Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
Thực trạng nghề nông ở các hộ gia đình vùng ven khu công nghiệp (Khảo sát
địa bàn xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương)
1. Thực trạng nghề nông qua cơ cấu nghề nghiệp của người dân xã Ai Quốc
Không thể phủ nhận những ảnh hưởng to lớn của công nghiệp hoá và hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn nhằm làm thay đổi bộ mặt của nông thôn Việt Nam
cũng như bộ mặt kinh tế-văn hoá- xã hội của cả nước. Những tác động đó là không
nhỏ tới nếp sống, làm việc, sinh hoạt của người dân những vùng này. Đặc biệt, cơ
cấu việc làm của người dân có đất thuộc diện quy hoạch của Nhà Nước để xây
dựng các khu công nghiệp đã có sự thay đổi nhất định so với trước khi có chính
sách thu hồi đất. Hơn hết đối với người nông dân thì sự thay đổi này quả thật có tác
động vô cùng to lớn với họ.
Thực trạng phân công lao động trên địa bàn xã Ái Quốc trong những năm
vừa qua cho thấy những thay đổi rõ rệt, nhất là tạo bước ngoặt trong phân công và
sử dụng lao động, từng bước giải phóng sức lao động của con người làm cho người
lao động thực sụ trở thành chủ thực sự, tự quyết định trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình trên cơ sở lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ, và bên
cạnh đó cũng xuất hiện nhiều hình thức hợp tác tự nguyện kinh doanh theo hướng
tổng hợp phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp. Bên cạnh các nghề khác, nghề
nông vẫn đóng vai trò khá lơn trong cơ cấu lao động-việc làm của toàn xã. Bảng số
liệu dưới đây sẽ cho ta cái nhìn khái quát về tình hình việc làm nói chung cũng như
nghề nông nói riêng của người dân xã Ái Quốc:
1
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
Bảng 1: nghề nghiệp hiện nay của người trả lời
Nghề nghiệp Số người Tỷ lệ (%)
Thuần nông 350 42.8
Hỗn hợp 242 29.6
Phi nông 225 27.6
Tổng 817 100
Nghề nông vẫn chiếm một tỷ lệ khá cao trong cơ cấu nghề nghiệp của người
chỉ nuôi lợn thôi, cũng là để có thêm đồng ra đồng vào. Giờ cô nuôi ít hơn so với
trước chỉ 10 đến 12 con là cùng. Vì cô cũng không có nhiều thời gian, còn phải
bán hàng, rồi cơm nước, con cái nữa. Nói chung là trăm công nghìn việc. Tuy
không bằng trước nhưng cũng vẫn là một nghề tạo được thu nhập đáng kể, góp
phần ổn định cuộc sống.
(Phỏng vấn sâu cô N.T.H, 42 tuổi, trình độ học vấn:PTTH)
Đây là nguồn thu chính của nhà bác còn các khoản khác như là tiền
thương bệnh binh, tiền trách nhiệm (trưởng thôn), tiền hưu cũng trợ giúp thêm
cho chi tiêu, sinh hoạt hàng ngày.
Như tôi được biết thì còn có rất nhiều gia đình trong xã chăn nuôi và lấy
nghề này là nghề chính của họ. Hơn thế hình thức rồi quy mô và chủng loại
cũng đa dạng hơn trước, nhiều hộ nuôi cả ba ba, cá và các thủy sản khác.
( ông L.V.T, 50 tuổi, trình độ học vấn: PTTH)
Có thể thấy một thực tế rõ ràng qua sự đánh giá về công việc hiện tại của hơn
800 người ở xã Ai Quốc thì thực trạng là số người vẫn tiếp tục duy trì cũng như
phát triển nghề nông là một con số không nhỏ. Tuy quy mô và loại hình có thể
không như trước nhưng đây thực sự vẫn là một nghề đóng góp lớn vào thu nhập
của người dân trong xã. Đây là một vấn đề không nhỏ của các cấp chính quyền xã
cũng như tỉnh nhằm đẩy mạnh tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của toàn
tỉnh Hải Dương.
3
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
Bảng thống kê sau sẽ giúp ta đánh giá sâu hơn về quy mô của nghề nông
trong cơ cấu ngành nghề của xã Ai Quốc:
Bảng 2: Sự phát triển quy mô nghề nông ở các hộ
Nghề nông Mở rộng (%) Thu hẹp(%) Bỏ hẳn (%)
Lúa 5.4 60.0 34.6
Hoa màu 12.3 21.3 66.4
Chăn nuôi gia súc 39.1 17.8 43.1
Chăn nuôi gia cầm 23.1 21.2 39.7
triệu
Từ 10-
< 20
triệu
Từ
20-<
30
triệu
Từ
30-<
40
triệu
Từ
40-
<50
triệu
Từ 50
triệu
trở lên
Tổng
Thuần
nông
TS (người)
46 96 75 46 25 62 350
Tỷ lệ (%)
13.2 27.4 21.4 13.1 7.2 17.1 100
Hỗn
hợp
TS (người)
1 1 2 4 0 2 10
nghề mũi nhọn của tỉnh. Đó là điều kiện tiên quyết tạo nguồn thu nhập đáng kể và
cuộc sống ổn định cho người dân trong quá trình xây dựng và phát triển các khu
công nghiệp.
Tóm tắt mục 1: Thực tế qua điều tra các hộ gia đình xã Ai Quốc cho
thấy cơ cấu lao động việc làm của người dân sau khi có chính sách thu hồi đất
đã có những sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động ở khu vực
nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động ở khu vực công nghiệp và dịch vụ, buôn
bán,… Tuy nhiên còn một sbộ phận không nhỏ những hộ gia đình vẫn duy trì
và phát triển nghề nông, vẫn coi nghề nông là nghề tạo thu nhập chính cho
hộ. Bên cạnh đó thì có một số ít người dân rơi vào tình trạng thất nghiệp và
hiếu việc làm bởi lẽ lĩnh vực lao động công nghệp dịch vụ đòi hỏi một trình độ
tay nghề, chuyên môn nhất định ở người lao động.
2. Các yếu tố tác động đến sự thay đổi nghề nghiệp của người có đất chuyển
giao cho khu công nghiệp
6
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
Hải Dương nằm giữa vùng tam giác động lực kinh tế phía Bắc (Hà Nội – Hải
Phòng – Quảng Ninh) đã và đang “đột phá” vào phát triển công nghiệp và dịch vụ,
mở rộng đô thị hoá để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng CNH, HĐH
cùng cả nước sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Một trong những mục tiêu
trọng tâm của tỉnh là phát triển khu, cụm công nghiệp nhằm đẩy mạnh CNH,HĐH
tạo tiền đề vững chắc cho phát triển lực luợng sản xuất tiên tiến trong xu thế hội
nhập và toàn cầu hoá, đáp ứng các mục tiêu tạo đà tăng trưởng công nghiệp, tăng
khả năng thu hút đầu tư , đẩy mạnh nguồn hàng xuất khâủ, tạo việc làm và từng
bước phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tiết kiệm đất sử dụng có hiệu quả vốn
đầu tư phát triển hạ tầng. Đồng thời còn thúc đẩy các cơ sở sản xuất, dịch vụ cùng
phát triển, làm cơ sở cho việc phát triển các đô thị công nghiệp, phân bố hợp lý lực
lượng sản xuất. Tỉnh đã huy động mọi tiềm lực và thế mạnh của mình nhằm đạt
được mục tiêu trên phấn đấu đưa cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp, thuỷ sản- công
nghiệp, xây dựng- dịch vụ đạt: 25.3%- 44.7%- 30%, tạo việc làm mới cho khoảng 3
lượng
%
Thuần nông
282 49.4 56 30.4 11 18.3
Hỗn hợp
152 26.6 71 38.5 18 30.1
Phi nông
137 25.0 57 31.9 31 51.6
Tổng
571 100 184 100 60 100
Nhìn vào bảng tương quan ta có thể thấy rõ rằng phần đông số lao động có
trình độ học vấn dưới THPT và THPT làm nghề nông. Có 49.9% người lao động có
TĐHV dưới THPT và có 30.4% THPT làm nghề nông trong khi chỉ có 18.3% số
lao động có TĐHV trên THPT làm nghề này. Mặt khác lại có tới 51.1% số lao
động có TĐHV trên THPT làm nghề phi nông trong khi chỉ có 25.0% lao động có
TĐHV dưới THPT làm nghề này. Như vậy một thực tế rất hợp lý là ở trình độ phổ
thông thì đa phần người dân lựa chọn cho mình nghề nông. Bởi đây là nghề đòi hỏi
trình độ học vấn, tay nghề không cao, phù hợp với năng lực của họ. Nhất là trong
thời điểm tiến hành xây dựng các khu công nghiệp thì việc phải có trình độ học
vấn, chuyên môn kỹ thuật nhất định là điều hết sức cần thiết. Trong khi đó những
người nông dân quen nếp làm việc của nhà nông, chủ yếu làm việc tay chân khó có
thể đáp ứng được những đòi hỏi mà các khu công nghiệp đặt ra. Do vậy dù có
những chính sách, chủ trương hỗ trợ việc làm cho người dân bị thu hồi đất trong
8
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
việc xét tuyển vào làm ở các khu công nghiệp là ưu tiên hàng đầu cho các hộ bị thu
hồi đất cũng không thể nào giúp được những người này có việc làm khác.
Đây cũng là một trong những hạn chế lớn nhất khiến nhiều lao động trong
xã thất nghiệp hoặc thiếu việc làm. Vậy là họ phải chuyển sang làm những nghề
khác như buôn bán, lao động tự do, làm thuê,… nhưng đây là những nghề không
Phi nông
TS (người)
5 2 3 0
% cột
7.2 1.1 1.7 .0
Hỗn hợp
TS (người)
40 40 32 4
% cột
58.0 22.7 17.7 8.0
Tổng
TS (người)
69 176 181 59
% cột
100.0 100.0 100.0 100.0
Theo bảng tương quan trên thì số người trong độ tuổi lao động làm nghề
nông là khá cao. Nổi bật là ở độ tuổi trên 55 có tới 92% người lao dộng làm nghề
nông. Đây là điều hợp lý vì ở độ tuổi này họ không còn cơ hội về tuổi tác để được
nhận vào các khu công nghiệp nữa. Hơn thế họ cũng không có đủ sức khỏe và
trình dộ để có thể kiếm những việc làm khác ở bên ngoài. Do đó việc họ ở nhà chăn
nuôi thêm gà, lợn hay trông nom nhà cửa là điều không thể khác được. Trong độ
tuổi từ 36 – 45 có 76.1% số người lao động làmnghề nông cao hơn hẳn so với 1,1%
phi nông và 22.7% làm nghề hỗn hợp. Cũng như thế trong độ tuổi từ 46 – 55 tỷ lệ
10
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
này lần lượt là 80.7%, 1.7% và 17.7%. Ở các độ tuổi này người lao động chủ yếu là
các chủ hộ, là trụ cột trong gia đình một khi không có đủ trình độ học vấn và
chuyên môn, tay nghề sẽ phải lựa chọn cho mình một công việc ổn định và tạo thu
nhập nuôi sống cả gia đình. Nghề nông với họ là nghề đã quá quen thuộc nên khi
mất đất đa phần những người này chọn việc mở rộng về chăn nuôi gia súc, gia cầm
Giới tính
Tổng
Nữ Nam
Thuần nông
TS (người)
203 147 350
% cột
70.0 79.9 73.5
Hỗn hợp
TS (người)
2 8 10
% cột
.7 4.3 2.1
Phi nông
TS (người)
85 31 116
% cột
29.3 16.7 24.4
Tổng
TS (người)
290 186 476
% cột
100.0 100.0 100.0
Ở nam giới cũng tương tự như vậy nghề nông vẫn là lựa chọn chiếm đa số tỷ
lệ đó lần lượt là 79.9%, 4.3%, 16.7%. Tỷ lệ nữ lựa chọn làm nghề nông khá nhiều
là do họ đã quen với việc chân tay, đồng áng lại là người cầm kinh tế trong gia đình
nên thường phải lo chăm sóc con cái, nhà cửa, công việc gia đình nên vệc có việc
làm ổn định ở nhà là rất cần thiết. Vì thế mà nghề nông là thích hợp nhất đối với
giới nữ.
Ở nam giới tỷ lệ này chỉ nhỏ hơn chút ít. Lý do chủ yếu bởi phần nhiều nam
TS (người)
78 62 2 98 87 23
Tỷ lệ (%)
49.9 33 6.5 63.2 34.7 65.7
Hỗn hợp
TS (người)
17 90 12 26 72 5
Tỷ lệ (%)
10.8 47.8 38.7 16.8 28.5 14.3
Phi nông
TS (người)
63 36 17 30 92 7
Tỷ lệ (%)
39.9 19.2 54.7 20 36.8 20
Tổng
TS (người)
158 188 31 154 251 35
Tỷ lệ (%)
100 100 100 100 100 100
Nhìn bảng số liệu trên ta thấy thôn Tiến Đạt, thôn Vũ Xá, Vũ Thượng và
Ngọc Trì có tỷ lệ lao động làm nghề nông rất cao hơn hẳn so với các nghề nghiệp
khác . Đặc biệt thôn Vũ Xá có 63.2%, thôn Tiến Đạt có 49.9%. Có tỷ lệ này là do
hai thôn này tuy bị mất đất nhưng thuộc diện quy hoạch giai đoạn 2 nên các khu
công nghiệp chưa phát triển rộng.
Thôn Độc Lập số lao động làm nghề nông chỉ chiếm 6.5% do bị thu hồi gần
như toàn bộ ruộng đất để xây dựng khu công nghiệp Nam Sách. Trong khi có tới
38.5% số lao động làm nghề hỗn hợp và 54.7% làm trong nghề phi nông. Có hiện
tượng này là do thôn này nằm gần ngay các nhà máy, xí nghiệp nên chủ yếu dân ở
thôn này xây các khu nhà cho công nhân thuê và mở các dịch vụ ăn uống, giải trí.
13
Năm 2006, năm đầu tiên thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ
25 (nhiệm kỳ 2005- 2010), huyện sớm xây dựng 5 chương trình, với 18 đề án phát
triển toàn diện kinh tế - xã hội, trong đó có đề án phát triển nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hoá, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao.
Với cây lúa cách đây gần chục năm toàn huyện hầu hết cấy mạ dược, chưa
tích cực chọn lọc giống lúa nên năng suất thấp. Nhiều năm liền huyện chỉ đạo các
ngành chức năng tuyên truyền hướng dẫn bà con nông dân gieo cấy lúa theo công
nghệ mới, chọn lọc bộ giống lúa có năng suất, chất lượng cao, như lúa lai D.ưu
527, HYT 83, các giống nếp thơm, tẻ thơm phù hợp với đồng đất Nam Sách, nhân
các điển hình tiên tiến trong thâm canh lúa, tăng trà xuân muộn, trà mùa sớm và
mùa trung…Trong những năm gần đây huyện tổ chức hàng nghìn lớp tập huấn
chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi thú
y, nuôi trồng thuỷ sản cho hàng chục nghìn lượt nông dân, tới nay gần 90% diịen
tích đã áp dụng công nghệ cấy mạ non hoặc gieo thẳng.
Không chỉ có cây lúa trong trồng trọt huyện khuyến khích các địa phương
chủ động sáng tạo tìm chọn cây có giá trị kinh tế cao. Vụ đông toàn huyện giữ
vững từ 1500 đến 2000 ha hành , tỏi.
Trên địa bàn huyện có xuất hiện mô hình trang trại tập trung quy mô lớn, đó
là các hộ liên chăn nuôi rồi mở rộng thành hợp tác xã chăn nuôi. Đàn gia cầm toàn
huyện hiện nay đã có trên 700 nghìn con, trong đó có trang trại nuôi gà đẻ trứng
quy mô 110 nghìn con, là một trong những trang trại lớn nhất các tỉnh phía bắc.
Trong những năm qua Nam Sách tập trung chuyển đổi trên 600 ha bãi đất trũng,
cấy lúa năng suất thấp sang đào ao, nuôi trồng thuỷ sản nâng diện tích nuôi cá toàn
huyện lên tới 900 ha.
Để nông nghiệp Nam Sách và xã Ai Quốc cũng như các xã trong huyện có
bước phát triển bền vững từ nhiều năm qua huyện uỷ, UBND huyện tập trung chỉ
15
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
đạo, tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của các hợp tác xã dịch vụ, bảo đảm
đáp ứng kịp thời về điện, nước, làm đất, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thú y… Với
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh. Sau hai đợt dịch và tái phát dịch đàn gà
trên 40 con vẫn giữ được an toàn.
Cho đến nay vợ chồng Tám- Lợi vẫn nhớ “ lời nguyền của thuở ban đầu” sẽ
biến 12000 viên gạch thành 12000 cây vàng. Ước nguyện của họ đã và đang trở
thành hiện thực bởi bắt đầu từ năm 2004 mỗi năm trang trại đạt doanh thu trên1 tỷ
đồng/năm, trừ các khoản chi phí và trả lương, lãi trên 150 triệu đồng/năm.
Kinh tế trang trại đã và đang là xu hướng phát triển chung của các hộ gia
đình nông dân năng động hiểu biết trong xã Ai Quốc nói riêng và toàn tỉnh Hải
Dương nói chung. Ong Lê Đình Khanh- chủ tịch hội nông dân tỉnh Hải Dương
khẳng định “ phong trào nông dân sản xuất giỏi ở Hải Dương đang hình thành 2 xu
hướng. Hộ cá thể thì đầu tư vốn lớn, áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất.
Những nông dân cùng sản xuất một loại nông sản thì hình thành các hợp tác xã, câu
lạc bộ, chi hội nghề nghiệp”.
Tóm tắt mục 3:Vói hướng đi đầu tư và áp dụng những tiến bộ của
khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại thì toàn huyện đã và đang đạt được
những thành quả nhất định trong phát triển nông nghiệp theo hướng
chuyên môn hóa. Bắt kịp với xu thế hội nhập quốc tế, nhiều nông dân, hộ
nông dân năng động, chịu khó mày mò, sáng tạo đã chủ động hội nhập
trong tình hình kinh tế xã có nhiều biến động do đang từng bước xây
dựng các khu công nghiệp. Những điển hình về làm kinh tế trang trại là
dấu hiệu đáng mừng cho nông nghiệp xã và huyện có những bước đột
phá trong thời gian tới.
17
Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]
MỤC LỤC
18