Việc vận dụng các quy định pháp lý của liên minh châu âu về chất lượng và nhãn hiệu sản phẩm trong xuất khẩu hàng hóa của việt nam vào thị trường này - Pdf 24

Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
Lời mở đầu
Thế kỉ 21 là thế kỉ của kinh tế tri thức, với xu hớng khu vực hoá và toàn cầu
hoá đang đặt ra cho các hoạt động thơng mại quốc tế những cơ hội mới. Chính vì
vậy, đẩy mạnh xuất khẩu là phơng hớng chiến lợc đợc Đại hội Đảng IX xác định
và chỉ đạo thực hiện theo tinh thần : Việt Nam sẵn sàng làm bạn, làm đối tác tin
cậy của tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập
dân tộc và phát triển. Để thực hiện chiến lợc và định hớng xuất khẩu là phấn
đấu đạt tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới đạt khoảng 114 tỷ USD, tăng
16%/năm, các doanh nghiệp Việt Nam không thể không đẩy mạnh xuất khẩu.
Vấn đề đặt ra là hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu đi đâu là có lợi thế nhất.
Thị trờng Liên minh Châu Âu EU là một thị trờng tiệu thụ rộng lớn, đại
diện cho 6,5% dân số thế giới (382,5 triệu) nhng chiếm tới 1/5 thơng mại toàn
cầu. EU là thị trờng nhập khẩu lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, nhu cầu nhập khẩu
hàng năm đa dạng và phong phú. EU nhập rất nhiều các mặt hàng nông sản,
khoáng sản, thuỷ hải sản và dệt may. Đây là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam. Hàng giày dép, dệt may, thuỷ hải sản, đồ gốm đồ gia dụng, cà
phê, chè và gia vị của Việt Nam đang là những mặt hàng đợc a chuộng tại thị tr-
ờng Châu Âu và triển vọng phát triển các mặt hàng này rất khả quan. Vì vậy, có
thể nói rằng EU là thị trờng xuất khẩu quan trọng và tiềm năng của Việt Nam.
Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá sang EU, Việt Nam đã phần nào có đợc sự tăng
trởng ổn định và tạo thuận lợi cho Việt Nam gia nhập tổ chức thơng mại thế giới
(WTO).
Trong hơn 10 năm kể từ khi Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại
giao với EU, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam sang EU không
ngừng tăng cả về chiều rộng và chiều sâu. Tuy nhiên tỷ trọng xuất khẩu của Việt
Nam trong kim ngạch ngoại thơng của EU còn khá khiêm tốn và cha tơng xứng
với tiềm năng và lợi ích của hai bên.
Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân quan trọng hạn chế cơ hội
xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam chính là hành lang pháp lý hết sức
chặt chẽ của EU. Những quy định pháp lý này đã trở thành những rào cản đối với

cha mẹ, các anh chị và những ngời thân của tôi, những ngời đã ủng hộ tôi cả về
vật chất lẫn tinh thần trong suốt 4 năm học vừa qua.
Hà nội tháng 12 năm 2003
Sinh viên
Vũ Thị Nam Phơng
2
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
Chơng 1
Liên minh Châu Âu và những quy định pháp lý
về chất lợng - nhãn hiệu sản phẩm xuất khẩu
vào thị trờng này
1.1 Khái quát về liên minh Châu Âu
1.1.1 Tổng quan về liên minh Châu Âu
Liên minh Châu Âu là một tổ chức liên kết kinh tế khu vực lớn nhất, thành
công nhất trên thế giới và đợc coi là sự mẫu mực của xu thế hợp tác kinh tế quốc
tế. Một tổ chức thực hiện có kết quả quá trình hợp nhất về kinh tế giữa các quốc
gia độc lập về chính trị theo thiết chế thị trờng thống nhất và chặt chẽ. Hiện nay
cùng với Mỹ, Nhật Bản Liên minh Châu Âu đang là một trong ba trung tâm kinh
tế hùng mạnh trên thế giới.
Để có đợc những thành tựu nh ngày nay, EU đã phải trải qua một thời gian
dài hình thành và phát triển với những bớc thăng trầm của nó, đặc biệt là cả quá
trình nghiên cứu và những nỗ lực to lớn của các nớc thành viên trong liên kết
kinh tế.
Sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, một mặt, trớc yêu cầu cấp thiết
phải khôi phục và phát triển nền kinh tế bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, các
nớc Tây Âu nhận thấy cần phải có sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các nớc Tây Âu
với nhau để xây dựng và ngăn chặn chiến tranh sau này có thể nổ ra giữa các nớc
Châu Âu, đặc biệt là phải đổi mới kinh tế, lấy sự hợp tác về sản xuất thay cho sự
đối địch về kinh tế. Mặt khác, quá trình khách quan xuất phát từ đòi hỏi phát
triển của lực lợng sản xuất do đời sống kinh tế quốc tế hoá ngày càng rộng rãi

mở ra một chơng mới trong lịch sử quan hệ giữa các nớc Tây Âu. Những thành
tựu về kinh tế và chính trị mà ECSC mang lại đã dẫn đến việc ngày 25/3/1957,
tại Rome sáu nớc thành viên đã cùng nhau kí kết hiệp ớc thiết lập Cộng đồng
kinh tế Châu Âu (EEC) và cộng đồng năng lợng nguyên tử Châu Âu
(EURATOM) với nhiệm vụ đẩy mạnh sáng tạo phát triển công nghiệp nguyên tử,
4
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
đảm bảo cung cấp nguyên liêu và bảo vệ môi trờng, đảm bảo sự hoà nhập kinh
tế, tiến tới một thị trờng thống nhất tạo ra sự tự do lu thông hàng hoá và nguồn
nhân lực trong toàn khối. Năm 1967 các tổ chức trên hợp nhất thành một tổ chức
chung có tên là Cộng đồng Châu Âu (EC). Trên cơ sở những kết quả đã đạt đợc
cả về mặt kinh tế cũng nh chính trị, ngày 1/1/1973 EC mở cửa đón ba thành
viên mới: Anh, Ailen và Đan Mạch. Sau lần mở cửa thứ nhất, với việc gia nhập
của các nớc Tây Bắc Âu, Cộng đồng Châu Âu mở cửa lần thứ hai đón thêm ba n-
ớc Nam Âu: Hy Lạp (1981), Tây Ban Nha (1986) và Bồ Đào Nha (1986). Nhờ
những thành công đã đạt đợc trên phơng diện kinh tế và chính trị, Cộng đồng
kinh tế Châu Âu tiếp tục mở rộng các quá trình liên kết rộng rãi giữa các nớc và
các dân tộc. Đỉnh cao những nỗ lực của quá trình thống nhất Châu Âu đợc thể
hiện qua cuộc họp thợng đỉnh các nớc thuộc cộng đồng kinh tế Châu Âu tổ chức
tại Maastricht (Hà Lan) tháng 12 năm 1991. Hội nghị đã thông qua hiệp ớc
Maastricht với những nội dung sau: xây dựng ngôi nhà chung Châu Âu, thành
lập liên minh kinh tế tiền tệ (EMU) và liên minh chính trị (EPU). Ngày1/1/1993,
hiệp ớc Maastricht chính thức có hiệu lực. EC gồm 12 nớc trở thành Liên Minh
Châu Âu (EU). Cho đến nay, EU gồm 15 nớc thành viên, trong đó có 3 thành
viên mới là áo, Phần Lan và Thuỵ Điển (gia nhập năm 1995).
Có thể nói quá trình ra đời và phát triển của EU gần nửa thế kỷ qua là cả
một quá trình đấu tranh gay gắt, một quá trình tranh chấp và thoả hiệp. Song với
nỗ lực to lớn và cam kết thống nhất về mục tiêu của các nớc thành viên, EU đã
phát triển vợt bậc, xúc tiến liên kết trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực
kinh tế, tiền tệ với việc tạo lập thị trờng chung và tiến đến thiết lập một khu vực

chung đã tiến thêm một bớc quan trọng. Qua Định ớc này các nớc trong cộng
đồng đã nhấn mạnh đến việc xoá bỏ các đờng biên giới nội bộ, tạo thị trờng
chung cho sự lu thông hàng hoá, lao động dịch vụ và vốn. Ngày 01/01/1993, sau
bảy năm tích cực chuẩn bị, toàn thể cộng đồng Châu Âu chính thức trở thành
một thị trờng chung đợc giải phóng khỏi các đờng biên giới nội bộ.
Một bớc phát triển tất yếu trong tiến trình dẫn tới thị trờng chung là việc
thống nhất các nớc trong EU ở lĩnh vực tiền tệ. Nội dung chính ở đây là xây
dựng một liên minh kinh tế và tiền tệ Châu Âu (EMU) và đồng tiền chung Châu
Âu (EURO). Các hoạt động đáng kể trên góp phần thúc đẩy nền kinh tế của các
nớc phát triển đồng đều, tăng sức cạnh tranh với hàng hoá của các nớc khác. Tuy
nhiên để đợc tham gia vào Liên minh kinh tế tiền tệ, các nớc trong khối EU phải
đạt đợc 5 tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Thiếu hụt ngân sách không đợc cao quá 3% GDP của nớc mình;
- Nợ Nhà nớc không đợc cao quá 60% GDP của nớc mình;
- Lạm phát không đựợc cao quá 1,5% mức bình quân của các chỉ tiêu này
ở 3 nớc trong khối có nền kinh tế ổn định nhất;
6
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
- Lãi suất tín dụng không cao quá mức bình quân của các chỉ tiêu này ở ba
nớc trong khối có nền kinh tế ổn định nhất;
- Trong hai năm gần đây đồng bản tệ không bị phá giá.
Đối chiếu với các tiêu chuẩn trên thì hiện đã có 12 trong số 15 nớc thành
viên EU đạt đủ tiêu chuẩn EMU.
Ngày 01/01/1999, đồng tiền chung Châu Âu đã chính thức có mặt trên thị
trờng. Đồng EURO ra đời đã biến các nớc EU thành một thực thể thơng mại duy
nhất, một thị trờng rộng lớn, nền kinh tế của các nớc thành viên có thể ổn định
hơn và phát triển một cách đồng đều hơn, khả năng cạnh tranh so với Mỹ và
Nhật Bản cũng từ đó mà tăng lên. Có thể nói việc thiết lập thị trờng chung là một
thành quả lớn nhất trong quá trình liên kết kinh tế Châu Âu, là nền tảng quan
trọng cho các giai đoạn tiếp theo của tiến trình nhất thể hoá EU.

áp dụng một chính sách ngoại thơng chung với các nớc ngoài khối. Uỷ ban Châu
Âu (EC) là ngời đại diện duy nhất cho liên minh trong việc đàm phán ký kết các
hiệp định thơng mại và dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vực này. Các biện pháp đợc
áp dụng phổ biến trong chính sách ngoại thơng của EU là thuế quan, hạn ngạch
hạn chế về chất lợng, hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu.
Đối với hàng xuất khẩu theo hạn ngạch vào khối, mức thuế trung bình đánh
vào hàng dệt may là 9%, hàng nông sản là 18% còn hàng công nghiệp là 2%.
Chính sách ngoại thơng của EU từ 1951 đến nay phân thành những nhóm
chủ yếu sau: Nhóm chính sách khuyến khích xuất khẩu, nhóm chính sách thay
thế nhập khẩu, nhóm chính sách tự do hoá thơng mại và nhóm chính sách hạn
chế xuất khẩu tự nguyện.
Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thơng mại, EU đã thực hiện các
biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu và chống hàng giả. EU đã
ban hành chính sách chống bán phá giá và áp dụng thuế chống xuất khẩu bán
phá giá để đấu tranh với những trở ngại trong buôn bán với thế giới. Có thể kể
đến việc đánh thuế 30% đối với những sản phẩm điện tử của Hàn Quốc va
Singapore, giày dép của Trung Quốc, đánh thuế 50%-100% đối với các xí nghiệp
sản xuất camera truyền hình của Nhật Bản trong khi đó các biện pháp chống
hàng giả của EU cho phép ngăn chặn không cho nhập khẩu những hàng hoá
đánh cắp bản quyền. Bên cạnh việc áp dụng các biện pháp chống cạnh tranh
không lành mạnh trong thơng mại, EU còn sử dụng một biện pháp để đẩy mạnh
thơng mại với các nớc đang và chậm phát triển. Đó là hệ thống u đãi thuế quan
phổ cập (GSP). Bằng cách này, EU có thể làm cho nhóm các nớc đang phát triển
(trong đó có Việt Nam) và nhóm nớc chậm phát triển dễ dàng thâm nhập vào thị
trờng của mình. Sắp tới quốc hội EU sẽ thông qua hệ thống u đãi thuế quan phổ
cập mới, hệ thống này sẽ bao gồm 2 nhóm sản phẩm của các nớc đang phát triển
8
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
đợc hởng u đãi thuế quan phổ cập của EU thay vì 4 nhóm sản phẩm nh đang áp
dụng hiện nay, đó là sản phẩm nhạy cảm và sản phẩm không nhạy cảm. Hàng

hàng hoá. Tuy có những khác biệt nhất định về tập quán và thị hiếu tiêu dùng nh-
ng 15 nớc thành viên đều là những quốc gia nằm trong khu vực Tây và Bắc Âu
9
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
nên có những đặc điểm tơng đồng về kinh tế, văn hóa. Trình độ phát triển kinh tế
xã hội của các nớc khá đồng đều cho nên ngời dân thuộc khối EU có những
điểm chung về sở thích và thói quen tiêu dùng.
Ngời tiêu dùng Châu Âu có sở thích và thói quen sử dụng các sản phẩm có
nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới. Họ cho rằng, những sản phẩm này gắn liền với
chất lợng sản phẩm và có uy tín lâu đời, cho nên dùng những sản phẩm mang
nhãn hiệu nổi tiếng sẽ an tâm về mặt chất lợng và an toàn cho ngời sử dụng. Vì
vậy trong nhiều trờng hợp mặc dù sản phẩm giá rất đắt nhng họ vẫn mua mà
không thích chuyển sang tiêu dùng những sản phẩm không nổi tiếng khác cho dù
giá rẻ hơn nhiều.
Ngời tiêu dùng EU thích sử dụng và có thói quen tiêu dùng một số hàng
hoá sau:
- Hàng may mặc và giày dép: Ngời dân áo, Đức, Hà Lan chỉ mua hàng may
mặc hoặc giày dép không chứa chất nhuộm có nguồn gốc hữu cơ (azo-dyes).
Khách hàng EU đặc biệt quan tâm tới chất lợng và thời trang của hai loại sản
phẩm này. Đối với hàng giày dép, ngời EU có xu hớng đi giầy vải. Xu hớng này
càng tăng lên tỷ lệ thuận với xu hớng tiêu dùng giày dép tăng hàng năm của EU.
Đối với mặt hàng này nhu cầu thay đổi nhanh chóng, nhất là về mẫu mốt.
- Thuỷ hải sản: Ngời tiêu dùng EU không mua những sản phẩm thuỷ hải
sản bị nhiễm độc do tác động của môi trờng hoặc do các chất phụ gia không đợc
phép sử dụng. Đối với những sản phẩm thuỷ hải sản qua chế biến, ngời Châu Âu
chỉ dùng những sản phẩm đóng gói có ghi tên sản phẩm, nơi sản xuất, các điều
kiện bảo quản và sử dụng, mã số và mã vạch. Họ tẩy chay các loại thuỷ sản nhập
khẩu có chứa khuẩn Salmonela, độc tố Lustamine, nhiễm V.Paraheamoliticus,
nhiễm V. Cholerea. Ngời Châu Âu ăn ngày càng nhiều thuỷ sản vì họ cho rằng sẽ
giảm đợc béo mà vẫn khoẻ mạnh.

thời hạn quy định, không thoả mãn các yêu cầu về chất lợng hợp đồng. Các nhà
nhập khẩu Châu Âu rất cẩn trọng trong việc lựa chọn các nhà cung cấp, các
doanh nghiệp thờng yêu cầu các nhà cung cấp ký quỹ 5% giá trị hợp đồng,
khoản tiền này sẽ mất nếu không giao hàng.
1.1.2.2 Những điểm khác biệt
EU một thị trờng chung thống nhất trong đó, hàng hoá dịch vụ, vốn và sức
lao động đợc tự do lu thông giữa 15 nớc thành viên và đến nay đã lu hành đồng
tiền chung Euro trong 12 trên 15 nớc thành viên. Tuy nhiên dù không có rào cản
giữa các quốc gia thành viên, các quốc gia mở cửa cho các quốc gia thành viên
khác, các nền kinh tế thống nhất và hệ thống quy định, luật pháp hoà hợp, tuy
nhiên tính chất thị trờng của các nớc có những điểm khác biệt đáng kể do sự
khác biệt về dân số, diện tích tôn giáo, phong tục tập quán,văn hoá-xã hội, khí
hậu, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, hệ thống kinh tế chính trị khác nhau.
11
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
Mỗi quốc gia đều có nguồn gốc dân tộc cơ bản có những giá trị truyền thống và
những đặc trng văn hoá của riêng mình. Điều đó đã tạo nên những nét riêng biệt
trong tính cách và thị hiếu tiêu dùng EU. Vì vậy, chúng ta phải chú ý đến yếu tố
này khi làm ăn buôn bán với từng nớc trong khu vực này.
Để thiết lập đợc mối quan hệ với các thơng nhân EU cần lu ý một số tính
cách cá biệt: với thơng nhân Anh mặc dù có sự quen biết lâu nhng việc chọn bạn
hàng rất chậm chạp theo kiểu phớt ăng lê, ngợc lại với các thơng nhân Đức,
Tây Ban Nha thì ngay ở lần tiếp xúc đầu tiên cũng có thể thiết lập các mối quan
hệ buôn bán. Tuy nhiên với thơng nhân Đức thì phải cung cấp cho họ đầy đủ các
thông tin về doanh nghiệp, về sản phẩm mà họ yêu cầu để họ nghiên cứu động
thái phát triển của doanh nghiệp một vài năm, còn đối với thơng nhân Tây Ban
Nha chỉ cần đa mẫu hàng và nội dung giao dịch là có thể bàn việc buôn bán.
Doanh nghiệp Pháp chủ yếu quan tâm đến giá cả và họ thích gán mác lên hàng
hoá theo kiểu Pháp. Doanh nghiệp Đức không chấp nhận mua hàng theo catalô
trong khi các doanh nghiệp Anh lại rất quan tâm đến chất lợng và sòng phẳng,

thức xã giao thăm hỏi mà đi thẳng vào vấn đề, công việc.
Trong giao dịch quốc tế quan hệ cá nhân có tác dụng khá quan trọng, xuất
phát từ thiện cảm các bạn hàng EU có thể mời đối tác về nhà dự tiệc. Nhng nên
nhớ: ở Đan Mạch, một nhà buôn đợc mời đến nhà đồng nghiệp thì nên nhớ mang
theo hoa tơi hoặc quà tặng; ở Na Uy nếu muốn đợc đối xử thật tốt thì ngay hôm
bữa tiệc ngời đợc mời nên tặng chủ nhà một món quà; ở Pháp trớc hôm nhận lời
dự tiệc hay đến thăm cũng phải tặng hoa trớc cho ngời chủ. Thơng nhân Pháp rất
thích sau mỗi đợt buôn bán kết hợp tổ chức một cuộc vui đặc biệt, thậm chí ngay
cả trớc khi đàm phán công việc.
Khi tặng hoa cũng cần chú ý đến ngôn ngữ văn hoá của hoa đối với phong
tục từng nớc Châu Âu: ở Anh và Pháp, hoa loa kèn trắng chỉ dùng trong tang lễ;
hoa hồng đỏ thắm rất đợc u chuộng đối với phụ nữ Pháp và Italia nhng ở Tây Ban
Nha thì ngợc lại; ở Pháp hoa màu vàng gợi nên sự không chung thuỷ và không
dùng để tặng hoa ai cả; ở Châu Âu nên tặng hoa bông lẻ và nên tránh con số 13.
Đối với ngời tiêu dùng Châu Âu khác với Mỹ họ rất miễn cỡng phải sử
dụng bằng thẻ tín dụng, họ cố gắng trả hết tiền sau một thời gian. Thói quen ngời
tiêu dùng EU đối với một số sản phẩm lu thông trên thị trờng cũng có phân biệt.
Chẳng hạn đối với sản phẩm thuỷ hải sản, những ngời tiêu dùng ở những quốc
gia Bắc Âu (Na Uy, Thuỵ Điển, Đan Mạch ) a thích các loại thuỷ hải sản vùng n-
ớc lạnh hơn các loại thuỷ hải sản ở vùng nớc ấm, vốn là sở thích tiêu dùng ở các
nớc Nam Âu và vùng Địa Trung Hải, những sản phẩm dệt may đối với ngời tiêu
dùng EU, yếu tố mốt đợc đặt lên hàng đầu. Họ coi phần giá trị về mẫu mốt và
thời trang là chính.
Về hệ thống phân phối sản phẩm, trên thị trờng EU cũng có những nét đặc
thù đối với từng nhóm quốc gia. Ví dụ ở Bắc Âu việc phân phối các sản phẩm
13
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
tiêu dùng có xu hớng tập trung cao, giảm bớt trung gian, rút ngắn đờng đi của
sản phẩm tới ngời tiêu dùng, tập trung vào các cửa hàng bán lẻ lớn, các siêu thị.
Ngợc lại ở các quốc gia Nam Âu, việc phân phối các sản phẩm tiêu dùng chủ

từ 1/1/1993 đến nay đã qua hai lần gia hạn và điều chỉnh tăng hạn ngạch. Hiệp
14
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
định đánh dấu một bớc chuyển biến tích cực trong mối quan hệ giữa hai bên.
Đây cũng là tiền đề cho việc kí kết các hiệp định về hợp tác kinh tế- thơng mại,
khoa học- kỹ thuật sau này.
Cũng cần nhắc lại rằng các nớc thành viên EU (Bỉ, Pháp, Hà Lan, Thuỵ
Điển) cũng tăng cờng giúp đỡ Việt Nam trong các lĩnh vực hợp tác khoa học-
kỹ thuật, đào tạo cán bộ chuyên gia cũng nh tài trợ cho các sự án phát triển nông
thôn. Đỉnh cao của sự phát triển quan hệ giữa Việt Nam và EU đợc đánh dấu
bằng sự kiện trọng đại diễn ra vào ngày 17 tháng 7 năm 1995 tại Brucxen (Bỉ).
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế có hiệu lực vào 01/01/1996 trong đó có quy
định hai bên dành cho nhau chế độ tối huệ quốc (MFN), cam kết mở cửa thị tr-
ờng hàng hoá của nhau tới mức tối đa có tính đến điều kiện đặc thù của mỗi bên,
EU cũng cam kết dành cho hàng hoá xuất xứ từ Việt Nam u đãi thuế quan phổ
cập (GSP). Trên cơ sở khai thác các điều kiện thuận lợi trong quan hệ hợp tác
giữa hai bên, kết quả hoạt động thơng mại giữa Việt Nam và các nớc trong khối
đã đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể, chỉ tính riêng trong giai đoạn 1991-1997,
tổng kim ngạch 2 chiều Việt Nam và EU đã tăng gấp 10 lần, trong đó thặng d
mậu dịch của Việt Nam ngày càng lớn. Năm 1998, tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu của Việt Nam với EU đạt trên 4 tỷ USD; năm 1999 đạt 4,5 tỷ USD; năm
2000 đạt gần 5 tỷ USD và năm 2001 đã vợt trên 5 tỷ USD. Tuy nhiên xuất nhập
khẩu Việt Nam-EU có sự tăng trởng đều đặn, nhng đến nay mới chỉ chiếm
khoảng 0,12% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của EU và chiếm 14 % tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, trong đó từ năm 1998 Việt Nam luôn xuất
siêu cho EU. Năm 2002, nhiều nớc mở rộng nhập khẩu với Việt Nam. Hầu hết
các nớc trong khối đều có quan hệ xuất nhập khẩu với Việt Nam (13 trên tổng số
15 nớc). Đức là nớc dẫn đầu, chiếm 28,5 % tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của
Việt Nam với EU năm 2002, Pháp (20,7%), Anh (12,7%), Italia (9,6%). Thực tế
nhìn một cách tổng quan thì quan hệ thơng mại Việt Nam-EU cha tơng xứng với

chiếm 9% tổng số dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam với số vốn đăng
kí đạt 5,8 tỷ USD chiếm 15,26% tổng số vốn đăng kí vào Việt Nam. Đầu t của
EU mang một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công cuộc hiện đại hoá của
Việt Nam, nhiều dự án tập trung vào lĩnh vực then chốt nh thăm dò và khai thác
dầu khí, chế tạo ôtô, sản xuất hàng tiêu dùng, phát triển cơ sở hạ tầng, nông
nghiệp. Hiện nay đã có 11 trên 15 nớc có các nhà đầu t trực tiếp nớc ngoài tại
Việt Nam. Đứng đầu là Pháp (với 104 dự án, tổng số vốn đăng kí là 1,789 tỷ
USD), Anh (29 dự án, tổng số vốn đăng kí 1,047 tỷ USD), Hà Lan (36 dự án, 578
triệu USD), Thuỵ Điển (8 dự án, 37 triệu USD).
Có thể nói rằng quan hệ kinh tế- thơng mại giữa Việt Nam và EU tuy cha
dài nhng những kết quả đạt đợc trong hơn 10 năm qua kể từ khi kí hiệp định
khung hợp tác Việt Nam-EU là hết sức quan trọng và có ý nghĩa thiết thực đối
với cả hai bên. Cùng với nỗ lực của cả hai phía và những yếu tố thuận lợi bên
ngoài, chúng ta có thể hoàn toàn tin tởng rằng trong tơng lai, quan hệ kinh tế-th-
ơng mại Việt Nam-EU sẽ tiếp tục đẩy mạnh và phát triển lên một tầm cao mới.
16
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
1.2 Các quy định pháp lý của EU về chất lợng và nhãn
hiệu sản phẩm xuất khẩu vào thị trờng EU
1.2.1 Các quy định về chất lợng
1.2.1.1 Hệ thống quản lý chất lợng sản phẩm ISO 9000
Liên minh Châu Âu áp dụng hệ thống quản lý ISO 9000 và hệ thống quản
lý 14000. Đối với tiêu chuẩn chất lợng, hệ thống quản lý chất lợng ISO 9000 gần
nh là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sang
thị trờng EU thuộc các nớc đang phát triển. Thực tế cho thấy, ở các nớc đang
phát triển Châu á và Việt Nam, hàng của các doanh nghiệp có giấy chứng nhận
chất lợng ISO 9000 thâm nhập vào thị trờng EU dễ dàng hơn nhiều so với các
doanh nghiệp không có giấy chứng nhận này. Có thể nói hệ thống quản lý chất l-
ợng đã trở thành giấy thông hành cho các doanh nghiệp thâm nhập vào thị trờng
thế giới nói chung và thị trờng không mấy dễ tính này nói riêng.

Trách nhiệm lãnh đạo, hệ thống chất lợng, xem xét hợp đồng, kiểm soát tài liệu,
mua sản phẩm, kiểm tra sản phẩm do khách hàng cung cấp, nhận biết và xác
định nguồn gốc sản phẩm, kiểm soát quá trình sản xuất, kiểm tra và thử nghiệm,
kiểm soát thiết bị đo lờng và thử nghiệm, tình trạng kiểm tra và thử nghiệm,
kiểm soát sản phẩm không phù hợp, hành động khắc phục và ngăn ngừa, xếp dỡ
lu kho, bao gói, bảo quản giao hàng, kiểm soát hồ sơ chất lợng, đào tạo, dịch vụ
kỹ thuật, kỹ thuật thống kê.
Cấu trúc của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 bao gồm nhiều tiêu chuẩn. Trong đó tiêu
chuẩn chính ISO 9001- Hệ thống chất lợng, nêu ra các yêu cầu đối với hệ thống
quản lý chất lợng mà doanh nghiệp cần đáp ứng. Ngoài ra còn có các tiêu chuẩn
hỗ trợ và hớng dẫn thực hiện nh : ISO 9000- thuật ngữ và định nghĩa; ISO 9004-
hớng dẫn cải tiến hiệu quả.
Trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp có thể áp dụng một trong ba mô
hình sau trong bộ tiêu chuẩn này:
- ISO 9001: áp dụng cho doanh nghiệp từ khâu thiết kế, triển khai, sản
xuất, lắp đặt và dịch vụ .
- ISO 9002: áp dụng cho doanh nghiệp sản xuất, lắp đặt dịch vụ (không
bao gồm khâu thiết kế).
- ISO 9003: áp dụng cho doanh nghiệp trong quy trình kiểm tra thử
nghiệm cuối cùng đối với sản phẩm.
Để cho bộ ISO 9000 duy trì tính hiệu lực, những tiêu chuẩn này đợc xem
xét định kì (khoảng 5 năm một lần) nhằm cập nhập những phát triển mới nhất
trong lĩnh vực quản lý chất lợng, và thông tin phản hồi từ ngời sử dụng. Ban kỹ
thuật của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO/TC/176 bao gồm nhiều chuyên gia từ
các doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới theo dõi việc áp dụng các tiêu
18
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
chuẩn để xác định những cải tiến cần thiết nhằm thoả mãn những đòi hỏi và
mong muốn của ngời sử dụng và đa vào phiên bản mới.

Tạo hình ảnh tốt về doanh nghiệp đối với khách hàng, bạn hàng cũng nh
toàn thể đối với cộng đồng giúp tăng cờng khả năng cạnh tranh trên thị tr-
ờng.
Khác với ISO 9000, đối tợng quản lý là chất lợng thì đối tợng quản lý của
ISO 14000 là môi trờng. ở các quốc gia đã có sức ép về yêu cầu bảo vệ môi tr-
ờng nh Hoa Kì, EU, Canadathì việc áp dụng ISO 14000 đã trở thành một đòi
hỏi mang tính bắt buộc. Việc áp dụng ISO 14000 sẽ giúp khách hàng EU yên
tâm về khía cạnh bảo vệ môi trờng của sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn.
1.2.1.3 Hệ thống an toàn vệ sinh thực phẩm
Đối với tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, các công ty chế biến thực phẩm phải
tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ. Về phơng diện này, viêc áp dụng hệ
thống HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) là rất quan trọng và gần
nh là yêu cầu bắt buộc đối với các xí nghiệp chế biến thuỷ sản của các nớc đang
phát triển muốn xuất khẩu vào thị trờng EU.
HACCP là hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các khâu trọng yếu
trong quá trình chế biến thực phẩm. HACCP không phải là hệ thống quản lý áp
dụng đại trà nh ISO 9000 hoặc ISO 14000. HACCP đợc thiết kế riêng cho công
nghiệp chế biến thực phẩm và các ngành có liên quan đến thực phẩm (chăn nuôi
trồng trọt) tập trung vào vấn đề vệ sinh và đa ra một cách tiếp cận có hệ thống
để phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ. Hệ thống có tính bắt buộc đối với công ty
chế biến thực phẩm tại EU. Các công ty thực phẩm nớc ngoài không có nghĩa vụ
phải tuân thủ các quy định của EU về HACCP. Tuy nhiên điều đó chỉ đúng trên
danh nghĩa. Nếu nhà nhập khẩu của EU mua nguyên liệu từ nớc ngoài thì họ
phải chịu trách nhiệm về nguyên liệu đó theo các nguyên tắc HACCP kể từ khi
hàng vào đến cửa khẩu. Cơ chế này buộc họ phải đòi hỏi các nhà xuất khẩu nớc
ngoài tuân thủ theo nguyên tắc HACCP. Và nh vậy, HACCP trở thành đòi hỏi
chung. Các nhà xuất khẩu của các nớc đang phát triển, nếu không muốn mất thị
trờng, chỉ còn cách ứng dụng hệ thống này trong sản xuất và thuyết phục các nhà
nhập khẩu EU (bằng chứng chỉ hoặc bằng báo cáo kiểm tra) rằng họ đã đi theo
đúng các nguyên tắc của hệ thống phòng ngừa này. áp dụng HACCP có những

bán của họ nếu có yêu cầu (Nguồn: Trung tâm xúc tiến thơng mại và đầu t
Thành phố Hồ Chí Minh).
1.2.2.2 Quy định về xuất xứ, nhãn mác sản phẩm
21
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
* Quy định về xuất xứ: Đối với hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu, trên nhãn
hàng hoá phải ghi cụ thể và rõ ràng tên nớc xuất xứ. Phải ghi thật cụ thể để tránh
gây hiểu lầm về nguồn gốc của sản phẩm.
*Quy định về nhãn mác sản phẩm: Với mục đích dảm bảo an toàn cho ng-
ời sử dụng, nhãn mác trở nên rất quan trọng trong việc lu thông hàng hoá trên thị
trờng EU. Nhãn hàng hoá ở EU phải tuân theo các yêu cầu cơ bản sau:
- Tên sản phẩm (điều kiện vật chất hoặc cách xử lý cụ thể)
- Tên/địa chỉ của nhà sản xuất, đóng bao, ngời bán hoặc ngời nhập khẩu
bằng ngôn ngữ địa phơng của EU
- Nớc xuất xứ
- Thành phần theo thứ tự giảm dần về trọng lợng
- Trọng lợng và khối lợng theo hệ đo lờng mét
- Chất phụ gia theo tên các loại
- Điều kiện bảo quản đặc biệt
- Thời gian sử dụng
- Hớng dẫn cách sử dụng đặc biệt
Cụ thể đối với từng loại hàng hoá nh sau:
Các loại thực phẩm, đồ uống đóng gói phải ghi rõ tên sản phẩm, nhãn mác,
thành phần trọng lợng tịnh, thời gian sử dụng, cách sử dụng, điạ chỉ của nớc sản
xuất hoặc nơi bán, nơi sản xuất, các điều kiện đặc biệt để bảo quản, chuẩn bị sử
dụng hoặc các thao tác bằng tay.
Đối với vải lụa, EU lập ra một hệ thống thống nhất về mã hiệu cho biết các
loại sợi cấu thành nên loại vải lụa đợc bán trên thị trờng EU. Bất cứ loại vải lụa
nào đợc sản xuất ra trên cơ sở hai hay nhiều loại sợi mà một trong các loại ấy
chiếm tối thiểu 85% tổng trọng lợng thì trên mã hiệu có thể đề tên loại sợi đó

hàng hoá và dịch vụ mà ngời bán cố gắng phân biệt với hàng của đối thủ
cạnh tranh (Định nghĩa cuả Hiệp Hội Marketing Mỹ). Nếu không có nhãn
hiệu, ngời tiêu dùng không thể phân biệt hàng hoá này với hàng hoá khác.
EU quy định nhãn hiệu cơ bản có thể hình thành bằng chữ, bằng hình vẽ lẫn
chữ với nhiều màu sắc khác nhau. Dùng những phơng tiện này nhà sản xuất có
thể tạo nên rất nhiều loại hình nhãn hiệu khác nhau phù hợp với từng mặt hàng
của từng đối tợng tiêu thụ. EU không dùng các loại nhãn hiệu sau đây:
- Giống quốc kỳ, quốc huy hay quân huy của nớc nào đó,
23
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam Phơng - Pháp 2 - K38 KTNT
- Huy hiệu hay giống huy hiệu vủa một đoàn thể xã hội nào đó,
- Trùng hoặc giống hệt một nhãn hiệu đã đợc đăng ký hay đã đợc dùng,
- Chân dung ngời khác mà cha đợc sự đồng ý của ngời đó,
- Chân dung hay tên lãnh tụ,
- Dùng tên địa lý
Nhãn hiệu hàng hoá muốn đăng kí ở các nớc tham gia công ớc quốc tế về
bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp thì phải đăng kí trớc ở trong nớc hội viên và
khi đã đợc đăng kí ở một nớc hội viên thì chỉ cần thông báo cho các nớc thành
viên khác biết là coi nh đã đợc đăng kí ở tất cả các nớc hội viên khác.
* Các quy định về bảo hộ sở hữu công nghiệp
EU đã tham gia Công ớc Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp. Đối tợng bảo
hộ bao gồm patent, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu dịch vụ, tên
thơng mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ và chống cạnh tranh lành
mạnh. Sở hữu công nghiệp ở đây đợc hiểu theo nghĩa rộng nhất không chỉ áp
dụng cho công nghiệp và thơng mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho các
ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm công
nghiệp tự nhiên và sản phẩm tự nhiên nh rợu ngũ cốc, thuốc lá, gia súc, hoa quả,
khoáng sản, nớc ngọt bia, hoa và bột.
Để giúp các chủ sở hữu nhãn hiệu tiến hành đăng kí nhãn hiệu hàng hoá
của mình vào các nớc Châu âu thuận lợi, nhanh chóng và đỡ tốn kém hơn, Cộng

chính thức của Cộng đồng (đây đợc coi là ngôn ngữ thứ nhất). Trong đơn, ngời
nộp đơn phải tuyên bố chọn một trong 5 ngôn ngữ : Tây Ban Nha, Đức, Anh,
Pháp, ý (đây là 5 ngôn ngữ chính thức đợc sử dụng ở OHIM ) là ngôn ngữ thứ 2
để sử dụng khi tiến hành các thủ tục, ví dụ nh phản đối đơn, khiếu nại, huỷ bỏ
hiệu lực
Loại nhãn hiệu đợc đăng kí là: nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn
hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận.
*Thủ tục nộp đơn :
Tài liệu thông tin cần cung cấp :
- Tên đầy đủ, địa chỉ, số điện thoại, số fax (nếu có) và quốc tịch của ng-
ời nộp đơn ;
- Giấy uỷ quyền của ngời nộp đơn ;
- 5 mẫu nhãn hiệu cần đăng ký ;
- Danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu ;
25

Trích đoạn Vấn đề nhãn hiệu của sản phẩm Những nhận xét và đánh giá về thực tiễn vận dụng những quy định pháp lý về chất lợng và nhãn hiệu sản phẩm của các doanh Định hớng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trờng EU giai đoạn 2002- Tăng cờng tìm hiểu và nhận thức về thị trờng EU Nâng cao chất lợng sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status