tóm tắt tìm hiểu quan niệm của roland barthes qua hai tác phẩm được dịch ở việt nam độ không của lối viết - Pdf 24

(VH-NN) Khóa luận tốt nghiệp: Tìm hiểu quan niệm của Roland Barthes qua
hai tác phẩm được dịch ở Việt Nam: “Độ không của lối viết” (Le Degré Zéro de
l’Écriture) và “Những huyền thoại” (Mythologies) của sinh viên Ngô Thị
Thanh Loan (hệ CNTN – Khoa Văn học và Ngôn ngữ khóa 2007-2011) do
PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân hướng dẫn được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng
chấm khóa luận tốt nghiệp ngày 27/6/2011 và được Hội đồng nhất trí cho
điểm tối đa (10 điểm). Đây là một trong bốn khóa luận hệ CNTN khóa này đạt
được kết quả ấy. VN-NN xin giới thiệu Chương 3: Quan niệm của R.Barthes
trong tác phẩm Những huyền thoại (Mythologies) và phần Mục lục của Khóa
luận.
3.1. SỰ GIẢI MÃ NHỮNG HUYỀN THOẠI XÃ HỘI TƯ SẢN VÀ Ý MUỐN “TÓM
BẮT SỰ LẠM DỤNG Ý HỆ ẨN NẤP”
“Chúng ta không ngừng lênh đênh giữa đối tượng và sự giải hoặc nó, vì
chúng ta bất lực không thể hiện được tổng thể của nó: bời vì nếu chúng ta
thâm nhập đối tượng, chúng ta giải phóng nó nhưng chúng ta phá huỷ nó: và
nếu chúng ta để mặc nó, chúng ta tôn trọng nó, nhưng chúng ta khôi phục nó
khi nó vẫn bị huyễn hoặc”.
Ngay trong “lời tựa” Roland Barthes đã khẳng định ý muốn “tóm tắt sự
lạm dụng ý hệ ẩn nấp”, chỉ ra tính chất dối trá của các huyền thoại. Những
huyền thoại vẽ lại cả một giai đoạn lịch sử của nước Pháp, nhưng luận đề đầu
tiên của cuốn sách chính là: “tố cáo sự tha hoá của người dân thông qua ý
hệ”. Đối tượng thực thụ của Những huyền thoại chính là ý hệ của xã hội tư
sản / tiểu tư sản.
Về Huyền thoại, Từ điển Oxford Advanced learner’s dictionary định nghĩa
rằng: Huyền thoại là “một câu chuyện có từ thời cổ đại. Đặc biệt chúng
thường được kể để giải thích các sự kiện tự nhiên hay để miêu tả thời kì niên
thiếu của một cá nhân nào đó. Đây là một loại truyện kể”. Huyền thoại cũng
là “một điều gì đó mà nhiều người tin rằng không còn tồn tại hoặc không
thật”. Còn từ điển mở en.wikipedia.org đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn: “Từ
mythology có thể liên quan đến ngành học về huyền thoại hoặc bản thân các
huyền thoại”, “thuật ngữ myth thường được sử dụng một cách thông tục để

bít tết, khoai tây rán, là “gương mặt nàng Garbo” – một diễn viên nổi tiếng
lúc bấy giờ, là “chiếc xe Citroën Mới”, v.v…Tất cả tạo nên những huyền thoại
hiện đại, nhằm mục đích “phê phán ngôn ngữ của cái gọi là văn hóa đại
chúng về phương diện tư tưởng”.
Roland Barthes cho rằng Huyền thoại được tạo ra do sự vật bị đánh mất
sử tính, sự vật đã quên lãng nguồn gốc cấu tạo ra chúng:
"Huyền thoại hoá là một vận hành có nhiệm vụ biến những hiện tượng
ngẫu nhiên mang tính lịch sử trong một nền văn hoá thành những câu
chuyện, những điều thiêng liêng, thần thánh, hoặc những chân lý hiển nhiên,
không còn gì thắc mắc hay đáng ngờ.” Huyền thoại hoá tạo nên “doxa”.
Barthes dùng lại thuật ngữ “doxa” của Platon, với nghĩa “giọng nói của tự
nhiên”, để chỉ tất cả những quan điểm chính thống về sự vật, về cuộc đời…
Như vậy công tác giải huyền thoại chính là đi ngược dòng thời gian để truy
nguyên lý lịch ban đầu của sự vật để vạch ra “tính ngẫu nhiên lịch sử của
chúng” và như thế sẽ xoá đi “tính thiêng liêng thần bí giả tạo bao quanh
những sự vật đó”. Tính thiêng liêng này sở dĩ được hình thành là do con
người đã quên lãng sử tính của sự vật. Chúng ta bị thuyết phục tin rằng tất
cả những gì đang xảy ra chung quanh: các định chế xã hội, các nguyên tắc
đạo lý, các quy ước văn học…đều hoàn toàn tự nhiên và không có gì phải bàn
cãi về “tính chất tự nhiên” của chúng. Trong huyền thoại có phần không thực,
vì vậy, huyền thoại làm cho con người lạc lối, lầm đường, mụ mị khi tin vào
những điều “hoang tưởng”. Và giải huyền thoại là xoá bỏ, hoá giải điều lệch
lạc để tìm ra sự thật đích thực. Theo R.Barthes, giải huyền thoại là một kỹ
thuật, một phương pháp tạo ra sự thức tỉnh, một thủ pháp vệ sinh tinh thần
để tẩy rửa những huyền thoại chính trị, văn hoá, xã hội đã được chế tạo ra.
Giải huyền thoại là nỗ lực chống lại sức mạnh khống chế của “doxa” [2].
Trong Những huyền thoại, Roland Barthes đi giải mã 53 huyền thoại hiện
đại của nước Pháp. Và nhìn chung, ta thấy các huyền thoại mà Roland
Barthes đưa ra thuộc rất nhiều lĩnh vực trong xã hội: Những huyền thoại
thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật chiếm một số lượng vượt trội: Diễn viên

sản thực ra là một trong những hình thức chính trị của nhà nước tư sản. Cơ
sở kinh tế của dân chủ tư sản là những điều kiện tiên quyết của phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình phát triển do bản chất giai cấp,
dần dần tính chất tiến bộ của nền dân chủ tư sản đã bị biến dạng. Từ chỗ
quan hệ bình đẳng của công dân trước pháp luật đã thay bằng quan hệ áp
bức và bất công, các phúc lợi tự do cá nhân, phần lớn rơi vào lớp người khá
giả, giới thượng lưu. Còn những người làm thuê, nhân dân lao động lại ít
được hưởng quyền tự do dân chủ thật sự. Ngay cả vấn đề thông tin đại
chúng, nhà nước tư bản vẫn rêu rao là tự do, kỳ thực, nó được sử dụng chủ
yếu vì lợi ích của những tổ chức độc quyền tư bản lớn. Nhiều nhà tư bản lớn
ở phương Tây đã mua các báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình, hãng
phim và những phương tiện tuyên truyền khác để thao túng, uốn nắn dư luận
xã hội theo ý đồ riêng của mình. Đó là thực chất của chế độ dân chủ tư sản
hiện đại. Bởi vậy, Roland Barthes đã đi lật đổ địa vị của linh mục Pierre, và
đặt câu hỏi: Phải chăng đa số dân tộc Pháp, thay vì đi tìm một nền công lý
thực sự, “đã đánh tráo vào đó những biểu hiện của lòng vị tha?”. Với cái nhìn
sắc sảo, khi phân tích phản ứng của công chúng trong một trận đấu vật
(catch), Roland Barthes nhận xét : “Công chúng đòi hỏi chiêm ngưỡng hình
ảnh của sự đam mê, chứ không phải là sự đam mê”, nó thể hiện sự quan tâm
của ông đối với văn hóa đại chúng. Ông không ngại phê phán tính tự mãn của
giới nghệ sĩ, đằng sau cuộc triển lãm nhiếp ảnh mang tên “Đại gia đình con
người”, Roland Barthes lạnh lùng tố cáo cái huyền hoặc trong giá trị nhân
văn chung chung, khi nó bỏ quên các điều kiện sống cụ thể của người da màu
hay người lao động nhập cư. Ông để cho chính trị gia cánh hữu Poujade đánh
lên những cảm xúc phân biệt chủng tộc trong các bài viết “Mấy câu hỏi của
ông Poujade” hay “Poujade và các nhà trí thức”. Và “Bichon ở xứ da đen” là
một văn bản quan trọng về một sự phân biệt chủng tộc. “Ngữ pháp Phi Châu”
là một bài viết về ngôn ngữ, cụ thể hơn, về ngôn ngữ sử dụng trong một số tờ
báo cánh hữu và tạp chí để mô tả, đánh giá và phân tích các cuộc xung đột
đang diễn ra tại Algeria. Ông phơi bày bản chất tư tưởng của thuật ngữ dùng

nhút nhát, lười biếng thậm chí vô trách nhiệm của những người sử dụng
trùng ngôn này. Roland Barthes cũng phê phán lối phê bình Chẳng- chẳng,
một lối phê bình bắt nguồn từ tính đạo đức của các từ ngữ được dùng. Người
ta tưởng rằng lối phê bình đó là mới nhưng ông đã lật ngược quan niệm đó.
Ông quan sát thấy chỉ cần xem những huyền thoại nào khác lộ ra trong
những bài phê bình đó là đủ biết tác giả của nó đứng về phía đảng phái nào.
Ngoài ra, ở lối phê bình Chẳng-chẳng người ta cứ thích xem “phong cách”
của nhà văn như giá trị vĩnh cửu của văn chương, đi theo quan niệm ở Độ
không của lối viết, Roland Barthes cho Văn phong là một giá trị phê bình
hoàn toàn cũ. Bài viết Mấy câu hỏi của ông Poujade cũng là một bài viết có sự
hỗ trợ đắc lực từ ngữ pháp học. Qua những câu trả lời như: “Ngài nhận trách
nhiệm về sự đoạn tuyệt, ngài sẽ phải chịu các hậu quả”, Roland Barthes đã
khái quát về khát vọng mọi hiện tượng diễn ra trọn vẹn trong khuôn khổ nội
tại theo cơ chế có đi có lại đơn giản của giai cấp tư sản. Hình thức ngữ pháp
cân bằng, phép tu từ ăn miếng trả miếng, tất cả theo dạng đẳng thức là thứ
ngữ pháp ưa dùng của giai cấp này.[18]
Với những huyền thoại đưa ra, Roland Barthes đã vạch trần bộ mặt giả dối
của giai cấp tư sản, đó chính là sự “thoát danh” của nó. Và hiện tượng ấy
được Roland Barthes xem xét khá tỉ mỉ. Xã hội Pháp vốn là một xã hội tư sản,
và cho dù lịch sử có đem đến những biến cố gì đi nữa thì bản chất xã hội ấy
vẫn không thay đổi, nó là một môi trường ưu đãi của những biểu đạt huyền
thoại. Như vậy thì giai cấp tư sản “thoát danh” để làm gì? Suy cho cùng chỉ để
thực hiện mục đích điều khiển xã hội của nó. Sự “thoát danh” chính là rũ bỏ
cái tên tư sản trong huyền thoại, qua đó “giai cấp tư sản biến thực tại của thế
giới thành hình ảnh của thế giới, biến Lịch sử thành Bản chất tự nhiên”. Và từ
đó, mọi ý đồ chính trị của giai cấp tư sản được công chúng chấp thuận một
cách hết sức tự nhiên mà không có một sự phản kháng nào.
Roland Barthes đã xem huyền thoại của xã hội tư sản Pháp như một diễn
ngôn và diễn ngôn này có mối liên hệ khăng khít với chính trị. Roland Barthes
đã định nghĩa về huyền thoại ở phương diện ký hiệu học trong xã hội tư sản

hệ giữa người với người. Nó không xâm nhập được vào cuộc sống hào
nhoáng đời thường, không chiếm được một vị thế ưu trong xã hội. “Nó chỉ là
huyền thoại phụ, việc sử dụng nó chẳng liên quan đến chiến lược như trong
trường hợp huyền thoại tư sản, mà chỉ là chiến thuật, hoặc tệ nhất, là sự lệch
lạc”. Huyền thoại ở phe Tả nếu có thì là do tiện thể sinh ra chớ không phải là
do thiết yếu. Nó khô khan, nó không biết sinh sôi nảy nở và tự sáng tạo ra
mình bởi vì nó thiếu năng lực chủ chốt là năng lực bịa đặt. Và “ta có thể nói
rằng theo một nghĩa nào đấy, huyền thoại phe Tả luôn luôn là huyền thoại giả
tạo, huyền thoại tái tạo: do đó mà nó vụng về”. Theo như những phân tích
trên thì huyền thoại mang tính giai cấp nặng nề và qua đó cũng cho ta thấy
được bản chất bành trướng, độc đoán của giai cấp vô sản.
Những vấn đề mà Roland Barthes đưa ra khi đi giải mã huyền thoại vẫn
có một sự liên quan đến cuộc sống hôm nay, không chỉ riêng nước Pháp mà
trên toàn thế giới. Ngày nay khi đọc Những huyền thoại, độc giả vẫn cảm
nhận được cái đáng yêu trong ngòi bút của Roland Barthes, cho dù cuộc sống
đã khốc liệt gấp vạn lần trước và nước Pháp ngày nay cũng đã sinh sôi nảy
nở thêm gấp vạn lần các huyền thoại mới. Nhưng cái cách giải huyền thoại
mà Roland Barthes đưa ra sẽ trang bị một cái nhìn tỉnh táo cho công chúng
đối với thực tế xã hội.

3.2. CẤU TRÚC CỦA KÝ HIỆU HUYỀN THOẠI VÀ BÀI HỌC VỀ “TRÔNG NHÌN
VÀ THƯỞNG THỨC”[2]
Trong Lời nói đầu của Những huyền thoại, Roland Barthes đã viết:
“Ngay từ đầu [ ] tôi cũng đã tin vào một điều mà sau đó tôi tìm cách rút ra
tất cả những hệ quả: huyền thoại là một ngôn ngữ (langage). Vì vậy, tuy
quan tâm đến những sự việc xem ra hết sức xa lạ với mọi loại văn chương
(một trận đấu catch, một món ăn được xào nấu, một cuộc triển lãm đồ nhựa),
tôi không nghĩ là đi ra ngoài lĩnh vực ký hiệu học đại cương của thế giới tư
sản chúng ta, mà tôi đã tiếp cận triền dốc văn chương trong những tiểu luận
trước ”

Thuộc về ngôn ngữ, R.Barthes cho rằng “huyền thoại thuộc về một khoa
học tổng quát mở rộng của ngôn ngữ học, và đó là ký hiệu học”. Vì vậy,
nghiên cứu huyền thoại, cũng như nghiên cứu lời nói, chính là nghiên cứu các
ký hiệu mà Saussure đã chủ trương trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương.
Ferdinand de Saussure (1857-1913) là nhà ngôn ngữ học Thuỵ Sĩ, người
mở đường cho ngôn ngữ học hiện đại và sáng lập ngành ngôn ngữ học cấu
trúc, tuy rằng từ “cấu trúc” chưa một lần nào được ông nói đến. Trong Giáo
trình ngôn ngữ học đại cương (Cours de linguistique générale, 1916) xuất
bản ba năm sau khi ông qua đời, Saussure dùng hai từ phân biệt “langage” và
“langue”, trong khi tiếng Việt và tiếng Anh chỉ có một từ tương đương là
“ngôn ngữ” hoặc “language”. Ngôn ngữ (langage) là hoạt động nói năng,
không chỉ bao gồm ngôn ngữ nói mà rộng hơn (người ta có thể nói với nhau
bằng các động tác ). Ngôn ngữ (langue) là tập hợp các ký hiệu được một
cộng đồng sử dụng để liên lạc, trao đổi với nhau, như tiếng Việt, tiếng Pháp,
tiếng Anh, tiếng Trung Cùng với các khái niệm langage và langue là khái
niệm “lời nói” (parole); đó là việc sử dụng cụ thể các ký hiệu ngôn ngữ trong
ngữ cảnh nhất định. Ngôn ngữ học chỉ là một nhánh của ký hiệu học nói
chung, nhưng là nhánh quan trọng và được phát triển mạnh mẽ nhất
[19;385].
Trong ngôn ngữ (langue), ông phân biệt hai mặt: cái biểu đạt (le
signifiant) và cái được biểu đạt (le signifié). Cái được biểu đạt là khái niệm về
một sự vật, một đối tượng nào đó được hình thành trong đầu thông qua cái
biểu đạt; còn cái biểu đạt là âm thanh của một từ phát ra để chỉ khái niệm
kia. Mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là một mối quan hệ có
tính chất võ đoán và vô cớ hoàn toàn. Chẳng hạn, chúng ta không thể giải
thích lý do vì sao lại dùng từ gấu để chỉ một loài động vật, và cũng chẳng thể
giải thích vì sao tiếng Anh lại dùng từ Bear để chỉ con gấu, còn tiếng Pháp lại
dùng từ ours…
Theo R.Barthes, nếu như trong ngôn ngữ thông thường chỉ có hai vế: cái
biểu đạt biểu thị cái được biểu đạt theo một đường đơn giản, thì trong mọi hệ

ngước nhìn lên. Đó đã là nghĩa của hình ảnh. Nhưng ông cũng nhận ra rằng,
hình ảnh ấy lại đưa đến một sự biểu đạt nữa: “biểu đạt rằng nước Pháp là
một Đế quốc lớn, rằng tất cả con dân của Pháp, không phân biệt màu da, đều
phụng sự trung thành dưới lá cờ của Pháp, rằng chẳng có lời lẽ nào đáp lại
bọn gièm pha cái gọi là chủ nghĩa thực dân tốt hơn là nhiệt tình của anh da
đen kia phục vụ những kẻ bị coi là áp bức mình”. Vậy là ngay lúc này đã hiện
ra một hệ thống ký hiệu gia tăng: có cái biểu đạt được tạo thành bởi hệ thống
ký hiệu trước (một anh lính da đen chào kiểu nhà binh Pháp), có cái được
biểu đạt (sự hỗn hợp có dụng ý giữa tính chất Pháp và tính chất nhà binh), và
cuối cùng là có sự hiện diện của cái được biểu đạt thông qua cái biểu đạt.
[19;302]
Roland Barthes đã hình dung và sơ đồ hóa ký hiệu Huyền thoại.
Sơ đồ hiển thị có hai hệ thống ký hiệu chèn lên nhau. Hàng thứ nhất và
hàng thứ hai của sơ đồ hợp thành hệ thống ngôn ngữ; hàng thứ hai và hàng
thứ ba hợp thành hệ thống huyền thoại. Cái ký hiệu của hệ thống thứ nhất
trở thành cái biểu đạt mà huyền thoại sử dụng để xây dựng hệ thống của
riêng mình: CÁI BIỂU ĐẠT – CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT – KÝ HIỆU. R.Barthes gọi hệ
thống thứ nhất là ngôn-ngữ-đối-tượng (langue-objet), vì nó là ngôn ngữ mà
huyền thoại dùng để xây dựng hệ thống của mình, còn huyền thoại là siêu-
ngôn-ngữ (méta-langage), vì nó là ngôn ngữ thứ hai, trong đó người ta nói
về ngôn-ngữ-đối-tượng.
Sau khi phác thảo ra sơ đồ trên, Roland Barthes bắt đầu định danh cho các
vế trong hệ thống huyền thoại để tiến tới phân tích từng vế. Và sự định danh
các vế của ông được chúng tôi thêm vào ngay trong sơ đồ trên (trong dấu
ngoặc đơn sau mỗi vế). Trước hết về CÁI BIỂU ĐẠT trong huyền thoại có thể
được nhìn từ hai quan điểm: nó vừa là vế kết thúc của hệ thống ngôn ngữ và
vừa là vế khởi đầu của hệ thống huyền thoại, như vậy thì phải có hai cái tên
cho nó: trên bình diện ngôn ngữ, ông gọi cái biểu đạt là nghĩa; trên bình diện
huyền thoại, ông gọi cái biểu đạt là hình thức. Đối với CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT,
chẳng có sự mập mờ nào nên ông gọi nó là khái niệm. Vế thứ ba là mối quan

như hình thức mà nó đầy ắp một tình huống, qua nó có cả một câu chuyện
mới được cấy vào huyền thoại, hay nói khác hơn lồng vào trong khái niệm là
một nhận thức nào đó về thực tại. Đối với ví dụ anh da đen chào cờ: với tư
cách là hình thức thì nghĩa trong đó chẳng đáng kể nhưng với tư cách là khái
niệm thì nó lại được kết nối với toàn bộ thế giới: “với Lịch sử đại cương nước
Pháp, với những cuộc phiêu lưu thuộc địa của nó, với những khó khăn của nó
hiện nay”. Roland Barthes chỉ ra rằng, trong huyền thoại, một cái được biểu
đạt có thể có nhiều cái biểu đạt, như về tính chất của đế quốc Pháp ông có thể
tìm thấy cả ngàn hình ảnh khác để biểu đạt điều đó chứ không chỉ là hình ảnh
của anh da đen chào kiểu nhà binh. Cũng có nghĩa là khái niệm nghèo hơn cái
biểu đạt rất nhiều và khái niệm thường trở đi trở lại, và chính cái tình trạng
lặp đi lặp lại của khái niệm qua nhiều hình thức khác nhau sẽ giúp các nhà
huyền thoại học giải mã huyền thoại, bởi vì khi một hành vi nào đó được
nhấn mạnh nó sẽ làm lộ ra cái ý định của hành vi đó. Như vậy, nếu muốn giải
mã huyền thoại thì cần phải gọi tên các khái niệm. Những từ ngữ có trong Từ
điển không thể dùng để gọi tên khái niệm vì nó là do Từ điển cung cấp nên nó
không có tính lịch sử, không phù hợp với định nghĩa về khái niệm, như vậy sự
xuất hiện của thuật ngữ mới là không tránh khỏi (ví dụ như : tính chất đế
quốc Pháp), và thuật ngữ mới này phải được “xây dựng trên một quy tắc
tương xứng hết sức hợp lẽ”.
Cuối cùng là SỰ BIỂU ĐẠT, nó là sự kết hợp giữa hai vế đầu và cũng là vế
duy nhất thực sự hoàn thành một cách trọn vẹn, đầy đủ. Roland Barthes đã
chỉ ra tính chất của sự biểu đạt (do tính hai mặt: vừa trống rỗng vừa đầy ắp
của cái biểu đạt quyết định). Huyền thoại là ngôn từ căn bản được xác lập bởi
ý định của nó cho nên nó có tính chất đòi hỏi, căn vặn, tức là huyền thoại luôn
xuất phát từ một khái niệm lịch sử cụ thể, nó trực tiếp nổi lên từ chuyện xảy
ra ngẫu nhiên (như huyền thoại anh da đen chào cờ xuất phát từ việc đế quốc
bị đe dọa) và nó thúc người tạo ra nó phải tiếp nhận tính chất nhập nhằng
lan rộng của nó. Và lời nói căn vặn của huyền thoại cũng đồng thời là lời nói
ngưng kết: tức nó “điêu ngoa” ở chỗ sau khi nó tác động buộc người sáng tạo

hiệu mà chỉ thấy nó là hệ thống quy nạp và huyền thoại được đọc như một hệ
thống sự việc trong khi nó chỉ là hệ thống ký hiệu.
Đi sâu giải mã cấu trúc ký hiệu huyền thoại, Roland Barthes cũng chỉ ra
đặc thù của huyền thoại: “huyền thoại luôn luôn là sự đánh cắp ngôn ngữ
(language)”. Như vậy có thứ ngôn ngữ nào không bị huyền thoại đánh cắp
không? Roland Barthes cho rằng “có lẽ chỉ độ không là có thể cưỡng lại được
với huyền thoại”, ta bắt gặp lại tinh thần trong tác phẩm “Độ không của lối
viết”, “độ không” là tinh thần vượt thoát khỏi những ràng buộc xã hội để đạt
đến tự do của Lối viết, ở đây “độ không” được xem như tinh thần giải huyền
thoại, chống lại sự cuồng tín. Nhưng lại có một điều đau lòng mà Roland
Barthes cũng đã minh chứng rằng:“độ không của lối viết” là điều không bao
giờ đạt được, không thể nào có được, cho nên bất cứ ngôn ngữ nào cũng trở
thành mồi của huyền thoại: từ ngôn ngữ cụ thể (langue, thứ ngôn ngữ
thường xuyên bị huyền thoại đánh cắp hơn cả), đến ngôn ngữ toán học và
ngay cả ngôn ngữ thơ ca, là thứ ngôn ngữ luôn cố hết sức để cưỡng lại huyền
thoại. Nhưng càng cưỡng lại thì nó lại càng trở thành con mồi lý tưởng của
huyền thoại: “sự lộn xộn bề ngoài của các ký hiệu, diện mạo thơ ca của trật tự
bản chất, bị huyền thoại bắt lấy, bị biến thành cái biểu đạt trống rỗng. Nó sẽ
dùng để biểu đạt thơ ca”. Như vậy thì việc trừ khử huyền thoại từ bên trong
là khó có thể, bởi chính cái hành động thực hiện để thoát ra khỏi huyền thoại
đến lượt nó lại trở thành mồi của huyền thoại: “huyền thoại luôn luôn có thể
chung cục biểu đạt sự việc người ta cưỡng lại nó”. Từ đó, Roland Barthes đã
chỉ ra một cách để trừ khử huyền thoại: nếu huyền thoại đánh cắp ngôn ngữ
thì chúng ta đánh cắp lại huyền thoại, lấy nó làm cái biểu đạt để tạo thành
một chuỗi ký hiệu thứ ba, và huyền thoại tái tạo ấy sẽ là một huyền thoại thật
sự: nhằm để biến cái huyền thoại đầu tiên trở thành một thứ ngây ngô. Ông
lấy ví dụ cho việc này từ tác phẩm Bouvarrd và Pécuchet của Flaubert: ông
phân tích rằng sự biểu đạt của tác phẩm chính là “lối khoa trương của
Bouvarrd và Pécuchet”. Và Flaubert đã can thiệp vào huyền thoại ấy bằng
cách: lấy lối khoa trương của Bouvarrd và Pécuchet làm hình thức để xây

che chở”. Dù gì đi nữa thì những huyền thoại như chiếc xe DS là một đối
tượng về phương diện công nghệ, nó mang trong nó sự tiến bộ của công
nghệ, và cái hiện thực ấy, nhà huyền thoại học không thể nói về nó được. Đó
là những khó khăn mang tính thời đại, nhưng nhà huyền thoại học, trong nỗ
lực của mình, vẫn luôn tìm kiếm “một sự dung hòa giữa hiện thực và con
người, giữa miêu tả và giải thích, giữa đối tượng và tri thức”. Và Roland
Barthes khẳng định, đấy là điều mà chúng ta phải làm.
3.3. ĐÓNG GÓP CỦA ROLAND BARTHES QUA NHỮNG HUYỀN THOẠI VÀ Ý
NGHĨA CỦA TÁC PHẨM VỚI CÔNG CHÚNG VIỆT NAM
Viết Những huyền thoại là Roland Barthes đã xác định một vị trí cho mình,
vị trí của một nhà huyền thoại học, như ông đã nói, tự xem mình đứng bên
ngoài và là “kẻ thù” của tất cả những quan niệm chính thống về chính trị, văn
hóa, xã hội. Khi mà Huyền thoại tung hoành trong cuộc sống xã hội hiện đại
khiến công chúng quên đi rằng nó chỉ là “doxa”, cũng chỉ là những quan niệm
khả hữu về một vấn đề nào đó, thì trách nhiệm của nhà huyền thoại học được
đặt ra. Với Những huyền thoại, Roland Barthes không thể xóa sổ khả năng chi
phối của “doxa”, nhưng ông đã làm suy yếu đi cái quyền năng của nó bằng
cách xác định vị trí và sử tính của nó.
Ở Những huyền thoại, Roland Barthes đã phê phán ý hệ tư sản theo hướng
marxist. Ông phê phán xã hội của chúng ta, một môi trường ưu đãi cho
những huyền thoại hoành hành, môi trường của một “chế độ tư hữu nhất
định” và một “ý hệ nhất định”, hiện tượng “thoát danh” có chủ ý che giấu đi
tất cả những gì liên quan chặt chẽ sâu xa đến ý hệ, để chỉ bày ra những cái dễ
dàng diễn tiến không gặp phải phản kháng nào. Ngay cả nghệ thuật được
mệnh danh là lĩnh vực tiên phong cũng trở thành một dấu ngoặc đơn cho một
ý hệ tư sản bao trùm; “nghệ thuật tiền phong chỉ đưa thành đối tượng của
mình con người bị bỏ rơi, mà trốn tránh hiện tượng con người tha hóa (một
khái niệm trọng tâm của chủ nghĩa Marx)”[19;13]. Với Những huyền thoại,
Roland Barthes đã sử dụng cách nhìn và phương pháp phê phán marxist,
nhưng ông không phải là một nhà marxist, trong bài báo ngắn “Tôi có phải là

tính vô tận, tiềm tàng. Nói như Gilles Deleuze, đó là hệ thống “đa phức” và
“tăng sinh”. Ở điểm này, tư tưởng của Roland Barthes theo xu hướng hậu
hiện đại [22].
Những huyền thoại là một sự ứng dụng lý thuyết ký hiệu vào đời sống văn
học, điều mà trước đây chưa ai từng làm, và đây cũng là một đóng góp cơ
bản của Roland Barthes cho văn học. Ông phân tích cấu trúc ký hiệu huyền
thoại và đưa đến cho công chúng bài học về sự nhìn nhận và thưởng thức
huyền thoại. Roland Barthes đi phân tích huyền thoại nhưng cũng vừa là
sáng tạo huyền thoại. Ông đã phát hiện những huyền thoại ở chỗ không ai
ngờ, nhìn nhận thế giới kí hiệu ở nơi người ta ít thấy.
Roland Barthes đã đặt huyền thoại trong mối liên hệ với kí hiệu học và tư
tưởng marxist, soi chiếu những vấn đề tưởng như đã cũ dưới một thứ ánh
sáng mới, Roland Barthes đã kết nối một khái niệm truyền thống với một
hướng nghiên cứu mới và một hệ tư tưởng tiên tiến lúc bấy giờ [22]. Đây
cũng chính là một đóng góp quan trọng của Roland Barthes cho việc nghiên
cứu huyền thoại.
Những đóng góp trên của Roland Barthes cho thấy tâm huyết của ông đối
với đất nước và thời đại mình sống. Những huyền thoại, ra đời ở Pháp nhưng
công dụng của nó lại phổ biến trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
Trên lĩnh vực tư tưởng, Những huyền thoại mở ra một chân trời nhận
thức mới cho công chúng Việt Nam về những vấn đề xã hội hiện đại. Xã hội
Việt Nam đang tiến lên hiện đại hóa, những huyền thoại hiện đại xuất hiện
cũng không ít và chúng ta vẫn đón nhận nó như chính công chúng Pháp của
những năm 50, như vậy thì tác phẩm của Roland Barthes sẽ là một sự đánh
động, thức tỉnh tư tưởng để ta nhìn nhận lại mọi vấn đề đã và đang diễn ra
trong xã hội hôm nay. Có thể dẫn ra một vài huyền thoại trong xã hội Việt
Nam hiện đại như : huyền thoại cụ rùa ở Hồ Gươm, vì cụ có liên quan đến
truyền thuyết của Vua Lê Lợi mà cho đến hôm nay người dân Việt Nam vẫn
sùng bái cụ như một vị thần và tạo nên một sự mê tín đến mức cực đoan : rất
nhiều người cho rằng mỗi lần cụ nổi lên là điềm báo may mắn, nhưng khổ

đại, như vậy giá trị của tác phẩm là muôn thuở. Bất cứ lúc nào ta cũng có thể
mang bài học huyền thoại ra và soi chiếu vào thực tế xã hội, đấy cũng là điều
hữu ích giá trị nhất mà Roland Barthes để lại cho chúng ta qua tác phẩm này
của ông.

MỤC LỤC
Tran
g
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Kết cấu khóa luận 8
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ ROLAND BARTHES VÀ HAI TÁC PHẨM ĐƯỢC DỊCH Ở VIỆT
NAM: ĐỘ KHÔNG CỦA LỐI VIẾT (LE DEGRÉ ZÉRO DE L’ÉCRITURE) VÀ
NHỮNG HUYỀN THOẠI (MYTHOLOGIES)
1.1. Thân thế và sự nghiệp Roland Barthes 10
1.2. Giới thiệu hai tác phẩm: Độ Không Của Lối Viết và Những Huyền Thoại
14
1.2.1. Bối cảnh ra đời tác phẩm 14
1.2.2. Về bản dịch 16
1.2.2.1. Độ không của lối viết (Le degré zéro de L'écriture) 17
1.2.2.2. Những huyền thoại (Mythologies) 19
1.2.3. Tóm tắt tác phẩm 20
1.2.3.1. Độ không của lối viết (Le degré zéro de L'écriture) 20
1.2.3.2. Những huyền thoại (Mythologies) 22
CHƯƠNG 2
QUAN NIỆM CỦA ROLAND BARTHES TRONG TÁC PHẨM ĐỘ KHÔNG CỦA LỐI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status