PHẦN MỞ ĐẦU
I. BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI
1. Tiếng Việt - ngôn ngữ chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam
Tiếng Việt là tiếng phổ thông, là ngôn ngữ chung của cộng đồng dân tộc Việt
Nam. Năm 1969, Quyết định 153 – CP của thủ tướng chính phủ đã cụ thể hóa vai trò
TV trong đời sống đồng bào dân tộc thiểu số: “Tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt
Nam đều cần học và dùng tiếng, chữ phổ thông là ngôn ngữ chung của cả nước. Nhà
nước cần ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số học biết nhanh tiếng, chữ phổ thông”. Và
Quyết định 53 – CP của Hội đồng chính phủ (1980) nêu rõ: “Tiếng và chữ phổ thông là
ngôn ngữ chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nó là phương tiện giao lưu không
thể thiếu được giữa các địa phương và các dân tộc trong cả nước, giúp cho các địa
phương và các dân tộc có thể phát triển đồng đều các mặt kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ
thuật… Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc”.
Cho nên học sinh dân tộc Khmer cũng giống như những HS các dân tộc khác khi đến
trường đều sử dụng chung một ngôn ngữ, đó là tiếng Việt.
2. Trường THPT Dân Tộc Nội Trú An Giang – nơi giao thoa giữa hai ngôn
ngữ
Trường THPT Dân Tộc Nội Trú An Giang, năm học 1992 – 1993, có 354 học
sinh với các lớp 6, 7, 8. Đến năm học 1996 – 1997, trường có lớp 12 đầu tiên. Trong
những năm gần đây, trường đã ổn định, mỗi khối có 3 lớp từ khối 6 đến khối 12 với
tổng số 684 học sinh. Phần lớn học sinh của trường là người dân tộc Khmer. Trong đó
chỉ có khoảng 10% là học sinh người Kinh thuộc diện chính sách và khoảng 20% là học
sinh dân tộc Khmer có cha hoặc mẹ gốc người Kinh. Ở đây, các em sinh sống và học
tập trong một cộng đồng thu nhỏ của dân tộc mình. Cho nên khi tiếp xúc với tiếng Việt
trong học tập, các em có điều kiện thuận lợi hơn so với những học sinh dân tộc Khmer
đang học ở các trường phổ thông khác. Vì các em được giao tiếp bằng song ngữ : tiếng
Việt – tiếng Khmer. Bên cạnh đó, một số giáo viên người dân tộc Khmer, kể cả giáo
viên người Kinh được học tiếng Khmer đã giúp các em giải tỏa được một phần nào
trong việc tiếp thu kiến thức. Nhưng nhìn chung, học sinh dân tộc Khmer vẫn còn gặp
nhiều khó khăn khi học tiếng Việt.
Đối với học sinh dân tộc Khmer, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai. Ngôn ngữ thứ
với mỗi kiểu lỗi sai, tác giả dẫn ra một vài ví dụ và hướng dẫn cách sửa cụ thể. Nội dung
có giá trị gợi ý thiết thực cho GV khi dạy các tiết chữa câu sai.
3.2. Những bài viết về lỗi chính tả, ngữ pháp trong sách giáo khoa
Sách giáo khoa “Làm Văn lớp 10”, năm 1991, Đinh Cao và Lê A đề cập lỗi câu sai
và lỗi dùng từ sai. Các tác giả còn đưa ra “phương hướng sửa chữa câu sai” và “các thao
tác chữa lỗi về từ”. Nhìn chung, các tác giả trình bày khá cụ thể.
Sách giáo khoa “Tiếng Việt lớp 10”, hợp nhất chỉnh lý năm 2000, các tác giả Diệp
Quang Ban, Đỗ Hữu Châu (tiết 4, 13, 27) có các bài “Yêu cầu chung về hành văn của các
văn bản”, “Lựa chọn từ ngữ” và “Lỗi về câu”. Các bài tập đa dạng phong phú.
Sách giáo khoa hiện hành, nhìn một cách tổng thể, chương trình Ngữ văn THPT
kết cấu theo hướng tích hợp trong sự phân chia ba phân môn : Văn học – Tiếng Việt –
Làm văn. Cả ba phân môn ấy, từ lớp 10 đến lớp 12, không có một bài dạy nào dành cho
cách khắc phục lỗi dùng từ đặt câu một cách cụ thể như sách giáo khoa trước đây (đã nói
ở phần trên). Nếu có thì chỉ có ở một vài bài : “Những yêu cầu sử dụng tiếng Việt” (Ngữ
văn 10, tập 1), “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” (Ngữ văn 12, tập 1). Thực ra, nó
cũng chưa đi sâu vào việc giúp cho học sinh nhận biết và sửa chữa những lỗi chính tả, từ
ngữ, câu. Còn chương trình Ngữ văn THCS, sách giáo khoa Ngữ văn 6 có được một số
bài dạy : “Chữa lỗi dùng từ”, “Chữa lỗi chủ ngữ và vị ngữ”. Theo Phân phối chương trình
giảm tải môn Ngữ văn – THCS, chương trình Ngữ văn 7 có thêm được một tiết dạy
chương trình địa phương : “Rèn luyện chính tả (Viết đúng âm đầu, âm chính, âm cuối)”
(nhưng chúng tôi cũng chưa thấy phần thiết kế nội dung bài dạy của Sở gửi về). Nhìn
chung, ta thấy ở cấp THCS có quan tâm đến việc chữa lỗi dùng từ, đặt câu, chính tả của
học sinh phổ thông. Độ sâu và độ khắc còn tùy thuộc vào sự truyền tải của mỗi giáo viên
dạy văn chúng ta.
3.3. Những bài viết về lỗi chính tả, ngữ pháp của học sinh dân tộc thiểu số
Dường như ta chưa thấy một quyển sách nào viết về lỗi sử dụng tiếng Việt của
học sinh dân tộc thiểu số. Trên tạp chí, chuyên san, Internet chỉ có rải rác một vài bài
viết về lỗi dùng từ, dùng câu của học sinh dân tộc ở các tỉnh miền ngoài. Nhất là chưa
có một bài nghiên cứu khoa học nào đề cập đến lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu của học
sinh dân tộc Khmer. Theo những tư liệu ở thư viện của nhà trường, trên Internet, chúng
nhiệm của giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn. Thậm chí có thầy cô khi chấm bài chỉ các
con điểm 9, điểm 10… chứ không có một lời nhận xét, đánh giá và góp ý.
Phương pháp dạy học phân môn Tiếng Việt trong tích hợp Ngữ văn cho học sinh
THPT đã được đề cập trong nhà trường. Tuy vậy, phương pháp này vẫn chưa được ứng
dụng có hệ thống trong chương trình Ngữ văn. Nhất là chưa có một chương trình ứng
dụng cụ thể, đặc thù dạy học cho học sinh THPT dân tộc Khmer. Cho nên trong những
năm qua, giáo viên bộ môn Ngữ văn ở trường THPT Dân Tộc Nội Trú An Giang và cả
những giáo viên dạy trên địa bàn các huyện có học sinh Khmer cư trú đang gặp nhiều
khó khăn trên con đường đi tìm những phương cách tháo gỡ tình trạng này. Nó trở
thành một vấn đề bức thiết ở trường phổ thông, nhất là những trường phổ thông ở vùng
sâu vùng núi. Đứng trước tình hình ấy, tôi đã nghiên cứu và tìm ra những biện pháp
thiết thực, phù hợp để khắc phục những lỗi về chính tả, ngữ pháp tiếng Việt của học
sinh THPT dân tộc Khmer qua dạy học Ngữ văn. Nhờ thế, nó giúp các em hạn chế việc
mắc lỗi tiếng Việt và góp phần thực thi đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường
THPT hiện nay.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3
Sáng kiến kinh nghiệm này chỉ nghiên cứu khoa học về các lỗi cơ bản chính tả,
ngữ pháp tiếng Việt của học sinh trường THPT Dân Tộc Nội Trú An Giang qua môn
Ngữ văn.
Đối tượng nghiên cứu của tôi chỉ tập trung vào đối tượng học sinh lớp 12A1,
12A3 thông qua các bài kiểm tra định kì môn Ngữ Văn của học sinh mà tôi được phân
công giảng dạy.
Từ đó, bản thân đánh giá, nhận xét và tìm những hướng khắc phục các lỗi chính
tả, ngữ pháp cho học sinh dân tộc Khmer. Những biện pháp đưa ra không quá khó đối
với cả thầy lẫn trò. Nó đòi hỏi sự nhiệt tình ở tất cả thầy cô giáo, không chỉ riêng giáo
viên dạy bộ môn Ngữ văn; đòi hỏi sự chịu khó, miệt mài của học sinh không chỉ ở lớp
mà còn ở nhà, ở ngoài xã hội. Nó giúp cho các em hòa nhập vào cộng đồng chung của
dân tộc một cách dễ dàng khi giao tiếp bằng tiếng Việt.
IV. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
những yếu tố ngữ đoạn hay những yếu tố có tính chất siêu ngôn ngữ.
4
Tiếp xúc với học sinh dân tộc Khmer, chúng tôi thấy có nhiều câu nói kiểu như:
- “Ting qyuển tập tâu!” (Đi mua quyển tập!)
- “On không thuộc bài lucru!” (Em không thuộc bài, thưa thầy!)
- “Khnhum tâu thành pho hơi!” (Tôi đã đi thành phố rồi!)
Hoặc:
- “Thưa thầy, bạn ấy mơ mêrin của bạn!”
- “Bài tập khó, tôi thơ vơ min ban”
- “Trong người pibáth, tôi không ngủ được!”
Các yếu tố tiếng Việt: “quyển tập”, “không thuộc bài”, “thành phố”… vận dụng
vào trong phát ngôn Khmer hoặc những yếu tố Khmer như “mơ mêrin” (xem bài), “thơ
vơ min ban” (không làm bài được), “pibáth” (khó chịu) xen lẫn vào tiếng Việt được học
sinh dân tộc Khmer dùng một cách tự nhiên khi giao tiếp với bạn bè, thầy cô. Đây
không phải là hiện tượng lạ mà phổ biến ở các vùng song ngữ Khmer - tiếng Việt. Các
yếu tố hòa lẫn ấy có thể gọi là vấn đề sử dụng từ vay mượn giữa hai ngôn ngữ.
3. Hiện tượng chuyển mã
Hiện tượng chuyển mã có thể hiểu là sự thay đổi ngôn ngữ hay phương ngữ
trong quá trình giao tiếp. Đó là sự chuyển mã giữa tiếng Khmer và tiếng Việt. Một cá
nhân song ngữ đang sử dụng một mã ngôn ngữ nào đó có thể chuyển sang nói một mã
ngôn ngữ khác khi một số tác động từ văn cảnh hay ngoài ngữ cảnh xảy ra. Và kết quả
của sự chuyển đổi đó mang lại ít nhất một phát ngôn bằng ngôn ngữ thứ hai, hay có thể
là cả một đoạn hội thoại hoặc một phần còn lại của hội thoại. Như vậy, chuyển mã là
một hiện tượng ngôn ngữ có động cơ của người nói. Chẳng hạn, khi chúng tôi đến vận
động học sinh dân tộc Khmer nghỉ học trở lại trường. Phụ huynh và học sinh nghỉ học
đang bàn chuyện với nhau bằng tiếng Khmer về việc nghỉ học hay không nghỉ học.
Nhưng phụ huynh và học sinh ấy quay sang nói chuyện với chúng tôi lại bằng tiếng
Việt. Trong khi phụ huynh nói chuyện tiếp tục với con mình bằng tiếng Khmer.
Từ sự chuyển mã, giữa tiếng Khmer và tiếng Việt có hiện tượng giao thoa. Sự
phát triển của tiếng Khmer đang hướng về phía tiếng Việt. Đó là nhu cầu chính đáng và
- “Riên mê riên tâu!” (Học bài đi!)
- “Ay da, chhư xlăp tâu ban!” (Ôi, đau chết đi được!)
Còn câu chia theo cấu trúc, tiếng Khmer có hai loại câu : câu đơn và câu ghép
cũng không khác gì câu của tiếng Việt.
Ví dụ: - “Boong tâu lêng.” (Anh đi chơi.)
- “Lă o nah!” (Đẹp quá!)
- “Nôna miên nôông col tâu phchua, nôna miên rô noh.” (Ai có cày đi cày, ai có
bừa đi bừa.)
- “Phia xa Việt Nam nưng phia xa Khmer miên om bô chia muôi knia.” (Tiếng
Việt và tiếng Khmer cùng một ngữ he.)
Những nét tương đồng ít nhiều giữa tiếng Khmer - tiếng Việt tạo nên hiện tượng
giao thoa trong ngôn ngữ Khmer. Đó là một trong những điều kiện thuận lợi cho học
sinh dân tộc Khmer khi học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông. Học sinh dân tộc
Khmer phải thấy được thế mạnh về nét tương đồng rất nhiều của ngôn ngữ dân tộc
mình so với ngôn ngữ của các dân tộc khác khi đến với tiếng Việt để tiếp thu kiến thức
dễ dàng. Tuy vậy, học sinh dân tộc Khmer học tiếng Việt vẫn là học ngôn ngữ thứ hai
nên còn gặp nhiều khó khăn.
5. Những “rào cản ngôn ngữ” của học sinh dân tộc Khmer khi học tiếng
Việt
Khi đến trường, học sinh dân tộc Kinh đã có vốn tiếng Việt không nhiều nhưng
đủ để tìm hiểu thế giới xung quanh. Học sinh đi học bằng ngôn ngữ quen thuộc trước
khi đến trường, với một vốn từ khoảng 4.000 – 5.000 từ và những cấu trúc cơ bản của
tiếng mẹ đẻ. Ngoài ra, học sinh có thời gian và cơ hội sử dụng tiếng Việt liên tục với
nhiều người và nhiều mục đích khác nhau trong cuộc sống. Còn học sinh dân tộc, trước
khi đi học, các em chỉ mới nắm bắt tiếng Khmer và phát triển nhận thức bằng tiếng mẹ
đẻ không phải bằng tiếng Việt. Vốn tiếng Việt của các em rất ít hoặc không có gì. Nếu
có một vốn tiếng Việt thì các em chưa chuẩn xác trong phát âm và sử dụng. Khi đến
trường, các em mới bắt đầu sử dụng tiếng Việt và phải học tiếng Việt trên cơ sở kinh
nghiệm của tiếng mẹ đẻ. Trải qua các cấp học từ tiểu học, trung học cơ sở đến THPT,
các em đã tích luỹ được một vốn tiếng Việt kha khá so với lúc trước đây nhưng so với
tộc Khmer học tiếng Việt là ngơn ngữ thứ hai. Tức là học sinh dân tộc Khmer phải học
đến hai ngơn ngữ, khó khăn nhiều hơn học sinh người Kinh. Tuy nhiên, đối với học
sinh dân tộc, tiếng Việt khơng phải là tiếng nước ngồi mà là tiếng quốc gia. Bởi các
em có mơi trường học tiếng Việt rất khác với mơi trường học ngoại ngữ; thêm nữa tiếng
Việt là phương tiện giao tiếp đồng thời là cơng cụ để tiếp thu kiến thức của các em.
Theo báo “Nơng thơn ngày nay”, số 160, ra ngày 05/07/2007 ghi nhận “Học sinh
các dân tộc thiểu số tiếp nhận kiến thức trong chương trình sách giáo khoa bằng tiếng
phổ thơng vất vả như học thêm ngoại ngữ”. Và theo thống kê của Tổ chức Cứu trợ trẻ
em của Anh tại Việt Nam, có những trường, gần 30% HS chưa thành thạo tiếng Việt.
Có những em học lớp 12 mà tiếng phổ thơng chưa sõi. Đó là tình hình chung của những
trường lớp có HS dân tộc thiểu số cắp sách đến trường.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1. Hiện trạng mắc lỗi chính tả, ngữ pháp tiếng Việt của học sinh Khmer
Sự khó khăn của học sinh dân tộc Khmer khi học tiếng Việt cũng khơng phải là
nhỏ. Vốn từ ngữ tiếng Việt của học sinh còn nghèo nàn. Các em tiếp thu bài học chậm,
khơng theo kịp trình độ chung… Từ đó, khi học tiếng Việt, các em mắc phải nhiều lỗi
tiếng Việt hơn những học sinh người Kinh. Đây là điều tất yếu. Nhưng vi phạm các lỗi
trong qui tắc tiếng Việt lại mang tính trầm trọng hơn.
1.1. Lỗi chính tả khi đọc
Khi đọc bài, tuy ở trình độ phổ thơng nhưng khả năng đọc của các em còn nhiều
hạn chế. Một số em đọc chậm, vừa đọc vừa đánh vần từng chữ. Đặc biệt khi học tác
7
phẩm văn học, các em chưa diễn tả được giọng điệu của tác phẩm, chưa thể hiện cách
ngắt nhịp trong thơ. Trầm trọng nhất là các em phát âm sai thanh điệu tiếng Việt. Chẳng
hạn như “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” đọc thành “Nhớ vê rừng núi nhớ chơi với”,
“hơi thơ rất liền mạch” đọc là “hơi thơ rất liền mách”… Đó là do các em quen phát âm
theo tiếng dân tộc Khmer không có thanh điệu. Nên đa phần học sinh Khmer phát âm
tiếng Việt không có thanh điệu hay phát âm sai lệch thanh điệu. Và còn một yếu tố khá
quan trọng là do vay mượn tiếng Việt rồi đọc thành tiếng dân tộc (sự giao thoa), vì phần
lớn tiếng dân tộc vay mượn tiếng Việt để diễn đạt. Nó trở thành một thói quen làm cho
Chẳng hạn như ở bài viết làm văn số 1 và 2, các em đều mắc phải ở những lỗi này
tương đương với nhau. Lớp 12A1, lỗi này chiếm từ 31,2% đến 34,3%; còn lớp 12A3 lại
chiếm từ 31,0% đến 37,9%. Ta thấy chỉ có lỗi về đặt câu thiếu vị ngữ là chiếm tỉ lệ ít
nhất. Chính vì vậy, nó làm cho câu văn viết của các em bị què cụt, không hoàn chỉnh.
Khi mắc các lỗi như thế, các em vẫn không hề nhận ra. Hoặc giáo viên có sửa chữa
nhưng các em vẫn không nhớ. Nó giống như một thói quen, khó lòng khắc phục.
1.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này
8
Như ở phần trên đã phân tích, ta thấy có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến
chất lượng học tiếng Việt của học sinh Khmer. Khi tiếp xúc với giáo viên dạy Ngữ văn
để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến mắc lỗi nhiều của học sinh thì chúng tôi được biết là
học sinh dân tộc Khmer có thói quen nghĩ sao viết thế, văn viết như văn nói. Nên khi
viết, học sinh không ý thức việc đặt câu làm sao cho câu không bị vi phạm qui tắc kết
hợp hay câu bị cấu trúc không hoàn chỉnh. Bản thân hệ thống quy tắc chính tả tiếng
Việt còn chứa nhiều điều bất hợp lý như cùng một âm được diễn đạt bằng nhiều chữ cái
khác nhau (C/K/Q, d/gi) nhiều cặp phụ âm, nhiều vần có cách phát âm gần giống nhau
(x/s, tr/ch, gi/d, au - âu…), khiến cho học sinh dân tộc (ngay cả học sinh người Kinh)
không phân biệt được khi viết. Hệ thống ngữ âm tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của học sinh
dân tộc có sự khác biệt. Học sinh dân tộc thường sử dụng cách phát âm của tiếng mẹ đẻ
để phát âm và tiếp nhận âm tiếng Việt trong khi thực hành viết bài văn bằng tiếng Việt.
Và hệ thống ngữ âm tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc có sự khác biệt.
Học sinh dân tộc thường sử dụng cách phát âm của tiếng mẹ đẻ để phát âm và tiếp nhận
âm tiếng Việt trong khi thực hành viết bài văn bằng tiếng Việt. Ngoài ra, khả năng tư
duy, am hiểu của học sinh về đời sống người Việt còn nhiều hạn chế. Ý thức học tập
của các em cũng chưa cao. Và kinh tế vùng địa lý còn nhiều khó khăn cũng ảnh hưởng
đến khả năng học tập nói chung và khả năng sử dụng tiếng Việt nói riêng ở các em.
Trước tình hình đó, lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp tiếng Việt của học sinh THPT dân
tộc Khmer mắc phải rất nhiều. Nó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau đã nêu ở
trên. Và sửa chữa những lỗi sai sót là một trong những mặt hoạt động thực hành tiếng
Việt. Trong hoạt động sửa chữa cũng thực hiện được cả mục đích củng cố những kiến
sắp xếp đúng ngữ pháp) nhưng câu : Bạn Nam nhiều ăn. (không có trật tự sắp xếp đúng
với qui tắc ngữ pháp tiếng Việt).
Câu đặt ra phải quan hệ ngữ nghĩa với tư duy. Yêu cầu này đòi hỏi người nói
phải nói những câu phản ánh đúng thực tế khách quan; sự sắp xếp các thành phần câu
cũng phải hợp lô – gích.
Ví dụ : Người chiến sĩ bị thương hai lần, một lần ở đùi và một lần ở Quảng Trị.
-> câu sai không lô – gích.
Hai yêu cầu trên chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Cái điều kiện đủ phải là câu
đặt ra phải chứa thông tin. Vì ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, mà giao tiếp về bản chất là
quá trình trao đổi thông tin. Quá trình trao đổi thông tin thật sự có hiệu quả khi người
nói (viết) đưa ra được những thông tin mới đối với người nghe (đọc). Vì thế, khi đặt
câu, người nói (viết), ngoài việc phải chú ý đến cấu tạo ngữ pháp, quan hệ ngữ nghãi
mà còn phải đặc biệt chú ý đến lượng thông tin mà mình nói (viết) ra.
Ví dụ : Nó đá bóng bằng chân. Nó nhìn tôi bằng mắt. -> là những câu tuy thỏa
mãn về yêu cầu cấu tạo ngữ pháp, quan hệ ngữ nghĩa nhưng lại không đáp ứng được
yêu cầu về thông tin (không thông báo được cái gì mới).
1.2. Khắc phục lỗi chính tả, ngữ pháp tiếng Việt cho học sinh qua các tiết
dạy môn Ngữ văn
1.2.1. Trong các tiết dạy trên lớp, chúng ta chú trọng phần đọc tác phẩm văn học,
đọc lý thuyết và bài tập trong các tiết Tiếng Việt và Làm văn. Giáo viên dành một
khoảng thời gian đầu giờ từ 10 đến 15 phút để gọi học sinh đọc những phần trọng tâm
của bài học. Có khi ta dành hẳn cả một tiết để các em đọc tác phẩm trong chương trình.
Đầu năm học, giáo viên hỏi thăm ý kiến của các giáo viên dạy năm học trước và
ban cán sự lớp để nắm được tình hình học sinh còn yếu kém về phát âm tiếng Việt. Khi
có danh sách học sinh phát âm còn sai quá nhiều, ta sẽ tập trung tăng cường rèn luyện
ngôn ngữ đọc – nói cho các em này để giảm bớt cái sai sót khi sử dụng tiếng Việt.
Đối với những bài dạy của phân môn Tiếng Việt, Làm văn, giáo viên cho các em
yếu tiếng Việt đọc thay phiên từng lý thuyết, từng bài tập. Đối với các tiết dạy tác phẩm
văn chương, giáo viên chia từng đoạn theo nội dung để đọc. Giáo viên đọc mẫu trước
một đoạn với yêu cầu : rõ ràng, truyền cảm và không quên cố gắng phát âm đúng chuẩn
1.2.2. Trong tiết dạy, giáo viên cũng thường đặt những câu hỏi từ dễ đến khó để
các em phát biểu. Những câu hỏi dễ dành cho các em có năng lực trung bình trở xuống,
nhất là những em yếu tiếng Việt. Giáo viên lắng nghe để nhận biết câu trả lời đúng –
sai, nhưng cũng lắng nghe các em phát âm đúng – sai để chữa lỗi ngay tức khắc. Đến
khi thấy các trả lời khá suôn sẻ thì giáo viên nâng cao câu hỏi có vấn đề lên để các em
bộc bạch suy nghĩ. Thường thì những lúc này, các em cũng hay nói bị sai lệch dấu
thanh điệu. Những lúc ấy, tôi thường hay nhắc lại từ các em nói vừa bị sai để chữa lại
cho đúng. Cách chữa cũng nhẹ nhàng, tế nhị, không chê bai, nói những lời “quá đáng”.
Có lẽ vì thế, các em mạnh dạn giơ tay đứng lên tự đọc bài, tự phát biểu.
1.2.3. Đối với học sinh dân tộc Khmer, các em có một thói quen trong giao tiếp
nhà trường cần sửa đổi để khắc phục lỗi chính tả (về mặt thanh điệu). Đó là khi trao đổi
với bạn bè, các em lại sử dụng tiếng mẹ đẻ là chính. Khi vào lớp học với thầy cô, các
em mới chịu sử dụng tiếng Việt trong quá trình học tập. Từ đó, nó ảnh hưởng rất lớn
đến việc sử dụng tiếng Việt. Cho nên giáo viên kết hợp với nhà trường giáo dục các em
nói tiếng Việt trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm nhưng không phải bỏ hẳn cả tiếng
mẹ đẻ của mình. Có như thế, các em sẽ thuần thục trong việc sử dụng tiếng Việt, nhất là
phát âm sẽ ít bị sai lệch về dấu thanh điệu…
Trong quá trình dạy học cho học sinh Khmer, tôi thường hay căn dặn các em :
nói phải cố găng nói đúng thanh điệu vì chỉ cần bỏ sai một dấu thanh điệu thì sai cả một
lớp nghĩa của từ, sai cả ý nghĩa của câu. Nó dẫn đến sự hiểu nhầm cho người khác. Nó
làm cho lời nói, câu nói của chúng ta bị “nhiễu”… Có rất nhiều câu chuyện về việc học
sinh của trường phát âm sai dấu làm lệch nghĩa của từ, của câu. Đó là điều tất yếu
nhưng thầy trò đang cố gắng khắc phục dần dần. Có lẽ nhờ thế, các em cũng không
“ngại” và không “ngán” bộ môn Ngữ văn.
1.3. Khắc phục lỗi chính tả, ngữ pháp tiếng Việt cho học sinh qua tiết trả bài
viết làm văn
11
1.3.1. Cũng giống như tiết trả bài kiểm tra của các bộ môn khác, nhưng tiết trả
bài viết làm văn của bộ môn Ngữ văn lại đầy gian khó và đòi hỏi sự tỉ mỉ của người
đứng lớp. Sau các tiết làm bài viết làm văn (kiểm tra định kỳ), phân phối chương trình
Cách 1: Gọi những em có bài làm mắc nhiều lỗi lên bảng, đọc cho các em viết
lại; sau đó, nhận xét có so sánh với bài kiểm tra, hướng dẫn cho các em chữa lại.
Cách 2 : Liệt kê ra các lỗi của các em, vào lớp, ghi lên bảng, gọi các em lên bảng
đọc, phát hiện và sửa chữa lại cho đúng; cũng có khi, bảng liệt kê được photo phát cho
từng em, các em tự sửa vào bảng photo và lưu lại trong sơ mi đựng bài kiểm tra của
mình.
Riêng những trường hợp bài viết phạm quá nhiều lỗi, giáo viên đề nghị các em
viết lại một số từ ngữ, câu bị sai. Hoặc là những em có bài viết mắc nhiều lỗi ấy về nhà
viết lại một lần nữa. Khi đó, giáo viên nhận bài kiểm tra nhờ ban cán sự lớp hoặc các
bạn ngồi bên cạnh kiểm tra và hướng dẫn lại cho bạn mình.
Bản thân tôi đã tiến hành cụ thể như sau :
12
- Về lỗi chính tả, thông thường, tôi viết những từ ngữ mà các em đã viết sai trong
bài làm lên trên bảng. Sau đó, tôi gọi từng em lên bảng viết lại cho đúng, vừa viết vừa
đọc cho đúng từ ngữ.
Ví dụ :
Thanh điệu Từ
Từ sai Từ sửa Từ sai Từ sửa
Sẳn sàng
Nổi buồn
Tâm gương
Kho khăn
Lời ích
Hành phúc
Giản khổ
Nhánh chóng
Cộng đông
Chia se
Sẵn sàng
Nỗi buồn
đã sửa chữa đảm bảo ba yêu cầu: thứ nhất, nội dung vừa chính xác, vừa trung thực với
ý đồ biểu đạt của người viết; chỉ điều chỉnh, thay đổi, thêm bớt trong trường hợp nội
dung biểu đạt của câu quá vụng về hay lệch lạc, mâu thuẫn; thứ hai, cấu trúc câu sửa
phải phù hợp với chuẩn mực ngữ pháp; thứ ba, câu đã sửa chữa phải liên kết chặt chẽ
với các câu xung quanh ở cả hai bình diện: nội dung và hình thức. Sau đó, tôi kẽ khung
lên làm 4 ô. Tôi điền câu sai vào ô đầu tiên. Những ô còn lại, tôi gọi học sinh viết sai
câu đó lên nhận ra và sửa lại câu cho đúng. Nếu trường hợp học sinh lúng túng, không
làm được thì tôi nhờ những học sinh khá giỏi lên bảng sửa lại cho bạn. Hoặc bản thân
tôi hướng dẫn một cách trực tiếp cho các em sửa lại cho đúng theo yêu cầu…
Ví dụ :
Câu sai Lỗi
ngữ
pháp
Hướng
sửa
sai
Câu đã sửa
- Luôn cảm thông cho
mọi người khi học có lỗi
lầm.
- Qua đó ca ngợi tình vợ
chồng, nghĩa anh em.
- Với thực trạng học sinh
nghỉ này, Sở, Phòng giáo
dục.
- Thành ngữ “một nắng
hai sương”.
- Để hạn chế tình trạng
- Thiếu
CN.
nghỉ học giữa chừng.
- Trong bài thơ “Việt
Bắc” của Tố Hữu.
C – V
- Thiếu
C – V
C – V
- Thêm
C – V
học giữa chừng này, chúng ta
cần chung tay góp sức của xã
hội, nhà trường và gia đình.
- Trong bài thơ “Việt Bắc” của
Tổ Hữu, tính dân tộc được thể
hiện đậm đà, rõ nét nhất.
1.4. Trang bị thêm cho học sinh
Giáo viên sưu tầm một số trang viết về “Viết đúng chính tả” trên các số báo
“Thiếu nhi dân tộc” ở trang mục “Giúp bạn học giỏi”. Tôi cắt những trang viết ấy gửi
cho cán sự lớp đọc trước lớp và được dán trên bảng “Thông tin” của lớp. Những khi
đọc – viết thấy những từ ngữ còn lúng túng, không xác định dấu thanh điệu thì có thể
xem lại là bài viết được dán trên bảng.
“Từ điển tiếng Việt”, do sách đắc tiền nhưng quan trọng. Cho nên giáo viên có
thể yêu cầu lớp mua cho tập thể một quyển sách. Quyển này, ban cán sự lớp giữ và có
nhiệm vụ hướng dẫn các bạn tra từ điển. Hoặc giáo viên hướng dẫn các em liên hệ với
thư viện của trường để tìm hiểu và viết cho đúng theo từ điển.
Riêng đối với học sinh dân tộc Khmer, có đôi lúc, tôi thực hiện theo phương
pháp dạy học song ngữ Việt – Khmer. Những từ, câu nào khó đã giải thích và sửa chữa
rồi nhưng có cảm giác các em chưa hiểu rõ và kỹ. Thế là tôi nhờ các em vừa giỏi tiếng
Việt, vừa giỏi tiếng Khmer dịch lại từ tiếng Việt sang tiếng Khmer cho cả lớp cùng
hiểu, cùng nắm…. Những lúc ấy, các em thích thú và lớp học sôi nổi hẳn lên.
Sau đây là một số “Mẹo luật chính tả” :
* Các từ mang dấu ngã thường gặp
Theo Phan Ngọc, trong 2.000 từ tiếng Việt thường dùng nhất, có 62 từ mang dấu
ngã đây: BÃO (bùng), BÃI (biển), BÃI (bỏ), BỮA (ăn), CÃI (cọ), CHỖ (ở), CỖ (bàn),
CỠ (nhỏ), CŨ (càng), CŨNG (vậy), DÃ (man), DŨNG (cảm), DỮ (tợn), ĐÃ (rồi),
ĐẪM (ướt), ĐĨA (bát), ĐŨA(tre), GIỮ (gìn), GỖ (tạp), HÃY (làm), HỄ (còn), HỖN
(hợp), HỮU (ích), (bạn) HỮU, KĨ (thuật), KĨ (càng), LÃNH (thổ), LÃO (nông), (lí)
LẼ, (lời) LỖ, LŨ (lượt), LŨ (lụt), LUỸ (thành), (cái) LƯỠI, MÃI (mãi), MÃNH (liệt),
MẪU (giáo), MĨ (thuật), MỖI (người), MỠ (màng), MŨ (áo), (mặt) MŨI, NGÃ (ngửa),
NGHĨ (ngợi), NGÕ (ngách), NGŨ (cốc), NHÃ (nhặn), NHỮNG (người), NỖI (niềm),
(học) NỮA, RÕ (ràng), SẼ (đến), SĨ (quan), TRĨU (nặng), VẪN (còn), VẼ (vời), VĨ
(đại), VÕNG (lọng), (tan) VỠ, VŨ (lực), VŨNG (nước), XÃ (hội).
* Luật trầm bổng
Đối với từ láy điệp âm đầu (như “nho nhỏ”, “sẵn sàng”, ), tiếng Việt có khoảng
700 từ tuân theo quy tắc: cả hai tiếng của từ láy đều cùng hệ âm thanh TRẦM (các
thanh ngang, sắc, hỏi) hoặc BỔNG (các thanh huyền, nặng, ngã).
Âm bổng:
- Ngang + hỏi: nho nhỏ, lẻ loi, vui vẻ, trong trẻo,
- Sắc + hỏi: nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ,
- Hỏi + hỏi: lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ,
Âm trầm:
- Huyền + ngã: sẵn sàng, lững lờ, vồn vã, vẽ vời,
- Nặng + ngã: nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,
- Ngã + ngã: lỗ lã, dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo,
Ngoại lệ (15 từ): ngoan ngoãn, khe khẽ (se sẽ), ve vãn, nông nổi, phỉnh phờ, bền
bỉ, niềm nở, hồ hởi, hẳn hòi, hoài huỷ, nài nỉ, xài xể, mình mẩy, lẳng lặng, vẻn vẹn.
Với các biến âm (từ cùng nghĩa, đọc trại đi một chút, đặc biệt phổ biến trong tiếng địa
phương hay cách gọi kiêng tên húy thời Nguyễn), một tiếng có thanh ở hệ BỔNG thì
biến âm cũng thuộc hệ BỔNG (tổng cộng 180 tiếng), thanh ở hệ TRẦM thì biến âm
cũng thuộc hệ TRẦM (tổng cộng 80 tiếng).
đó chú đến những lỗi chính tả, ngữ pháp. Ví dụ như đọc từ “vĩnh viễn” thì nhớ rằng cả
hai thành tố đều có dấu ngã. Hay đọc một câu văn có sử dụng từ “Qua đó” thì luôn chú
ý phía sau vế nó phải có dấu phẩy và có chủ ngữ.
Ngoài ra, các em có thể viết “Nhật ký”. Đây cũng là hình thức tự thực hành về
Tiếng Việt và Làm văn. Nó giúp cho học sinh rèn luyện chính tả, dùng từ, đặt câu và
thông thạo về tiếng Việt hơn.
2.2.3. Hàng ngày, vào lớp, các em phải có thói quen đọc các bài sưu tầm được dán
trên bảng “Thông tin” của lớp nhằm vận dụng linh hoạt vào thực tế để viết đúng chính tả.
Chẳng những thế, các em còn được cung cấp nhiều kiến thức về khoa học, văn hóa, nghề
nghiệp. Và nhất là động viên các em rèn luyện thói quen đọc sách trên thư viện. Cần xác
định sách là người bạn đường của mỗi chúng ta. Sách là nguồn tri thức vô tận của nhân
loại lưu truyền lại tới bây giờ và mi mi về sau. Trong quá trình đọc, tìm hiểu, cảm thụ tác
phẩm văn học, vốn từ ngữ sẽ không ngừng được tích lũy, nâng cao. Từ đó, khi cần viết,
biểu đạt một vấn đề thì chúng ta luôn có vốn từ ngữ để sử dụng. Bên cạnh đó, thói quen
sử dụng các loại sách công cụ cũng không thể thiếu như “Từ điển tiếng Việt”, “Từ điển
tiếng Việt cho học sinh dân tộc”… Khi gặp từ khó, chưa xác định được rõ ràng thì nên tra
từ điển để nắm thêm dấu thanh điệu và nghĩa của từ để hạn chế việc viết sai chính tả.
Phương pháp dạy học sửa lỗi chính tả, ngữ pháp tiếng Việt cũng tùy theo
phương pháp đứng lớp của mỗi người giáo viên và tùy vào từng đối tượng học sinh.
Sáng kiến kinh nghiệm này trình bày một số biện pháp để chữa lỗi chính tả, ngữ pháp
cho học sinh THPT dân tộc Khmer vừa mang tính đặc thù của bộ môn, vừa mang tính
đặc trưng đối tượng học sinh. Đối với học sinh Khmer của trường, chúng tôi chỉ áp
dụng “mưa dần thấm lâu”. Bởi vì nó không phải là việc làm “một sớm một chiều” là
hoàn thành. Nó còn chịu sự ảnh hưởng của phong tục tập quán người dân tộc thiểu số.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SKKN
1. Bảng khảo sát thống kê hiệu quả
16
Hiệu quả này có thể thấy việc mắc lỗi chính tả, ngữ pháp của học sinh THPT
Khmer (12A1, 12A3) trong quá trình học tiếng Việt ở trường THPT Dân Tộc Nội Trú
An Giang qua các bảng khảo sát thực tế như sau:
điệu
Số 1 16 01 01 02 14 04 04 03
Số 2 14 02 00 01 12 01 00 06
Số 3 13 00 00 02 10 03 01 02
Từ Số 1 20 00 01 00 16 03 00 00
Số 2 15 01 00 00 17 00 00 00
Số 3 09 03 00 00 13 00 01 00
1.3. Bảng thống kê số học sinh mắc lỗi ngữ pháp ở ba bài làm văn
Lỗi ngữ pháp Bài làm văn 12A1 12A3
Thiếu chủ ngữ Số 1 11 11
Số 2 10 09
Số 3 01 03
Thiếu vị ngữ Số 1 01 02
Số 2 00 00
Số 3 00 00
Thiếu nòng cốt câu C – V Số 1 02 03
Số 2 05 01
Số 3 00 00
2. Nhận xét
Nhìn vào bảng khảo sát, ta thấy hiệu quả đạt được ở mấy vấn đề sau :
Ưu điểm :
- Số học sinh mắc lỗi tiếng Việt đã giảm dần qua từng bài kiểm tra. Lớp 12A1,
bài viết làm văn số 1 có đến 28 học sinh mắc lỗi (chính tả, ngữ pháp), chiếm đến
87,5%. Đây là một con số không nhỏ. Vả lại đa phần học sinh trong lớp này đều ở mức
độ học tập khá giỏi. Nên con số ấy cho ta thấy nó không ổn. Nhưng sau khi sửa chữa ở
một số bài làm văn số 1, 2, đến bài viết làm văn số 2, các em có sự thay đổi hẳn. Số học
sinh mắc lỗi chỉ còn lại 20 học sinh, chiếm tỉ lệ 62,5%, giảm khoảng 25,0%. Tỉ lệ giảm
tương đối. Đó là điều đáng mừng. Còn lớp 12A3, số học sinh mắc lỗi là 26/29 học sinh
ở bài viết làm văn số 1, chiếm tỉ lệ 89,7%. Tỉ lệ này cao hơn lớp 12A1. Đến viết bài làm
văn số 3, nó đã giảm xuống còn 22/29 học sinh, tỉ lệ 75,9%. So với lớp 12A1, tuy nó
những bộ môn tự nhiên, xã hội (ngoại trừ môn Ngữ văn) cũng đồng bộ cùng với giáo
viên bộ môn Ngữ văn uốn nắn, sửa sai cho học sinh Khmer khi học tiếng Việt ở bộ môn
của mình đảm nhiệm.
- Chúng ta luôn luôn động viên, khuyến khích kịp thời mọi sự tiến bộ của học
sinh.
2. Về phía học sinh :
- Khi đã nắm được các quy tắc chính tả, ngữ pháp tiếng Việt, học sinh nắm được
cách đọc – viết đúng các từ ngữ, các ngữ pháp câu mà không cần phải ghi nhớ máy móc
từng trường hợp riêng biệt.
- Học sinh nên coi trọng tất cả các phân môn, không xem nhẹ môn nào bởi vì các
môn đều có liên quan bổ sung cho nhau. Nhất là môn Ngữ văn lại là môn cơ bản để
nắm bắt tất cả các bộ môn khác. Điều này lại có một ý nghĩa quan trọng đối với học
sinh Khmer khi học tiếng Việt. Vì nắm chắc tiếng Việt thì các em sẽ dễ dàng khám phá
các bộ môn khác.
II. Ý NGHĨA CỦA SKKN
18
- Khắc phục các lỗi chính tả, ngữ pháp tiếng Việt là phương tiện để giáo viên
giúp học sinh Khmer sử dụng tiếng Việt thành thạo và đúng chuẩn mực.
- Đối với giáo viên dạy học ở các vùng có học sinh dân tộc Khmer, nó giúp ta có
một phương pháp dạy học tiếng Việt mang tính hệ thống và biết cách đối chiếu so sánh
khi gặp hiện tượng giao thoa ngôn ngữ trong học sinh dân tộc. Giáo viên có thể vận
dụng nó trong bất kỳ phân môn nào của chương trình Ngữ văn : Văn học, Tiếng Việt,
Làm văn. Nhưng khi sử dụng nó, người dạy – người học phải khéo léo tránh sự lạm
dụng tiếng dân tộc, biến nó thành tiết học Khmer ngữ. Từ đó, giáo viên có thể vượt qua
những cản trở trong quá trình dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer nói riêng,
học sinh dân tộc thiểu số nói chung.
- Chúng ta vận dụng nó một cách đúng đắn sẽ giúp cho đối tượng học sinh dân
tộc Khmer tin tưởng và giảm bớt “rào cản ngôn ngữ” ở bản thân khi sử dụng tiếng Việt
trong quá trình học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông. Các em sẽ càng yêu tiếng Việt
và tiếng mẹ đẻ của mình hơn, nhất là “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”.
1. Cao Xuân Hạo, Lý Tùng Hiếu, Nguyễn Kiên Trương, Võ Xuân Trang, Trần
Thị Tuyết Mai (2002), Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục, NXB Khoa học xã hội, Tp.
HCM.
2. Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu, Sách giáo khoa “Tiếng Việt lớp 10”, hợp nhất
chỉnh lý năm 2000, NXB Giáo dục.
3. Đặng Ngọc Lệ, Trần Minh Tâm, Phạm Minh Thuý (1989), Phương pháp dạy
Tiếng (Tài liệu tham khảo), Đại học sư phạm tp. HCM.
4. Đinh Cao và Lê A (1991), Sách giáo khoa “Làm Văn lớp 10”, NXB Giáo dục.
5. Hồ Lê, Trần Thị Ngọc Lang, Tô Đình Nghĩa (2002), Lỗi từ vựng và cách khắc
phục, NXB Khoa học xã hội, Tp.HCM
6. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (2005), Phương Pháp dạy học
Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2005.
7. Lê Văn Bài, Hoàng Xuân Tâm, Bùi Tất Tươm (2003), Giúp bạn nói đúng, viết
đúng tiếng Việt, NXB Giáo dục.
8. Lâm Sai, Thạch Xa Rắt, Sô Phin (1998), Ngữ pháp tiếng Khmer, NXB Văn
hoá dân tộc.
9. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Hiếu (2003), Cơ sở ngôn ngữ
học – Tiếng Việt, NXB Giáo dục.
10. Mông Ký Slay, “Tiếng dân tộc, vật cản hay sức đẩy đối với việc Tiếng Việt
của học sinh dân tộc”, tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 10, 1997.
11. Ngô Chân Lý (2004), Tự học chữ Khmer, NXB Thông tấn xã, Hà Nội.
12. Nguyễn Kim Thản, Hồ Lê, Lê Xuân Thại (1983), Nói và viết đúng tiếng Việt,
NXB Giáo dục.
13. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2001), Từ điển tiếng Việt cho học sinh dân tộc,
NXB Giáo dục.
14. Nguyễn Xuân Khoa, “Lỗi ngữ pháp của học sinh – nguyên nhân và cách sửa
chữa”, tạp chí Ngôn ngữ, số 1, 1975.
15. Thái Văn Chải (1997), Tiếng Khmer (ngữ âm – từ vựng – ngữ pháp), NXB
Khoa học xã hội.
16. Trương Dĩnh (1998), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy – học Tiếng ở