầu người, đầu tư trong nước, độ mở thương mại, tỷ giá và giáo
tích lũy tài sản gộp tác động như thế nào lên lượng FDI chảy vào các nước khối
BRICS. Các tác giả tìm được kết quả rằng quy mô thị trường cụ thể là GDP, cơ sở
hạ tầng có tác động cùng chiều lên FDI, ngược lại chi phí lao động, tỷ giá hối đoái
thực và tích lũy tài sản gộp tác động ngược chiều lên FDI. Ngoài ra, biến triển vọng
tăng trưởng và độ mở thương mại có tác động cùng chiều lên FDI nhưng không có
ý nghĩa thống kê, trong khi biến lạm phát thể hiện cho sự ổn định của nền kinh tế có
tác động ngược chiều lên FDI nhưng cũng không có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu
cũng đề xuất các nghiên cứu tiếp theo tìm hiểu các biến liên quan đến sự cạnh tranh
trong khu vực của các quốc gia cũng như với nước đầu tư như các nhân tố rủi ro
hay chính sách điều hành.
Azam và các cộng sự (2011) thực hiện nghiên cứu nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở 7 nước Nam Á qua 12 năm từ 1996-2007. Nghiên cứu tập trung tìm
hiểu các nhân tố thể chế và các nhân tố chính sách vĩ mô tác động lên FDI như thế
nào bằng phương pháp dữ liệu bảng. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số chính sách
thể chế và chính sách kinh tế vĩ mô tác động cùng chiều lên FDI. Các chính sách vĩ
mô được nghiên cứu bao gồm chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và chính sách
18
tự do hóa thương mại. Các chính sách kinh tế vĩ mô yếu kém sẽ làm giảm lượng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào các nước Nam Á.
Sichei và Kiyondo (2012) sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng động
(dynamic panel data) trên mẫu 45 nước châu Phi từ 1980-2009 để xác định các nhân
tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài. Kết quả cho thấy FDI được giải thích
tốt bởi khả năng tích lũy của nền kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP thực và sự có sẵn
nguồn tài nguyên. Tất cả đều có tác động cùng chiều lên đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Các tác giả cho rằng tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tác động cùng chiều lên FDI
là do nhà đầu tư tìm kiếm thị trường chọn những nước có tỷ lệ tăng trưởng cao vì
điều đó đảm bảo cho khả năng sinh lợi của dự án đầu tư. Quốc gia có nguồn tài
nguyên thiên nhiên thu hút các nhà đầu tư tìm kiếm nguồn lực. Nguồn lực hiện dư
thừa chưa khai thác nhiều ở châu Phi chính là động lực thúc đẩy vốn đầu tư trực