hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại tổng công ty cổ phần bia – rượu – nước giải khát hà nội - Pdf 24

Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC SƠ ĐỒ 6
LỜI MỞ ĐẦU 7
PHẦN I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 9
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức hạch toán nguyên, vật liệu trong doanh nghiệp
sản xuất 9
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nguyên vật liệu. 9
1.1.1.1. Khái niệm : 9
1.1.1.2. Đặc điểm: 9
1.1.2. Vai trò của nguyên vật liệu: 9
1.1.3. Yêu cầu của công tác quản lý nguyên vật liệu 10
1.1.4. Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu 11
1.2. Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu: 11
1.2.1. Phân loại nguyên vật liệu: 11
1.2.2. Nguyên tắc đánh giá và cách đánh giá nguyên vật liệu 13
1.2.2.1. Nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu: 13
1.2.2.2.Đánh giá nguyên vật liệu 15
1.3. Kế toán nguyên vật liệu theo chế độ kế toán hiện hành 19
1.3.1. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu 19
1.3.1.1. Chứng từ kế toán sử dụng 19
1.3.1.2. Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu: 20
1.3.2. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu 25
1.3.2.1. Hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường

2.3.4.1. Tài khoản sử dụng 81
2.3.4.2. Hạch toán kế toán tổng hợp nguyên, vật liệu 82

PHẦN III: MỘT SỐ Ý KIẾN NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN
BIA-RƯỢU-NƯỚC GIẢI KHÁT HÀ NỘI 87
3.1. Nhận xét về công tác kế toán nguyên vật liệu tại Tổng công ty. 87
3.1.1. Ưu điểm 87
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 3
3.1.2. Nhược điểm 89
3.1.2.1. Về hạn chế trong phương pháp tính giá xuất kho vật tư 89
3.1.2.2. Về phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu 89
3.1.2.3. Về việc lập “biên bản kiểm nghiệm vật tư” 89
3.1.2.4. Về công việc giữa các kế toán 89
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nghiệp vụ kế toán NVL tại TCT Cổ
phần BRNGK Hà Nội 90
3.2.1. Hoàn thiện phương pháp tính giá xuất kho của nguyên vật liệu 90
3.2.2. Hoàn thiện phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu 91
3.2.3. Lập “Biên bản kiểm nghiệm vật tư” 93
3.2.5. Hoàn thiện công việc giữa các kế toán 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 4 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Bảng danh điểm NVL chính 15215 – NVL chính kho 5 58

Bảng 2.2: Màn hình giao diện nhập vật tư 64

Bảng 2.3: Màn hình giao diện xuất kho vật tư 68

Bảng 2.4: Báo cáo kho nguyên liệu chính 72

Bảng 2.5: Bảng kê chi tiết nhập vật tư 75

Bảng 2.6: Bảng kê chi tiết xuất vật tư 76

Bảng 2.7: Báo cáo nhập – xuất – tồn vật tư 77

Bảng 2.8: Bảng kê số 3 78

Bảng 2.9: Bảng phân bổ Nguyên vật liệu 79

Bảng 2.10: Bảng tổng hợp TK 152 80

Bảng 2.11: Sổ cái TK 152 84

Bảng 2.12: Nhật ký chứng từ số 7 (trích) 86

Bảng 3.1. Sổ đối chiếu luân chuyển 92



Sơ đồ 1.10: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký chứng từ 44

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức và quản lý của Tổng công ty CP BRNGK Hà Nội 48

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại đơn vị. 52

Sơ đồ 2.3: Quá trình vào sổ, lập báo cáo trên phần mềm kế toán máy 55

Sơ đồ 2.4: Quy trình ghi sổ kế toán theo hình thức NK chứng từ 56

Sơ đồ 2.5: Quy trình hạch toán nguyên vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu luân
chuyển tại Tổng công ty 70
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 7 LỜI MỞ ĐẦU

Từ khi chuyển đổi cơ chế kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường, nền kinh tế nước ta đã có nhiều thay đổi. Tính “mở” của nền
kinh tế đã tạo điều kiện cho việc ra đời của rất nhiều loại hình doanh nghiệp,
khuyến khích các doanh nghiệp tham gia ngày càng nhiều hơn trong các lĩnh
vực. Không những mở cửa kinh tế trong nước mà Việt Nam cũng đã chủ động
ký kết các hiệp định thương mại với nhiều nước trên thế giới. Ban đầu, các DN
nước ta gặp nhiều khó khăn vì trong quá trình hội nhập tỏ ra kém năng động so

góp phần hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán nguyên vật liệu tại Tổng công ty.

Nội dung khóa luận gồm ba phần chính:

Phần I. Những lý luận chung về tổ chức công tác kế toán nguyên,
vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
Phần II. Thực trạng kế toán nguyên, vật liệu tại Tổng Công Ty Cổ
phần Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội
Phần III. Một số ý kiến nhận xét, đánh giá và hoàn thiện công tác kế
toán nguyên vật liệu tại Tổng Công Ty Cổ phần Bia –
Rượu – Nước giải khát Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của giáo
viên hướng dẫn ThS. Trương Hồng Phương và các cán bộ kế toán tại Tổng
công ty Cổ Phần Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội. Qua đây, e xin được gửi
tới cô giáo và các cô chú, anh chị trong phòng kế toán cùng toàn thể Ban lãnh
đạo Tổng công ty Cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội lời cảm ơn chân
thành nhất!
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 9 PHẦN I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1. Sự cần thiết phải tổ chức hạch toán nguyên, vật liệu trong doanh nghiệp
sản xuất
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nguyên vật liệu.

việc dự trữ và sử dụng NVL một cách hợp lý và tiết kiệm.
Như vậy, nguyên vật liệu có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự sống còn
của doanh nghiệp.
1.1.3. Yêu cầu của công tác quản lý nguyên vật liệu
Quản lý chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm từ khâu thu mua đến khâu bảo toàn, sử
dụng, dự trữ chính là yêu cầu đặt ra đối với việc quản lý nguyên vật liệu.
- Các DN thu mua Nguyên vật liệu đủ khối lượng, chất lượng, quy cách,
chủng loại, giá mua và chi phí mua cũng như kế hoạch mua đúng tiến độ, thời gian
phù hợp với kế hoạch sản xuất của DN. Đồng thời, DN phải thường xuyên tiến
hành phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thu mua để từ đó chọn nguồn
thu mua đảm bảo về chất lượng, số lượng, giá cả và chi phí thu mua thấp nhất.
- Đối với khâu dự trữ, đòi hỏi phải thúc đẩy nhanh quá trình chuyển hóa của
NVL, hạn chế NVL bị ứ đọng, rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh. Do đó,
doanh nghiệp phải xây dựng được định mức dự trữ tối đa và mức dự trữ tối thiểu
cho từng loại NVL, từ đó có dự trữ vừa phải đảm bảo cho quá trình sản xuất
không bị ngừng trệ, gián đoạn do việc cung ứng thu mua không kịp thời hoặc
gây tình trạng ứ đọng vốn do việc dự trữ quá nhiều.
- Tổ chức bảo quản NVL phải quan tâm tới việc tổ chức tốt nhà kho, bến bãi,
trang bị đầy đủ các phương tiện cân đo, kiểm tra phương tiện vận tải phù hợp với
từng loại vật tư nhằm hạn chế những hao hụt, mất mát, hư hỏng xảy ra trong quá
trình bảo quản.
- Cuối cùng là ở khâu sử dụng, đòi hỏi phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ
sở định mức, dự toán chi phí nhằm hạ thấp chi phí, giảm bớt tiêu hao NVL trong
giá thành sản phẩm, tăng tích lũy cho doanh nghiệp. Do vậy, ở khâu này cần tổ
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 11
chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng NVL trong quá
trình sản xuất.
Các doanh nghiệp phải chú ý đến việc tiết kiệm triệt để NVL sao cho cùng

nhằm phục vụ cho yêu cầu quản trị của DN.
- Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu kế toán quản trị trong doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu được chia thành các loại sau:
+ Nguyên vật liệu chính ( bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài): Là đối
tượng lao động chủ yếu. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu
chính là đối tượng chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm như: tôn, đồng, sắt,
thép trong các doanh nghiệp chế tạo máy, cơ khí, xây dựng cơ bản; bông, sợi
trong các doanh nghiệp dệt vải, trong các xí nghiệp may , toàn bộ giá trị của
nguyên vật liệu được chuyển vào giá trị sản phẩm mới. NVL chính dùng vào sản
xuất hình thành nên chi phí vật liệu trực tiếp. Đối với nửa thành phẩm mua ngoài
với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất sản phẩm , ví dụ như: sợi mua ngoài
trong các doanh nghiệp dệt cũng được coi là nguyên vật liệu chính.
+ Nguyên vật liệu phụ: Là các loại vật liệu được sử dụng trong quá trình
sản xuất có tác dụng phụ đối với quá trình sản xuất kinh doanh, làm tăng chất
lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm khi kết hợp với NVL chính hoặc phục vụ
cho công việc quản lý sản xuất, bao gói sản phẩm đảm bảo cho quá trình sản
xuất được tiến hành một cách bình thường. Các loại vật liệu này không cấu thành
nên thực thể sản phẩm.
+ Nhiên liệu: là các chất dùng để tạo ra năng lượng cung cấp nhiệt lượng
cho quá trình sản xuất kinh doanh như hơi đốt, dầu, khí nén, xăng, , không cấu
thành vào thực thể sản phẩm. Nhiên liệu thực chất là một loại vật liệu phụ được
tách ra thành một nhóm riêng do vai trò quan trọng của nó và để nhằm mục đích
dễ quản lý và hạch toán hơn. Dựa vào tác dụng của nhiên liệu trong quá trình sản
xuất có thể chia nhiên liệu thành những nhóm sau:
. Nhiên liệu dùng trực tiếp cho sản xuất.
. Nhiên liệu sử dụng cho máy móc thiết bị.
Nhiên liệu có thể tồn tại ở nhiều thể khác nhau như: rắn ( than, củi ), lỏng (
xăng dầu, ), khí ( khí đốt )
Kế toán nguyên vật liệu


hiện được”.
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 14
Trong đó:
- Giá gốc hàng tồn kho (HTK) bao gồm chi phí thu mua, chi phí chế biến và
các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để được HTK ở địa điểm và trạng
thái hiện tại.
- Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của HTK trong kỳ
sản xuất kinh doanh bình thường trừ đi chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm
và các chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng.
Như vậy, phù hợp với chuẩn mực kế toán của HTK trong công tác hạch toán
NVL ở các doanh nghiệp, NVL được tính theo giá thực tế.
* Nguyên tắc thận trọng:
Thực hiện nguyên tắc này bằng cách trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn
kho, kế toán đã ghi sổ theo giá gốc và đã phản ánh khoản dự phòng giảm giá
HTK. Do đó, trên báo cáo tài chính trình bày các chỉ tiêu:
- Các chính sách kế toán áp dụng trong việc đánh giá HTK.
- Giá trị dự phòng giảm giá HTK.
- Giá trị hoàn nhập dự phòng giảm giá HTK.
- Những trường hợp dẫn đến việc trích lập thêm hoặc hoàn nhập dự phòng
giảm giá HTK.
- Giá trị ghi sổ của HTK (Giá gốc (-) Dự phòng giảm giá HTK) đã dùng để
thế chấp cầm cố đảm bảo cho các khoản nợ phải trả.
* Nguyên tắc nhất quán:
Các phương pháp kế toán áp dụng trong đánh giá vật tư hàng hóa phải đảm
bảo tính nhất quán. Tức là kế toán đã lựa chọn phương pháp nào thì phải áp dụng
phương pháp đó nhất quán trong suốt niên độ kế toán. Doanh nghiệp có thể thay
đổi phương pháp đã chọn, nhưng phải đảm bảo phương pháp thay thế cho phép
trình bày kế toán một cách trung thực và hợp lý hơn, đồng thời phải giải thích

- Đối với nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự gia công chế biến:
Giá thực tế

nhập kho
=

Giá mua ghi

trên hóa đơn

+

Chi phí thu
mua
+

Thuế nhập khẩu
(nếu có)
-

Các khoản
giảm trừ
(n
ếu có)

Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 16

- Đối với nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến :

=
Giá thực tế nguyên vật
liệu xuất chế biến
+
Chi phí
có liên quan
Giá thực tế nguyên
vật liệu nhập kho
=
Giá do các bên
tham gia xác định

+
Chi phí có liên
quan khác
Giá thực tế nguyên
vật liệu nhập kho
=

Giá thị trường tương đương (hoặc giá
NVL ghi trên biên bản bàn giao)
+
Chi phí
liên quan khác
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 17
Để tính trị giá thực tế của nguyên vật liệu xuất dùng, doanh nghiệp có thể áp
dụng một trong các phương pháp sau:
- Phương pháp bình quân gia quyền.

Giá trị thực tế lần
nhập kế tiếp
Đơn giá bình
quân từng lần nhập
=

Số lượng vật liệu
tồn đầu kỳ
+
Số lượng vật liệu
nhập kế tiếp

Trị giá nguyên vật liệu
xuất dùng
=

Số lượng nguyên vật liệu xuất
dùng

X

Đơn giá thực tế
bình quân
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 18
Phương pháp này phản ánh được sự biến động của giá cả thị trường sau mỗi
lần nhập, thông tin kế toán kịp thời. Tuy nhiên, khối lượng công việc kế toán
nhiều, tính toán phức tạp, chỉ áp dụng với doanh nghiệp sử dụng kế toán máy.
- Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ được tính theo công thức:

hướng giảm thì vật liệu xuất tính theo giá mới sẽ thấp, giá thành sản phẩm hạ, tự
giá vật liệu tồn kho cao, mức lãi trong kỳ sẽ cao, hàng tồn kho có giá trị thấp, lợi
nhuận trong kỳ sẽ giảm.
• Phương pháp giá thực tế đích danh:
Theo phương pháp này, doanh nghiệp phải quản lý, theo dõi vật liệu theo
từng lô hàng. Khi xuất kho nguyên vật liệu thuộc lô hàng nào thì căn cứ vào số
lượng xuất kho và đơn giá nhập kho thực tế của lô hàng đó để tính giá thực tế
xuất kho.
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 19
Có thể nói đây là phương pháp rất hiệu quả trong việc phản ánh giá trị vật
liệu đúng với giá trị thực tế của nó. Bên cạnh đó, phương pháp này tuân thủ theo
nguyên tắc phù hợp của hạch toán kế toan giữa chi phí thực tế và doanh thu thực
tế. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ áp dụng với các doanh nghiệp nhỏ, có ít
chủng loại NVL, dễ nhận diện và đơn giá của các loại NVL đó có giá trị lớn.
• Phương pháp giá hạch toán:
Giá hạch toán là giá mà doanh nghiệp tự xây dựng để hạch toán trong suốt một kỳ
kế toán trên tài khoản tồn kho. Nhưng vì giá hạch toán chỉ là giá dùng để ghi chép
trên sổ kế toán nên nó không có tác dụng đánh giá giá trị vật liệu tồn kho cuối kỳ và
nó cũng không có tác dụng dùng để xây dựng giá trị vật liệu thực tế được sử dụng
trong quá trình sản xuất. Do đó trong kỳ, doanh nghiệp có thể hạch toán theo giá cố
định nhưng cuối kỳ phải điều chỉnh theo giá thực tế, theo công thức: Giá thực tế vật liệu
xuất dùng trong kỳ
=

Giá hạch toán nguyên vật

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 20
Theo “ Hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp” hướng dẫn về chứng từ kế
toán ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài Chính
ban hành ngày 20/3/2006 quy định việc hạch toán vật liệu sử dụng các chứng từ
kế toán như sau:
- Phiếu nhập kho (Mẫu 01-VT)
- Phiếu xuất kho (Mẫu 02-VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư ( Mẫu 03-VT)
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (Mẫu 04-VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư (Mẫu 05-VT)
- Bảng kê mua hàng (Mẫu 06-VT)
- Bảng phân bổ nguyên vật liệu (Mẫu 07-VT)
- Các chứng từ khác có liên quan: Hóa đơn bán hàng, hóa đơn GTGT, chứng
từ chi tiền, giấy thanh toán tạm ứng
1.3.1.2. Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu:
Kế toán nguyên vật liệu đòi hỏi phản ánh cả về giá trị, số lượng, chất lượng
của từng loại vật liệu theo từng kho bảo quản và từng người phụ trách. Thực tế
hiện nay có 3 phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu:
- Phương pháp thẻ song song
- Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- Phương pháp sổ số dư
Cụ thể như sau:
Phương pháp thẻ song song: trình tự ghi chép như sau:
* Ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép hàng ngày tình hình nhập,
xuất, tồn của từng danh điểm vật tư ở từng kho theo chỉ tiêu số lượng.
* Ở phòng kế toán: Hàng ngày hay định kỳ 3-5 ngày, nhân viên kế toán
xuống kho để kiểm tra việc ghi chép của thủ kho, sau đó ký xác nhận vào thẻ
kho và nhận chứng từ nhập, xuất về phòng kế toán. Tại phòng kế toán, nhân viên
kế toán hàng tồn kho thực hiện việc kiểm tra chứng từ và hoàn chỉnh chứng từ
rồi căn cứ chứng từ nhập, xuất kho để ghi vào sổ (thẻ) chi tiết vật tư, mỗi chứng

- Nhược điểm: Việc ghi chép giữa thủ kho và kế toán còn trùng lặp về chỉ tiêu
số lượng. Hơn nữa, khối lượng ghi chép nhiều, việc kiểm tra đối chiếu chủ yếu tiến
hành vào cuối tháng làm hạn chế chức năng kiểm tra kịp thời của kế toán.
Thẻ kho
Chứng từ
xuất
Chứng từ
nhập
Sổ (thẻ) chi tiết vật
liệu
Bảng kê tổng hợp
nhập-xuất-tồn
Sổ kế toán tổng hợp
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 22
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp này áp dụng thích hợp trong các doanh
nghiệp có ít chủng loại vật liệu, số lượng các nghiệp vụ (chứng từ) nhập-xuất ít,
không thường xuyên và trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán còn hạn chế.
Nếu doanh nghiệp làm kế toán máy, phương pháp này vẫn được áp dụng cho
doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật tư diễn ra thường xuyên.
Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
* Ở kho: Theo phương pháp này, việc ghi chép của thủ kho giống như
phương pháp thẻ song song. Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép hàng ngày
tình hình nhập, xuất, tồn vật liệu ở từng kho theo từng thứ vật liệu.
* Ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ đối chiếu luân chuyển, để ghi chép tình
hình nhập, xuất, tồn, của từng loại nguyên vật liệu theo cả hai chỉ tiêu: số lượng
và giá trị ở từng kho dùng cho cả năm, mỗi tháng chỉ ghi 1 lần vào cuối tháng.
Để có số liệu ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển, kế toán lập bảng kê nhập, xuất,
cuối tháng tiến hành kiểm tra đối chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển tiền

tiêu hiện vật, việc kiểm tra đối chiếu giữa kho và phòng kế toán cũng tiến hành
vào cuối tháng, kế toán không ghi sổ trong tháng, việc cung cấp tài liệu cần thiết
không kịp thời, thường chậm nên hạn chế tác dụng kiểm tra của kế toán.
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp này ít được vận dụng và thích hợp trong các
doanh nghiệp có khối lượng nghiệp vụ nhập - xuất NVL không nhiều, quy mô
nhỏ, không bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết vật liệu nên không có điều kiện
ghi chép theo dõi hàng ngày.
Phương pháp sổ số dư:
* Ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để phản ánh tình hình biến động vật tư
giống các phương pháp trên. Sổ số dư được thủ kho sử dụng để ghi chép số tồn
kho cuối tháng của từng thứ vật tư theo chỉ tiêu khối lượng. Hàng ngày, thủ kho
căn cứ chứng từ nhập, xuất vật liệu để ghi vào thẻ kho, sau đó chuyển chứng từ
này cho kế toán. Cuối tháng thủ kho căn cứ vào số lượng tồn kho của từng mặt
hàng trên thẻ kho để ghi vào sổ số dư rồi chuyển cho kế toán. Sổ số dư do kế
toán mở cho từng kho, dùng cho cả năm, cuối mỗi tháng giao cho thủ kho ghi
một lần.
* Ở phòng kế toán: Hàng ngày căn cứ vào các phiếu nhập, xuất kho do thủ
kho chuyển đến, kế toán ghi vào bảng kê nhập- xuất- tồn của từng kho theo chỉ
tiêu giá trị.
Cuối tháng, thực hiện cộng số liệu trên các bảng kê nhập, xuất vật tư để biết
thêm thông tin về giá trị của từng nhóm nhập, xuất trong cả tháng. Sau đó, căn
cứ vào số liệu này để ghi vào bảng kê lũy kế nhập, xuất, tồn rồi tính ra số tồn
kho theo từng nhóm vật tư ghi vào cột tồn kho trên bảng kê này. Cũng vào cuối
tháng, sau khi nhận được sổ số dư do thủ kho chuyển lên, kế toán căn cứ vào số
lượng tồn kho trên sổ số dư và căn cứ vào đơn giá hạch toán của từng thứ vật tư
để tính ra chỉ tiêu thành tiền trên sổ số dư. Số liệu trên các dòng cộng theo nhóm
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 24
vật tư và theo loại vật tư cột thành tiền trên sổ số dư được đối chiếu với số lượng

Thẻ kho
Chứng từ xuất Chứng từ nhập
Bảng kê nhập
Bảng kê xuất Sổ số dư
Bảng luỹ kế nhập Bảng luỹ kế xuất
Bảng luỹ kế nhập-
xu

t
-
t

n

Sổ kế toán tổng hợp
Kế toán nguyên vật liệu

Lại Thị Tố Quyên – K17KT1 Page 25
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp này thích hợp trong các doanh nghiệp sản
xuất có khối lượng các nghiệp vụ xuất- nhập (chứng từ nhập - xuất) nhiều,
thường xuyên, nhiều chủng loại vật liệu và với điều kiện doanh nghiệp sử dụng
giá hạch toán để hạch toán nhập xuất, trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán là
tương đối cao.
Nhìn chung, bất cứ một phương pháp nào cũng có ưu điểm và nhược điểm
riêng. Vì vậy, tùy theo tình hình cụ thể của NVL ở mỗi DN mà lựa chọn hạch toán
cho phù hợp.
1.3.2. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
Hạch toán tổng hợp vật liệu là việc ghi chép sự biến động về mặt giá trị của
nguyên vật liệu trên các sổ kế toán tổng hợp. Trong hệ thống kế toán hiện hành,
nguyên vật liệu thuộc nhóm hàng tồn kho nên hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status