BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỒNG THỊ KIM CHI
MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. LẠI TIẾN DĨNH
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
LỜI CAM ĐOAN
Để thực hiện luận văn “Mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, tôi đã tự mình
nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, vận dụng kiến thức đã học và trao đổi với giảng viên
hướng dẫn, bạn bè, …
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả trong luận văn này là những thông tin xác thực.
TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013
Người thực hiện luận văn
Đồng Thị Kim Chi
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 7
MỞ ĐẦU 9
CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH 39
2.1. Khái quát thực trạng của các DNNVV 39
2.1.1. Số lượng các DNNVV trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh thời gian qua 39
2.1.2. Vốn đăng ký kinh doanh của các DNNVV 40
2.1.3. Nhu cầu vốn của các DNNVV 41
2.2. Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM 42
2.3. Thực trạng mở rộng tín dụng NHTM đối với DNNVV trên địa bàn TP.HCM 46
2.4. Đánh giá thực trạng mở rộng tín dụng NHTM đối với DNNVV 56
2.4.1. Những kết quả đã đạt được 56
2.4.2. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63
CHƯƠNG 3 64
PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ
ĐẾN MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNVV CỦA NHTM 64
3.1. Thiết kế nghiên cứu 64
3.1.1. Nghiên cứu sơ bộ 64
3.1.2. Nghiên cứu chính thức 65
3.2. Xây dựng thang đo 66
3.2.1. Thang đo từ chối cấp tín dụng 67
3.2.2. Thang đo tiếp tục cấp tín dụng 68
3.2.3. Thang đo khó khăn khi giao dịch tín dụng 69
3.2.4. Thang đo chất lượng dịch vụ tín dụng 69
3.2.5. Thang đo giá cả tín dụng 70
3.2.6. Thang đo mở rộng tín dụng 71
3.3. Thông tin mẫu nghiên cứu 71
3.4. Kiểm định mô hình đo lường 72
3.4.1. Kiểm định Cronbach Alpha đối với các thang đo 72
3.4.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 74
3.4.3. Điều chỉnh mô hình nghiên cứu 77
3.5. Kiểm định các giả thuyết và mô hình nghiên cứu 79
3
Bảng 1.4: Phân loại DNNVV tại Việt
Nam
4
Bảng 2.1: Số lượng DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 39
Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh và số vốn đăng
ký qua các năm tại TP. HCM 41
Bảng 2.3: Nhu cầu vốn bình quân của một DNNVV trên địa bàn Tp Hồ
Chí Minh 42
Bảng 2.4: Vốn huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 43
Bảng 2.5: Tình hình dư nợ tín dụng của các NHTM trên địa bàn
TP.HCM 54
Bảng 2.6:
Sự thay đổi dư nợ tín dụng của các NHTM trên địa bàn
TP.HCM 55
Bảng 3.1: Thang đo thành phần từ chối cấp tín dụng 69
Bảng 3.2: Thang đo thành phần tiếp tục cấp tín dụng 69
Bảng 3.3: Thang đo thành phần khó khăn khi giao dịch tín dụng 70
Bảng 3.4: Thang đo thành phần chất lượng dịch vụ tín dụng 71
Bảng 3.5: Thang đo thành phần giá cả tín dụng 71
Bảng 3.6: Thang đo mở rộng tín dụng 72
Bảng 3.7: Kết quả kiểm định Cronbach Alpha các thang đo 74
Bảng 3.8: Kết quả EFA các thang đo thành phần 76
Bảng 3.9: Kết quả kiểm định Cronbach Alpha các thang đo (lần 2) 77
Bảng 3.10: Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo 78
Bảng 3.11: Mã hóa lại các thang đo 79
Bảng 3.12: Thông số của các biến trong phương trình hồi quy 82
Bảng 3.13: Các hệ số hồi quy 83
Bảng 3.14: Mức độ quan trọng của các nhân tố đối với mở rộng tín dụng 85
các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam có thể xuất phát từ cả phía các ngân hàng
thương mại và bản thân các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc phát triển TDNH đối với
các DNNVV đồng thời cũng mở ra tiềm lực tăng trưởng tín dụng nhanh chóng và lâu
dài cho hoạt động của hệ thống NHTM.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tháo gỡ những khó khăn cho đôi bên và tạo điều
kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận với các sản phẩm tài trợ tín dụng từ
ngân hàng, thúc đẩy sản xuất là thực sự cần thiết cho các nhà quản lý trong chiến lược
tăng trưởng và phát triển trước tình hình nền kinh tế tài chính trong nước và trên thế
giới nhiều biến động như hiện nay. Cùng chung trong bối cảnh đó, các
DNNVV và các
đơn vị NHTM tại thành phố Hồ Chí Minh
cũng không phải đứng ngoài cuộc, càng đặc
biệt hơn khi đây là một trung tâm kinh tế trọng điểm có quy mô lớn ở khu vực
phía Nam.
Với những lý do trên, đề tài đã thực hiện nghiên cứu với chủ đề: “Mở
rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa của các ngân hàng thương
mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đi vào làm rõ lý luận về tín dụng đối với DNNVV, vai trò của
TDNH đối với DNNVV, mở rộng TDNH đối với DNNVV. Đánh giá thực trạng,
những hạn chế trong việc mở rộng tín dụng đối với DNNVV của các ngân hàng thương
mại trên địa bàn, sử dụng các kết quả có được qua việc phân tích khảo sát để từ đó đưa
ra những giải pháp mở rộng tín dụng đối với DNNVV tại các NHTM trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu góp phần giúp các đơn vị ngân hàng thương mại và các doanh
nghiệp nhỏ và vừa có thêm cơ sở trong việc xem xét thực hiện mở rộng tín dụng tại địa
bàn. Đồng thời thực hiện xây dựng mô hình xác định những tác động, ảnh hưởng đến
vấn đề mở rộng tín dụng. Từ đó, các ngân hàng thương mại có định hướng để gia tăng
phát triển việc cấp tín dụng cho DNNVV, còn các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có
những điều chỉnh linh hoạt phù hợp hơn khi muốn gia tăng quan hệ tín dụng với các
nghiệm trong việc cấp tín dụng cho các DNNVV, phân
tích, đánh giá
những khó khăn
vướng mắc của các DNNVV trong việc tiếp cận nguồn tài trợ từ ngân hàng cũng
như việc
cấp
tín dụng cho các DNNVV của các NHTM trên địa bàn.
Từ đó tìm ra
các giải pháp nhằm mở rộng tín dụng tài trợ các DNNVV của các NHTM, đồng thời
giúp cho các DNNVV cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp này vượt qua thách thức để phát triển
trong quá trình
hội
nhập.
Kết cấu của luận văn nghiên cứu
• Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.
• Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
của các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
• Chương 3: Phân tích định lượng tác động của các nhân tố đến mở rộng tín dụng
của các ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
• Chương 4: Giải pháp mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa của
các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
1
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MỞ
RỘNG TÍN DỤNG NHTM ĐỐI VỚI DNNVV
1.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thực tế cho đến nay, khó có thể có một định nghĩa mang tính phổ về loại hình
DNNVV do môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp này thường không đồng nhất
giá trị tài
sản
hoặc nguồn vốn không quá 3.000.000 USD và tổng doanh thu hàng
năm không quá 3.000.000
USD.
- Doanh nghiệp vừa: là các doanh nghiệp có không quá 300 lao động, tổng
giá trị tài
sản
hoặc nguồn vốn không quá 15.000.000 USD và tổng doanh thu hàng
năm không quá 15.000.000
USD.
Theo khối EU, DNNVV là những doanh nghiệp có dưới 250 nhân công và
được chia
thành
ba loại
sau:
- Doanh nghiệp siêu nhỏ: có dưới 10 nhân công, doanh số 2 triệu Euro, tổng
tài sản 2
triệu
Euro.
- Doanh nghiệp nhỏ: có từ 10 nhân công đến dưới 50 nhân công, doanh số 10
triệu Euro,
tổng
tài sản 10 triệu
Euro.
- Doanh nghiệp vừa: có từ 50 nhân công đến dưới 250 nhân công, doanh số
50
triệu
Pêsô.
Nguồn: Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý
Hàn Quốc: chủ yếu sử dụng tiêu thức số lao động đang làm việc thường xuyên:
Bảng 1.3: Phân loại DNNVV tại
Hàn Quốc
Ngành nghể
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vốn Lao động
Ngành chế tạo, vận tải < 500 triệu won < 300 người
Ngành kiến trúc < 500 triệu won < 50 người
Ngành thương mại, dịch vụ < 50 triệu won < 50 người
Ngành bán buôn < 200 triệu won < 50 người
Nguồn: Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý
Tại Việt Nam, trước đây, Chính phủ đã ban hành nghị định số 90/2001/NĐ-CP
ngày 23 tháng 1 năm 2001về trợ giúp phát triển DNNVV, trong đó xác định rõ
DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật
hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng
năm không quá 300 người. Ngoài ra không có tiêu chí xác định cụ thể chi tiết doanh
nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.
Hiện nay, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước cùng với yêu cầu
cấp thiết trong vấn đề hỗ trợ phát triển đối với các DNNVV, Chính phủ đã ban hành
nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV. Theo đó
DNNVV được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã
đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ,
vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác
4
định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm
(tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể:
Bảng 1.4: Phân loại DNNVV tại Việt
Nam
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến 50
người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50 tỷ
đồng
từ trên 50
người đến
100 người
Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ
Nghị định cũng nêu rõ “Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách,
định tài trợ, có ba loại rủi ro được quan tâm, gồm: rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính, và
rủi ro mang tính đặc thù liên quan đến chủ doanh nghiệp.
1
Rủi ro kinh doanh: Được định nghĩa như sự nhạy cảm của các hoạt động doanh
nghiệp trước những thay đổi đột ngột của môi trường, và sự thiếu khả năng của doanh
nghiệp trong việc cung ứng các sản phẩm với chi phí cạnh tranh (do thiếu khả năng đáp
ứng chiến lược cạnh tranh, thiếu khả năng áp dụng các công nghệ thích ứng, thiếu hiểu
1
Trương Quang Thông (2010)
6
biết về tiến triển của công nghệ và thiết bị sản xuất, thiếu các hoạt động nghiên cứu
phát triển). Các DNNVV thường bị phụ thuộc mạnh vào một hay một số rất ít khách
hàng, thiếu đa dạng hóa, … Vì vậy những chủ nợ sẽ lựa chọn tài trợ cho DNNVV với
một lãi suất cao hơn so với các doanh nghiệp lớn. Những chủ nhân và những người
điều hành các DNNVV do thường chuyên trách một công việc đặc biệt nào đó trong
hoạt động của doanh nghiệp nên ít quan tâm đến các lĩnh vực hoạt động khác (kiến
thức quản lý thiếu, ít chú trọng tổ chức quản lý và hoạch định tài chính doanh nghiệp,
hệ thống tin học và kế toán yếu kém). Điều này cũng tạo thêm lý lẽ cho các chủ nợ khi
cho rằng rủi ro của các DNNVV là cao hơn rủi ro của các doanh nghiệp lớn.
Rủi ro tài chính: Được thể hiện ở khả năng thực hiện các cam kết cho các nghĩa
vụ trả nợ trong tương lai. Trong thực tế, khi phân tích các hồ sơ đề nghị cấp tín dụng,
các tổ chức tín dụng quan tâm chủ yếu đến bản chất và số lượng của các khoản nợ thể
hiện trên các tài liệu kế toán, nhằm xác định mức độ tài trợ mà họ có thể cung ứng. Rủi
ro kinh doanh là một nhân tố ảnh hưởng quan trọng đối với rủi ro tài chính, rủi ro trong
kinh doanh sẽ kéo theo sự sụt giảm của lợi nhuận, do đó doanh nghiệp rơi vào tình
trạng bất khả thi trong việc tôn trọng các cam kết đến hạn.
Rủi ro của chủ sở hữu/nhà quản lý doanh nghiệp: Loại rủi ro này liên quan đến
tính cách, kinh nghiệm của người có liên quan. Các yếu tố được xem xét gồm: tính ưa
thích độc lập, tự chủ trong kinh doanh, mức độ ngại hay sợ rủi ro, cách thức quản trị
rủi ro. Tính độc lập tự chủ của chủ sở hữu/người điều hành doanh nghiệp có thể được
thi được điều này, vì các DNNVV mang tính tư hữu cao, chủ yếu do các cá nhân có
8
vốn tự đầu tư hoặc góp vốn cùng nhau kinh doanh ở bất cứ nơi đâu, bất kỳ lĩnh vực
hoạt động nào với quy mô tuỳ ý.
- Về lao động: Các doanh nghiệp lớn thường có nhu cầu về lao động với những
trình độ nhất định, giới hạn trong những lĩnh vực sản xuất nhất định. Trong khi đó, các
DNNVV do nhu cầu đa dạng nên có thể sử dụng lao động ở đủ mọi lứa tuổi, mọi trình
độ, từ lao động có trình độ cao đến lao động có trình độ thấp hay cả những lao động
chưa hề qua đào tạo, và thuộc mọi lĩnh vực, ở khắp các địa phương.
- Về kỹ thuật: DNNVV lựa chọn kỹ thuật phù hợp với khả năng về vốn và trình
độ lao động. Những kỹ thuật được ứng dụng trong các DNNVV rất đa dạng, phong
phú: thủ công đến cơ khí hóa, tự động hóa; truyền thống hay tiên tiến, hiện đại. Mỗi
trình độ kỹ thuật có những ưu - nhược điểm riêng, và đều được tận dụng tối đa, nhất là
trong điều kiện nền kinh tế của các nước đang phát triển.
- Về nguyên vật liệu: Từ các đặc trưng hoạt động sản xuất kinh doanh của
DNNVV đã tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế về địa điểm hoạt động sản xuất kinh
doanh. Với sự phân bổ ở hầu hết các vùng, địa phương đã giúp cho doanh nghiệp tận
dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ. Ngoài nguồn tài chính và lao động của dân
cư địa phương, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn sử dụng nguồn nguyên liệu trong vùng để
hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là ở những nơi mà các doanh nghiệp lớn không
thể bao phủ hết được.
1.1.3.3. Góp phần đào tạo lực lượng lao động cơ động, linh hoạt và có chất lượng
Các DNNVV có thể tham gia góp phần vào công việc đào tạo, nâng cao tay
nghề cho người lao động và phát triển nguồn nhân lực. Một bộ phận lớn lao động trong
nông nghiệp và số lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm có thể được thu
hút vào các DNNVV, để thích ứng với nề nếp tác phong công nghiệp và một số ngành
dịch vụ liên quan.
9
1.1.3.4. Nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế, ngăn chặn độc
quyền
DNNVV tham gia vào các ngành sản xuất cũng rất lớn như trong công nghiệp chế biến
chiếm 86%, trong công nghiệp khai thác mỏ chiếm 84%, trong sửa chữa lắp ráp cơ khí
nhỏ, mô tô-xe máy đồ dùng chiếm 93%, trong phân phối điện, khí đốt và nước khoáng
chiếm 93%. Cả nước hiện có trên 500.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong đó
97% là DNNVV sử dụng trên 30% tổng vốn đầu tư và hơn 50% số lao động trong các
doanh nghiệp, tạo ra trên 40% số hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu, đóng góp trên 47%
GDP, và đóng góp gần 40% ngân sách Nhà nước.
1.1.3.6. Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và phân
công lao động giữa các vùng – địa phương
Sự phát triển của DNNVV có thể góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và cơ cấu lao động trong một quốc gia, thu hút được ngày càng nhiều lao động ở
nông thôn cũng như một số lượng lớn lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc
làm, lực lượng lao động này chủ yếu tập trung vào các ngành phi nông nghiệp, công
nghiệp và đã giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, cơ cấu ngành, cơ cấu các
thành phần kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quốc gia.
1.2. Tín dụng ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với loại hình DNNVV
Hoạt động của DNNVV diễn ra trên quy mô không quá lớn nên dễ nắm bắt và
bao quát được, vì vậy công tác thẩm định đòi hỏi ít thời gian và ít kỹ năng hơn so với
thẩm định một doanh nghiệp lớn; quy trình và thủ tục cấp tín dụng cũng đơn giản hơn.
Nhân viên tín dụng thường ít gặp trở ngại trong việc tiếp xúc với doanh nghiệp,
trong việc yêu cầu được kiểm tra sổ sách, chứng từ thu - chi của doanh nghiệp. Tuy
11
nhiên khó khăn trong việc thẩm định cấp tín dụng đối với các DNNVV chính là ở chỗ
khả năng cung cấp các số liệu kế toán tài chính và khả năng lập dự toán và phương án
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này thường rất hạn chế. Báo cáo tài chính
của các DNNVV thường không thể hiện đầy đủ hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, hoặc chưa hoàn toàn trung thực và chưa được kiểm toán. Đặc biệt, tại
hầu hết các doanh nghiệp nhỏ việc hạch toán kế toán không theo chuẩn mực chung, mà
chỉ mở sổ theo dõi sơ sài, không phản ánh kịp thời thực tế hoạt động của doanh nghiệp.
cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của DNNVV. Với tư cách là một trung tâm tín dụng,
các ngân hàng thương mại có vai trò tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong
các thành phần kinh tế để đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp. DNNVV với đặc
điểm nổi bật là vốn chủ sở hữu thấp nên thường rơi vào tình trạng thiếu vốn. Do đó nhu
cầu huy động vốn từ bên ngoài là điều không thể thiếu và nguồn tài trợ từ ngân hàng là
một kênh quan trọng đặc biệt. Nguồn tài trợ này giúp cho các doanh nghiệp có thể kịp
thời bổ sung vốn, tiếp tục duy trì quá trình sản xuất kinh doanh một cách liên tục, mở
rộng quá trình sản xuất, trang bị đổi mới máy móc thiết bị tạo điều kiện cho doanh
nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, cạnh tranh với các đối thủ khác.
Tín dụng ngân hàng đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Để có thể yêu cầu cấp tín dụng từ ngân hàng doanh nghiệp phải có được
phương án kinh doanh khả thi, hiệu quả, kế hoạch sử dụng vốn cụ thể, rõ ràng, tình
hình tài chính ổn định Mặt khác, khi sử dụng vốn của ngân hàng, DNNVV phải phải
hoàn trả cả lãi lẫn gốc sau một khoảng thời gian nhất định. Chính những lý do đó đã
thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn, đảm bảo thanh toán được nợ và
kinh doanh có lãi. Trong quá trình cho vay ngân hàng cũng thực hiện kiểm soát trước,
13
trong và sau khi giải ngân buộc các doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và
có hiệu quả.
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong nền kinh tế thị trường rất ít có doanh nghiệp nào sử
dụng hoàn toàn 100% vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay được xem là
đòn bẩy tài chính giúp DNNVV tối ưu hóa cơ cấu vốn, đạt chi phí sử dụng vốn thấp
nhất, tiết kiệm chi phí. Chi phí sử dụng vốn sẽ ảnh hưởng lên giá thành sản phẩm. Do
vậy, để đạt hiệu quả thì doanh nghiệp phải biết kết hợp giữa nguồn vốn tự có và nguồn
vốn vay với tỷ lệ hợp lý giúp tối đa hóa lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất.
1.2.2.2. Đối với NHTM
Với chính sách khuyến khích phát triển DNNVV của Chính phủ, xem sự phát
triển của DNNVV là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, vì vậy DNNVV
được tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, DNNVV được xem là nhóm khách