bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không việt nam đối với hành lý hàng hóa tư trang của hành khách - Pdf 24

Khoá luận tốt nghiệp
oOo
Trờng đại học ngoại thơng
Khoa kinh tế ngoại thơng

* * * * * *
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá
và t trang của hành khách.
Sinh viên thực hiện : Lê Văn Lân
Giáo viên hớng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Nh Tiến
Hà Nội, năm 2003
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
1
Khoá luận tốt nghiệp
oOo
Mục lục
Lời nói đầu
Lời cảm ơn
Những từ viết tắt trong khoá luận
Chơng I: Khái quát về BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý,
hàng hoá và t trang của hành khách 1
I. Khái niệm và đặc điểm của BHTNDS
1
I.1. Khái niệm và đặc điểm của BHTNDS 1
I.2. Những rủi ro thờng gặp phát sinh TNDS của hãng hàng không 10
I.3. Vai trò và tính tất yếu của BHHK 13
II. Các loại hình BHTNDS của hãng hàng không 16

của hành khách 58
III.1. Phí bảo hiểm 58
III.1.1. Phí BHTNDS của HKVNđối với hành lý, hàng hoá và t trang của hành
khách 58
III.1.2. Phí BHTNDS của HKVNđối với hành lý, hàng hoá dới mức miễn th-
ờng 63
III.2. Công tác giám định và đánh giá thiệt hại 64
III.3. Công tác bồi thờng 67
III.4. Hạn mức trách nhiệm 75
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
3
Khoá luận tốt nghiệp
oOo
III.5. Công tác ĐP & HCTT 77
Chơng III: Một số vấn đề cần lu ý về BHTNDS của HKVN đối với hành
lý, hàng hoá và t trang của hành khách 83
I. Về phía Nhà nớc 83
II. Về phía TCTHKVN 84
III. Về phía công ty bảo hiểm 92
IV. Về phía ngời thứ 3 94
Lời kết
Tài liệu tham khảo
Phục lục I
Phụ lục II
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
4

Chính vì vậy, Luật pháp quốc tế cũng nh Luật pháp của từng quốc gia
đều có qui định về trách nhiệm dân sự phải bồi thờng của hãng hàng không
đối với những rủi ro gây thiệt hại đến hành lý, hàng hoá, và t trang của hành
khách. Vậy các hãng không phải làm thế nào để giải quyết ổn thoả vấn đề trên
mà vẫn phải đảm bảo hoạt động kinh doanh đợc tiến hành bình thờng, liên
tục? Để trả lời câu hỏi trên các hãng hàng không trên thế giới nói chung và
HKVN nói riêng đã và đang áp dụng rất nhiều biện pháp nhằm ngăn ngừa và
hạn chế rủi ro, nhng một trong những biện pháp đợc coi là hiệu quả nhất đó
chính là Bảo hiểm. Bảo hiểm có vai trò quan trọng đối với hoạt động vận tải
hàng không nói chung và đặc biệt là BHTNDS của hãng hàng không đối với
hành lý, hàng hoá và t trang của hành khách nói riêng.
Qua thời gian học tập tại Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội và công
tác tại TCTHKVN nhận thức đợc vai trò và tầm quan trọng của Bảo hiểm. Em
mạnh dạn nghiên cứu đề tài: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không
Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và t trang của hành khách với mục
đích đi sâu tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và đánh giá BHTNDS của hãng hàng
không, từ đó rút ra một số vấn đề cần lu ý về loại hình Bảo hiểm này tại
TCTHKVN.
Khoá luận này, ngoài phần Lời nói đầu, Lời cảm ơn, Những từ viết tắt
trong bài, Lời kết, Tài liệu tham khảo, Phụ lục 1, Phụ lục 2, bao gồm 3 chơng
với những nội dung cơ bản sau:
Ch ơng I : Khái quát về BHTNDS của hãng hàng không đối với
hành lý, hàng hoá và t trang của hành khách.
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
6
Khoá luận tốt nghiệp
oOo
Ch ơng II: Thực trạng BHTNDS của hàng không Việt Nam đối với

chính kế toán - TCTHKVN đã cung cấp tài liệu bổ ích giúp em đợc hoàn thiện
khoá luận này.
Những cán bộ, chuyên viên của Phòng Hàng Hải - Hàng không thuộc
Công Ty bảo hiểm TP. HCM (Bảo Minh) chi nhánh tại Hà Nội số 57 Hàng
Chuối đã cung cấp số liệu liên quan tới phí bảo hiểm, công tác bồi thờng giữa
Bảo Minh và HKVN những năm qua cùng những thông tin về Bảo Minh và thị
trờng bảo hiểm hàng không thế giới.
Trung tâm thông tin phản hồi - Ban kế hoạch thị trờng - TCTHKVN đã
cung cấp số liệu hành khách mà HKVN chuyên chở đợc trong thời gian từ
1993 - 2002
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
8
Khoá luận tốt nghiệp
oOo
Ban tiếp thị hàng hoá - TCTHKVN đã cung cấp số liệu về khối lợng
hàng hoá mà HKVN chuyên chở đợc trong thời gian từ 1993 - 2002.
Bên cạnh đó em xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã động viên kịp thời ủng hộ nhiệt tình, đã góp phần quan trọng cho
em hoàn thành đợc khoá luận tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
9
Khoá luận tốt nghiệp
oOo

nhằm phân phối thu nhập thuần tuý của các doanh nghiệp và của ngời lao
động hoặc Bảo hiểm là phơng pháp tổ chức quỹ bảo hiểm bằng phí bảo
hiểm để bù đắp những tổn thất do thiên tai hay tai nạn bất ngờ gây ra cho nền
kinh tế.
Có quan niệm cho rằng: Bảo hiểm là hợp đồng trong đó bên mua phải
nộp cho bên bán một số tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm, còn bên bán cam
kết thanh toán cho bên mua một số tiền bằng hay tơng đơng với loại tổn thất
xảy ra.
Tuy nhiên, một số tai biến xảy ra vợt quá khả năng của các nhà bảo
hiểm và hoạt động bảo hiểm đòi hỏi phải có một số điều kiện về kinh tế và tài
chính (giá bảo đảm xác định các rủi ro, khả năng tài chính của tổ chức có
trách nhiệm thanh toán tổn thất).
Do đó, Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên là ngời đợc bảo
hiểm cam đoan trả một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm cho mình hoặc cho một
ngời thứ 3. Trong trờng hợp xảy ra rủi ro, sẽ nhận đợc một khoản tiền bồi th-
ờng của bên khác, đó là nhà bảo hiểm. Ngời này nhận trách nhiệm đối với
toàn bộ rủi ro và bồi thờng thiệt hại dựa trên các luật thống kê và tính toán xác
suất rủi ro. Nhng quan niệm này chỉ nhấn mạnh phần bồi thờng cho ngời đợc
bảo hiểm, chỉ tính đến phí thuần mà không tính đến chi phí về mặt quản lý của
nhà bảo hiểm và chỉ hợp với bảo hiểm t nhân.
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
11
Khoá luận tốt nghiệp
oOo
Nh vậy các quan niệm trên đây cha phản ánh đầy đủ nội dung kinh tế
bên trong của phạm trù tài chính. Trên cơ sở các quan niệm khác nhau về bảo
hiểm đã nêu ở trên và thực tiễn bảo hiểm cũng nh những công trình nghiên
cứu khoa học, theo chúng tôi khái niệm phản ánh đầy đủ nhất phạm trù bảo

oOo
lao động. Mục đích hoạt động của quỹ BHXH không phải vì lợi nhuận và vì
phúc lợi, quyền lợi của ngời lao động và của cả cộng đồng. BHXH thờng do
Nhà nớc trực tiếp tiến hành theo quy chế chung thống nhất qua các đạo luật.
BHTM: là dịch vụ tài chính xuất phát từ nhu cầu đợc bảo vệ ngoài sự
đảm bảo chung của xã hội đối với các đối tợng bảo hiểm. Đối tợng của BHTM
ngoài con ngời còn bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm. Quỹ bảo hiểm
này đợc lập nên từ sự đóng góp phí bảo hiểm của các cá nhân, các tổ chức KT
- XH có nhu cầu đợc bảo hiểm. Nguồn đóng góp đó đợc sử dụng để chi bồi th-
ờng cho những cá nhân, đơn vị tham gia bảo hiểm gặp rủi ro, nh : tính mạng
và tài sản bị thiên tai, tai nạn bất ngờ gây thiệt hại. Ngoài ra, chúng còn đợc
dùng để chi cho quản lý của doanh nghiệp, kinh doanh bảo hiểm, lập quỹ dự
trữ và thực hiện nghĩa vụ đóng góp với ngân sách Nhà nớc. Nh vậy, nếu so
sánh giữa hai loại hình bảo hiểm, thì chúng đều nhằm mục đích là giúp ổn
định kinh tế bảo đảm cho quá trình tái sản xuất tiến hành đợc thờng xuyên,
liên tục và góp phần đảm bảo ổn định cho cuộc sống của mọi thành viên trong
xã hội, khắc phục khó khăn do hậu quả rủi ro xảy ra, ngời tham gia bảo hiểm
đều có trách nhiệm đóng góp phí bảo hiểm. Nói một cách khác là hai loại hình
bảo hiểm có cùng phơng thức hình thành và sử dụng quỹ. Song chúng có
những điểm khác nhau, nh về đối tợng phục vụ, nguồn trích lập quỹ, tính chất
lợi nhuận (đối với BHXH hoạt động không mang tính chất kinh doanh thu lợi
nhuận nh BHTM ). Phạm vi hoạt động của BHTM thờng rộng hơn không chỉ
dừng lại ở biên giới một quốc gia dới hình thức tái bảo hiểm, BHTM có nhiều
hình thức đa dạng và phong phú.
Nên để phân biệt các hình thức bảo hiểm, có thể dựa vào nhiều tiêu thức
khác nhau để phân loại.
Dựa vào đối tợng của bảo hiểm thì bảo hiểm đợc chia thành bảo hiểm
tài sản, bảo hiểm con ngời và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Lê Văn Lân - A1 CN 09


Bảo hiểm tự nguyện: là hình thức bảo hiểm đợc tiến hành theo ý
nguyện của ngời tham bảo hiểm đợc chi phối bởi hợp đồng bảo hiểm trên
nguyên tắc thoả thuận.
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
14
Khoá luận tốt nghiệp
oOo
Bảo hiểm bắt buộc: là hình thức bảo hiểm đợc phát luật Nhà nớc quy
định đối với cả ngời bảo hiểm và ngời tham gia bảo hiểm. Đặc trng của bảo
hiểm bắt buộc là hoạt động bảo hiểm đợc thiết lập theo nguyên tắc trách
nhiệm tự động, loại trừ khả năng lựa chọn của ngời tham bảo hiểm. Nó gắn
liền với việc tăng cờng vai trò quản lý của Nhà nớc đối với đối tợng bảo hiểm
có liên quan đến lợi ích và an toàn chung của xã hội. Vì rủi ro xảy ra đối với
đối tợng bảo hiểm bắt buộc không chỉ là thiệt hại của cá nhân mà còn gây
thiệt hại chung cho toàn xã hội. Hình thức bảo hiểm bắt buộc có nhiều thuận
lợi cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong công tác triển khai nghiệp vụ.
Dựa vào phạm vi hoạt động và cơ sở hạch toán, bảo hiểm đợc chia
thành bảo hiểm đối nội và bảo hiểm đối ngoại.
Bảo hiểm đối nội: là nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tợng bảo hiểm giới
hạn trong phạm vi biên giới của một nớc và đồng tiền hạch toán kết quả
nghiệp vụ bảo hiểm là đồng tiền trong nớc.
Bảo hiểm đối ngoại: là các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tợng bảo hiểm
đã vợt ra phạm vi biên giới một nớc và đồng tiền hạch toán nghiệp vụ bảo
hiểm là đồng tiền nớc ngoài. Trong thực tế, nghiệp vụ bảo hiểm nào có một
trong hai điều kiện trên đều thuộc nhóm bảo hiểm đối ngoại. Ví dụ nh: bảo
hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm đầu t, bảo hiểm khách du lịch, bảo
hiểm thăm dò và khai thác dầu khí
Ngoài ra nếu dựa vào các chỉ tiêu khác. Có:

chuyển ngành HKDD ngày càng tăng, chỉ cần một vụ tai nạn máy bay xảy ra
cũng đủ làm một hãng hàng không bên bờ vực thẳm của phá sản nếu không đ-
ợc bảo hiểm. Ví dụ: ngày 03/09/1997 máy bay TU-134/VNA120 của HKVN
đã gặp tại nạn tại sân bay Pochentong (Campuchia). Tổn thất ớc tính tại thời
điểm đó cả vụ liên quan tới số tiền Bảo Minh chi trả cho HKVN lên tới 25
triệu USD trong khi tổng lợng phí bảo hiểm trong 5 năm từ 1995 - 1999
khoảng 20 triệu USD. Rõ ràng qua đây chúng ta nhận thấy lợi ích to lớn của
bảo hiểm trong hoạt động vận chuyển hàng không.
Ngày nay cùng với sự lớn mạnh của ngành HKDD thì lĩnh vực BHHK
cũng càng trở nên cần thiết và có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động
hàng không. Theo thống kê của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA)
nếu ngày nào cũng đi máy bay (24/24 giờ) thì suốt trong 35 năm mới có thể
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
16
Khoá luận tốt nghiệp
oOo
gặp một tai nạn. Tuy nhiên, giá trị của một vụ tổn thất hàng không lại khá cao
có thể dẫn tới hàng trăm ngời chết và mức bồi thờng phát sinh từ vài trăm triệu
USD cho đến hàng tỉ USD. Do vậy, việc tham gia BHHK là rất cần thiết cho
mọi hãng hàng không trên thế giới.
Trong nền kinh tế thị trờng việc tham gia bảo hiểm cho hoạt động kinh
doanh là rất cần thiết, không chỉ vì sự an toàn của bản thân ngời kinh doanh
mà còn vì sự an toàn của xã hội, nhất là kinh doanh trong lĩnh vực hàng
không, bởi lẽ phí BHHK cùng các loại hình bảo hiểm đợc tập trung vào cơ
quan bảo hiểm hình thành quỹ tập trung lớn có khả năng bồi thờng kịp thời
cho ngời đợc bảo hiểm - bảo đảm quyền lợi cho hành khách và hãng hàng
không. Bên cạnh đó, việc tham gia bảo hiểm tạo nên cơ cấu giá cớc vận
chuyển ổn định, vì hãng hàng không đã tính phí bảo hiểm vào giá thành vận

hạn( Unlimited) .
*Bảo hiểm có giới hạn:
Chúng ta biết rằng các rủi ro về hàng không luôn gây ra giá trị tổn thất
to lớn, tơng ứng với trách nhiệm ngời vận chuyển cũng rất nhiều. Do vậy, mà
việc lựa chọn phơng pháp bảo hiểm nh là một biện pháp chuyển giao rủi ro
hữu hiệu nhất. Nh vậy thì nhà bảo hiểm lại phải tìm cách giới hạn trách nhiệm
của mình tức là ấn định một số tiền trớc trong hợp đồng bảo hiểm. Số tiền bảo
hiểm này đợc ấn định trên cơ sở công ty bảo hiểm đề nghị và đợc hãng vận
chuyển thoả thuận chấp nhận. Số tiền bảo hiểm này đợc xem là hạn mức trách
nhiệm - mức bồi thờng tối đa của công ty bảo hiểm cho hãng vận chuyển.
Việc giới hạn trách nhiệm đem lại u điểm cho công ty bảo hiểm có khả năng
chủ động hơn trong việc dự phòng các tình huống phát sinh trách nhiệm do họ
có thể đánh giá đợc mức độ tổn thất tối đa của hợp đồng. Hơn nữa, việc tham
gia theo loại hình này giúp hãng vận chuyển giảm đợc phí bảo hiểm cũng tức
là giảm đợc chi phí và giảm đợc giá vé (vì phí bảo hiểm đợc tính trong giá vé)
đặc biệt có ý nghĩa hơn trong tình hình thị trờng hàng không đang ngày càng
cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên, đối với các hợp đồng bảo hiểm có giới hạn lại
gặp phải trở ngại là hãng vận chuyển không hoàn toàn bảo vệ đợc rủi ro của
mình, trong trờng hợp mà mức bồi thờng lớn hơn nhiều mức trách nhiệm đợc
bảo hiểm thì hãng vận chuyển phải chịu tổn thất lớn. Do vậy, mà có hợp đồng
bảo hiểm trách nhiệm không giới hạn.
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
18
Khoá luận tốt nghiệp
oOo
* Bảo hiểm trách nhiệm không giới hạn:
Khác với hợp đồng bảo hiểm trên đối với hợp đồng không giới hạn thì ở
hợp đồng này, số tiền bảo hiểm không đợc ấn định, không giới hạn trách

oOo
ở bất cứ thời gian, không gian nào và với qui mô không thể lờng trớc đợc. Có
rất nhiều quan niệm về rủi ro, nhìn chung dù ghi nhận rủi ro dới góc độ nào
thì quan niệm về rủi ro đều đề cập tới hai khía cạnh:
- Sự không chắc chắn, yếu tố bất trắc
- Một khả năng xấu, một biến cố không mong đợi.
Nh vậy: Rủi ro đợc hiểu là thuật ngữ dùng để chỉ khả năng xảy ra biến cố bất
thờng với hậu quả thiệt hại hoặc mang lại kết quả không nh dự tính.
Sự nguy hại của rủi ro đòi hỏi một quy trình xử lý đồng bộ, từ việc xây
dựng hệ thống tín hiệu khuyến cáo rủi ro, lựa chọn những giải pháp thích hợp.
Công tác xử lý rủi ro có ý nghĩa to lớn tới sự an toàn của các cá nhân, các
ngành và toàn xã hội.
Ngành hàng không là một ngành rất hiện đại, luôn luôn áp dụng thành
tựu và công nghệ mới nhất của con ngời. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển nh
vũ bão của KH - KT hiện nay cũng không thể loại trừ hoàn toàn mọi rủi ro.
Ngành hàng không luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro nghiệm trọng.
Chẳng hạn nh năm 1996 là năm bất thờng của ngành hàng không xảy ra tới 25
vụ tổn thất toàn bộ, làm 1.597 ngời và đội bay tử vong, số ngời thứ 3 bị thiệt
mạng trên mặt đất là 347 ngời và tổng số tổn thất lên tới gần 2 tỷ USD. Nh
vậy, rủi ro ngành hàng không tác động đến nhiều đối tợng khác nhau. Nhìn
chung có thể xếp vào các nhóm sau:
I.2.1. Rủi ro tác động đến tài sản: Đây là loại rủi ro có đối tợng tác
động là tài sản. Đối với ngành hàng không loại rủi ro này rất nguy hiểm bởi lẽ
để tiến hành hoạt động của mình, các hãng hàng không phải đầu t lợng vốn
không lồ. Một chiếc máy Boeing 747 với tốc độ kinh tế nhất 600 dặm/giờ với
sức chở trên 400 hành khách, trị giá hàng trăm triệu USD. Ngoài ra, các hãng
hàng không còn phải đầu t cơ sở vật chất nh đờng băng, sân đỗ, nhà ga, nhà
kho, hệ thống cung cấp nhiên liệu ngay cả hãng nhỏ nh HKVN cũng phải
đầu t lợng vốn lớn cho hoạt động của mình nh: Rada phục vụ cho điều hành
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
21
1: Do thời tiết (18%)
2: Do sơ suất của con ngời (21%)
3: Do trục trặc kỹ thuật (59%)
4: Do rủi ro bất ngờ (2%)
Khoá luận tốt nghiệp
oOo
phải quan tâm là vấn đề giải quyết hậu quả về ngời sau mỗi vụ tai nạn thờng
liên quan đến nhiều quốc tịch khác nhau, nhiều phong tục tập quán khác nhau.
Những rủi ro tác động đến con ngời có thể là:
- Tai nạn của nhân viên phục vụ do ảnh hởng của các phơng tiện phục
vụ mặt đất.
- Tai nạn của nhân viên tổ bay trong quá trình làm việc, do ảnh hởng
của máy móc trên máy bay
- Tai nạn của hành khách trong quá trình lên, xuống máy bay
- Tai nạn con ngời khác do sự cố máy bay, hỏng hóc kỹ thuật
I.2.3. Rủi ro phát sinh trách nhiệm dân sự (pháp lý) bồi th ờng của
hãng hàng không:
Khi những rủi ro này xảy ra sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thờng của
hãng hàng không đối với những thiệt hại về ngời, tài sản. Hãng hàng không
phải có trách nhiệm bồi thờng trách nhiệm trong trờng hợp:
- Hành khách bị chết hoặc bị thơng tích về thân thể trong quá trình hoạt
động của máy bay
- Mất mát, h hỏng, thiếu hụt của hành lý, hàng hoá trong quá trình vận
chuyển bằng đờng hàng không.
- Thiệt hại về tính mạng sức khoẻ, thơng tích tài sản của ngời thứ 3 ở
mặt đất do máy trực tiếp gây ra.
- Thiệt hại do máy bay va chạm hoặc gây cản trở cho nhau
Giải quyết hậu quả của những rủi ro này là trách nhiệm của mọi hãng

tránh đợc biến động lớn khi gặp rủi ro.
Bảo hiểm giúp giải quyết tình trạng ứ đọng vốn và lãng phí vốn của
hãng hàng không. Thay vì phải dự trữ vốn để tự bảo hiểm, hãng có thể sử dụng
vốn này đầu t cho hoạt động sản xuất - kinh doanh. Mặt khác, hầu hết ở các
quốc gia thì ngành HKDD do Nhà nớc nắm giữ một phần hay toàn bộ, nên khi
có tổn thất xảy ra thì trách nhiệm bồi thờng và trách nhiệm chung có thể lên
tới hàng tỷ USD, hãng vận chuyển có thể gặp khó khăn và có thể dẫn đến phá
sản. Điều này có thể ảnh hởng tới ngân sách Nhà nớc. Do vậy, khi tham gia
bảo hiểm hãng vận chuyển san sẻ đợc trách nhiệm, chuyển giao một phần hay
toàn bộ rủi ro cho các công ty bảo hiểm, nên ngân sách Nhà nớc đỡ phải gánh
chịu khi có tổn thất xảy ra. Điều này có ý nghĩa hơn đối với các quốc gia đang
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
23
Khoá luận tốt nghiệp
oOo
phát triển với ngân sách hạn hẹp nh là Việt Nam chúng ta, do đó việc tham
BHHK sẽ góp phần ổn định KT - XH của quốc gia.
* Thứ hai: Góp phần ổn định hoạt động kinh doanh cho hãng hàng
không.
Nh đã đề cập ở trên thì những tổn thất hàng không thờng dẫn đến giá trị
thiệt hại rất lớn có thể đủ làm cho hãng hàng không đi đến phá sản nếu không
đợc bảo hiểm (ví dụ: Vụ tai nạn 2 máy bay đâm nhau tại đảo Tertarist năm
1977 đã làm 538 ngời bị chết, thiệt hại tài sản khoảng 300 triệu USD và con
số bồi thờng chiếm khoảng từ 10 - 20% tổng số phí BHHK trên toàn thế giới).
Nên đây cũng là lý do giải thích vì sao ngành bảo hiểm có những đặc điểm
hoạt động phân tán rủi ro và nguyên tắc số đông bù số ít, giờ đây đợc xem là
một ngành không thể thiếu đợc trong chuỗi mắt xích hoạt động của xã hội.
Tham gia bảo hiểm sẽ giúp hãng vận chuyển vợt qua những khó khăn về tài

không thể xác định đợc khi mà có những tổn thất liên quan đến tính mạng, sức
khoẻ của hành khách. Tuy nhiên, số tiền bồi thờng của công ty bảo hiểm bồi
thờng cho nạn nhân hay gia đình nạn nhân sẽ giúp họ có thể vợt qua những
khó khăn về tài chính. Về vấn đề mà các hãng hàng không phải quan tâm
tham gia mức trách nhiệm cao hơn thì sẽ giúp cho hãng thu hút đợc nhiều
khách hàng hơn nhng ngợc lại với những hãng hàng không nhỏ, yếu về khả
năng tài chính lại sẽ gặp bất lợi lớn khi thực hiện điều này. Nói chung, cùng
với sự phát triển của KT - XH thì lợi ích của khách hàng sẽ càng đợc hãng vận
chuyển quan tâm, chú trọng hàng đầu, từ đó làm tăng uy tín của hãng hàng
không đối với hành khách và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trờng.
* Thứ năm: Góp phần nâng cao uy tín trên trờng quốc tế.
Việc tham gia bảo hiểm còn là việc tuân theo các quy định của luật
pháp và công ớc quốc tế, góp phần nâng cao vai trò và vị thế của hãng hàng
không cũng nh đất nớc trong quan hệ kinh tế thông qua hoạt động tái bảo
hiểm (hoạt động không thể thiếu ở nghiệp vụ bảo hiểm hàng không bởi giá trị
bảo hiểm và rủi ro lớn của nghiệp vụ), công ty bảo hiểm có thể mở rộng mối
quan hệ với quốc tế, học tập đợc những kinh nghiệm của họ hoặc có thể giữ lại
một lợng ngoại tệ nếu nhợng lại cho các công ty trong nớc, nó còn giúp nâng
cao sự hiểu biết, sự quan tâm của công chúng và uy tín của hãng hàng không
cùng công ty bảo hiểm
Lê Văn Lân - A1 CN 09

Trang
25

Trích đoạn Về phía TCTHKVN 84 Về phía công ty bảo hiểm Về phía ngời thứ 3 94
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status