O
PHẠM THỊ
THU THANH
(Trường THPT Nguyễn Trung Trực)
Giải
B
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do
chọn
đề tài
Trong
văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
X,
Đảng
ta
chỉ rõ:
“Ưu
tiên
hàng đầu
cho
việc
nâng
cao
chất lượng dạy
và học. Đổi mới
chương trình,
nội
“Cần phải gắn
kết cả hệ thống
chính
trò và nhân dân cùng chăm
lo
phát triển sự nghiệp giáo dục
và
đào tạo, nâng
cao
chất lượng nguồn nhân
lực
đáp ứng ngày càng tốt
hơn cho
sự nghiệp
đổi mới
trong
đó
trọng
tâm là nâng
cao
chất lượng dạy
và
học”.
Qua
các chủ
trương
của Đảng và nhà nước từ
trung ương
đến đòa
qua
còn thấp,
chưa
đáp ứng được
sự
kì
vọng
của toàn xã hội. Làm thế nào để
nâng
cao
chất lượng môn văn, học
sinh
học
tốt môn văn, tự
tin trong
học tập
thi
cử là
điều chúng
ta
đặc
biệt
quan
tâm.
Trong chương trình
làm văn hiện hành, văn nghò luận được
đưa
năm giảng dạy lớp
12 theo chương trình
cải cách,
bản thân nhận thấy
năng
lực làm văn nghò luận của học
sinh
còn nhiều hạn chế. Khả
1
năng
nhận
thức vấn đề của học
sinh
còn
mơ
hồ,
thiếu
vốn sống và
kinh
nghiệm thực
tiễn.
Từ đó
dẫn đến chất lượng
bài làm của học
sinh
còn
thấp.
Từ
nâng
cao
hiệu quả đào tạo
trong
trường phổ
thông.
2.
Lòch
sử
đề tài
Đề tài
“Một số
kinh
nghiệm giảng dạy phân môn làm văn phần nghò luận
xã
hội
lớp
12”
đã
có
rất nhiều giáo viên dạy văn
nói
chung
và giáo viên dạy văn lớp
12
nói
riêng
tìm
còn
mang tính
chất
lí
thuyết, hoặc các
kinh
nghiệm của đồng nghiệp
qua
hội thảo
do
Sở Giáo dục v
à
Đào
tạo
An Giang
tổ chức
khi
áp dụng
cho
mọi đối tượng học
sinh
nhiều
khi
vẫn còn
hạn
chế nhất
đònh.
Vì
vậy,
những năm vừa
qua,
với
mong
muốn
trao
đổi cùng đồng
nghiệp
để giúp học
sinh
cải
thiện được chất lượng học văn của
mình.
3.
Giới hạn đề
tài
Đề tài
“Một số
kinh
nghiệm giảng dạy phân môn làm văn nghò luận
xã hội lớp
12
”
chủ
yếu
nghiên
cứu vấn đề hướng dẫn học
sinh
kó năng làm tốt bài văn nghò luận
tưởng đạo
lí
và nghò
luận về một hiện tượng
đời sống.
Qua
thống
kê kết quả của
hai
bài viết tôi nhận thấy
kết quả đạt được
rất thấp. Cụ thể:
3
Từ kết quả đó, tôi đã
đi
sâu
tìm
hiểu việc học tập của các
em
ở
lớp,
ơ û
nhà,
suy
ngẫm lại cách dạy của
bản thân. Tôi nhận thấy học
sinh
làm kiểu bài nghò luận xã hội
một hiện tượng đời
sống.
Sau
mỗi
tiết
học học
sinh
có một bài viết thực hành. Bài viết số
1
tại lớp, bài
viết
số
2
ở
nhà.
Vì
vậy, thời
gian
để học
sinh
luyện tập thực hành trên lớp là rất
ít.
Mặt khác, hiện
nay do xu
thế thời đại, học
sinh
có tâm
lí thích
học các môn
chủ yếu
do
chúng
ta chưa
tạo được hứng thú
trong
giờ học văn
cho
học
sinh.
Dạy nghò luận
xã hội mà
ta chưa
đổi mới
phương
pháp
dạy học còn sử
dụng
phương
pháp dạy cũ, áp
đặt đối với học
sinh, chưa
tạo điều
kiện
cho
các
em
bộc lộ
suy
ta
vẫn còn thực hiện
qua
loa, chưa
thực sự
coi
trọng khâu chấm
trả
bài.
Đó là một số
nguyên nhân
cơ
bản của thực trạng
trên.
2.
Những biện pháp thực
hiện
2.1.
Nghiên cứu
chương
trình
Trước tiên, tôi nghiên cứu kó
chương trình
sách giáo
khoa v
ề
dạng
đề
nghò luận
xã hội từ
niệm
văn nghò luận, các
thao
tác lập luận
trong
văn nghò luận
xã
4
hội và học
sinh
được làm
quen,
luyện
tập với
các
dạng
đề
tìm
hiểu về những câu
ca
dao
tục ngữ, những câu
danh
ngôn, ngạn ngữ
đơn
giản.
Ơ Û
cấp
quan
tâm.
Nắm được sự nối tiếp
chương trình
của các cấp lớp, khối lớp, giáo viên thuận
lợi
trong
việc kế thừa
và
cung
cấp kiến thức mới
cho
học
sinh.
Chẳng hạn
trong kì
thi
5
tốt
nghiệp
2008-2009,
câu
2
về nghò luận xã hội của
ban cơ
bản bàn về tác dụng
của sách, nếu học
sinh được
giáo viên
sinh
thông
qua
tiết
tự chọn.
Qua
đó phân loại từng nhóm
trình
độ
học
sinh
để có
phương
pháp dạy học
phù hợp với từng đối tượng học
sinh.
Công việc này tiếp tục thực
hiện qua
bài làm
thực hành
trong
tiết luyện tập,
qua
bài kiểm
tra
số
1,
số
2
năm
học 2008-2009 v
a ø
2009-2010,
tôi thường xuyên dự giờ
các đồng nghiệp đặc biệt
dự các tiết dạy nghò luận xã hội
ơ û
khối
11,12. Qua
giờ
dạy
của đồng nghiệp,
tôi học tập được những
kinh
nghiệm
của các giáo viên khác. Từ đó,
tích
lũy thêm
kinh
nghiệm để giảng dạy tốt
hơn
bài nghò luận xã hội.
2.4.
Hướng dẫn học
sinh
có thói
quen tích
lũy
liệu. Những việc rất
bình
thường
nhưng
nếu
co ù y ù
thức, vốn sống của
mình
sẽ
được nuôi dưỡng. Đó có
thể là
những công
việc:
+
Mỗi sáng xé tờ
lòch, tôi
khuyên học
sinh
hãy đọc
xem
có lời
hay
ý
đẹp nào
cần
suy
ngẫm,
ghi
vào
thể cháy nhà
Cháy rừng
như
thể cháy
da
thòt
mình”
Học
sinh
phải tự hỏi tại
sao
lại có
những
lời cảnh báo đó?
Ý
nghóa
của nó là
gì?
6
Thực trạng rừng bây
giờ
như
thế
nào?
+
Khuyên
học sinh
có
chính mình;
Mái ấm
ATV;
Trái
tim cho
em;
Ước
mơ
của
Thúy…
Khi xem
truyền
hình
thấy những hiện tượng vô cảm
như em Bình
bò hành
hung ngay
giữa Thủ
đô Hà Nội; cháu Hảo
ơ û
Bình
Phước bò
ba
mẹ ngược
đãi, tôi
đều kể
cho
các
gian
nên trước hết giáo viên
đọc cho
học
sinh nghe,
những
chuyên mục
có
ích cho
học tập,
cho
việc phát triển nhân cách của học
sinh. Sau khi
học
sinh thích
thú và có thói
quen tìm
hiểu giáo viên hướng dẫn học
sinh
tự
tìm
tòi để
đọc.
Khi tìm
được
những
bài báo phù hợp, tôi chọn thời
gian 15
phút đầu giờ hoặc
tiết tự chọn, tiết bồi dưỡng học
nuôi bạn, câu chuyện:
Tình
nghóa
ở
quán nước
nghèo…),
chuyên mục
“Chuyện
đời tự
kể”
của báo Tuổi trẻ,
những bài báo viết v
ề
hình
ảnh sông
Hồng, sông
MeKong
cạn kiệt,
chương trình
“ Bàn về giá
trò của yêu
thương”
của đài
truyền
hình HTV, chương trình
phát động
trong
tháng
Thanh
ghi
chép làm
tư
liệu,
tích
lũy vốn
sống.
Những công việc trên tôi đều hướng dẫn các
em
làm, khuyến
khích
những
em
thực hiện tốt
bằng
cách
cho
điểm thưởng, đặc biệt những
em
yếu kém đều được
khích
lệ
khi
có sự tiến bộ.
2.5.
Rèn luyện kó năng viết, tăng cường luyện tập
Giải pháp này tôi thực hiện
trong
tiết tự chọn, tiết bồi dưỡng yếu và
luyện tập về nhà.
là cả lớp, còn tiết bồi
dưỡng
yếu đối tượng
là học
sinh
từ
trung bình
yếu trở
xuống.
Vào đầu năm học,
sau khi
có kế
hoạch phân công của nhà trường
tổ
chuyên
môn tiến hành
họp
bàn về kế
hoạch giảng dạy
trong
năm học, lập kế
hoạch giảng dạy
tiết
chính
khóa, tiết tự chọn và bồi
dưỡng
học
sinh
yếu, bồi dưỡng học
sinh
nhất đònh.
Trong chương trình kì I,
tổng số
18
tiết tự chọn
được chia ra: 4
tiết
rèn luyện kó năng
làm
văn
nghò luận xã hội về một
tư
tưởng
đạo lí, 4
tiết rèn luyện
kó năng làm văn nghò luận về một hiện
tượng
đời sống,
4
tiết rèn luyện kó năng làm văn
nghò luận văn học về một bài
thơ,
đoạn
thơ, 2
tiết rèn
luyện kó năng
làm văn về một
mở bài hoàn chỉnh. Nội
dung
các đề bài học
sinh tìm
hiểu, tôi lựa chọn các vấn đề
có ý
nghóa giáo dục v
a ø
những vấn đề
đang
xẩy
ra trong
thực tế cuộc sống để học
sinh tìm
hiểu.
Trong
1
tiết học trên lớp, học
sinh tìm
hiểu
hai
đề giáo viên đã
cho
trước, học
sinh
thảo
luận
theo
giao cho
đối tượng học
sinh
khá giỏi
trình
bày trước,
sau
đó hướng dẫn
học
sinh trung bình
và yếu kém
trình
bày phần chuẩn bò của
mình.
Đối với học
sinh
khá giỏi
khi trình
bày ý, tôi
yêu cầu thoát
li
giấy nháp còn học
sinh
yếu được cầm phần chuẩn bò
trình
bày. Công việc này được lặp
đi
lặp
ề
nghò luận
xã hội là
4
tiết.
Trong 4
tiết học, giáo viên dành
1
tiết nhắc lại
lí
thuyết về
hai
dạng nghò luận đã học, hướng dẫn các
em
cách
thu
thập dẫn chứng
trong
cuộc sống để
tích
lũy và cách
đưa
dẫn chứng vào bài văn.
Ba
tiết còn lại
thực
hành tại lớp. Học
sinh
y ù
hoàn
chỉnh. Khi
sửa đề, tôi yêu cầu học
sinh
phải
trình
bày mở bài bằng lời văn và cách
mở bài
nhanh,
trực tiếp, không
hướng dẫn học
sinh
yếu mở bài gián
tiếp.
Đối với đối tượng yếu, học
sinh
phải luyện tập thêm
ở
nhà. Mỗi
em
phải có
một vở
luyện
tập.
Hai
tuần giáo viên
kì I.
Ơ Û
học
kì II,
học
sinh
luyện tập nghò luận văn
học.
Đối với đối tượng học
sinh
khá giỏi tôi khuyến
khích
học
sinh
làm bài thêm
ơ û
nhà. Các dạng đề
tôi
cho
các
em
chủ yếu là
dạng đề mở.
Ví
dụ:
Sau khi xem
triển
lãm ảnh của Nguyễn
A Ù
Á.
Sau khi
chấm
bài của học
sinh,
tôi sữa chữa những thiếu sót và hướng
dẫn nội
dung
hoàn chỉnh
cho
học
sinh.
Học
sinh
có
thể
gặp giáo viên ngoài giờ lên lớp
để hiểu thêm nội
dung
mà
mình
còn
chưa
hiểu. T
ôi
chọn bài tốt nhất đọc
cho
tình
cảm
(tình
bạn,
tình
yêu,
tình
cảm với người
thân…)
-
Đạo đức, nhân cách
(trung
thực, dũng cảm, giản dò, khiêm tốn, kiêu ngạo,
vô
cảm…)
-
Hạnh
phúc…
Đối với dạng đề nghò luận về một hiện tượng đời sống, giáo viên hướng dẫn
học
sinh quan
tâm
đến những hiện tượng
đang
“nóng” hiện
nay như:
-
Bạo lực
(gia đình,
cao
chất lượng dạy học. Giáo viên
thiết kế một
bài
dạy
vừa
phải đảm bảo nội
dung
kiến thức vừa phải phù hợp
với
đặc
trưng
bộ
môn.
Vì
vậy,
tôi
đã
nghiên cứu sách
giáo
khoa,
tài
liệu
tham
khảo, kết hợp
Đối
với
dạng
bài
nghò
luận về
tư
tưởng đạo
lí,
dàn ý
chung
gồm các ý:
Mở
bài:
-
Dẫn dắt vấn đề
-
Nêu vấn đề nghò luận
Thân bài:
sao
sai?)
-
Giải
thích tư
tưởng đạo
lí
-
Phân
bày.
Đối
với
dạng
bài
nghò luận về hiện tượng
đời
sống, dàn
y ù
chung
gồm các
ý:
Mở
bài:
-Dẫn dắt hiện
tượng
-
Nêu hiện
tượng
Thân bài:
- Trình
bày thực trạng hiện
tượng
-
Nguyên nhân xảy
ra
hiện
chép lại vào giấy
thi.
T
ôi
đã sửa thói
quen
đó bằng cách buộc học
sinh khi
làm bài phải chuẩn bò
giấy nháp,
sau khi ghi
đề
xong,
không được viết vào giấy
thi
mà phải
ghi
đề
ra
giấy
nháp, gạch những
từ ngữ
quan
trọng của đề.
Sau
đó tiến hành
tìm
hiểu đề bài,
kó năng
tìm
hiểu phân
tích
đề, kó năng
tìm
y ù
và lập dàn
ý,
kó năng diễn
đạt hành văn.
Trước hết tôi yêu cầu học
sinh
đọc kó đề, bám vào những
từ ngữ
quan
trọng,
mối
quan
hệ giữa các
vế, các
y ù
trong
đề. Từ đó tiến hành khâu
tìm
hiểu đề. Giáo viên
hướng dẫn học
sinh tìm
hai
dạng nghò luận xã hội nêu
trên để vừa
tìm
ý
vừa
sắp xếp
y ù
theo
một
trình
tự hợp
lí.
Hướng dẫn học
sinh
kó năng diễn đạt thành v
ăn.
Yêu cầu v
ề
hình
thức bài viết
phải rõ ràng,
ngay
ngắn, cẩn thận,
khi trình
bày phải đúng
minh,
giải
thích,
phân
tích, bình
luận
-
Nội
dung:
Bàn về thảm họa
gia
tăng dân số
-
Phạm
vi
dẫn chứng:
Trong
cuộc sống
Bước
2: Tìm
ý.
Đề bài có các
y ù
chính
sau:
- Tình
trạng
gia
tăng dân số của nước
ta
trước
thảm
họa
gia
tăng dân
số?
Bước
3:
Lập dàn
y ù
đại
cương.
-
Mở bài:
+
Dẫn dắt vấn đề: Hiện
nay
dân số của
Việt
Nam v
a ø
thế giới
đang
tăng
nhanh
+
Nêu vấn đề nghò luận: Dân
số tăng
dụ
2:
Hướng dẫn học
sinh tìm
hiểu đề:
Quan
niệm của
anh
(chò)
về
hạnh phúc
trong
thời đại hiện
nay.
Học
sinh
thực hiện các bước
sau:
Bước
1: Tìm
hiểu đề
+
Đề bài bàn về vấn đề nghò luận
tư
tưởng đạo
lí,
sử dụng các
thao
tác giải
thích,
sự?
+
Làm thế nào để có
hạnh
phúc?
Bước
3:
Lập dàn
ý
đại
cương
-
Mở bài:
+
Dẫn dắt vấn đề: Hạnh phúc
là điều
ai
cũng
mong
mỏi.
+
Nêu vấn đề:
Nhưng quan
niệm thế nào là
hạnh phúc? Một vấn đề rất
đơn
giản mà
không
dễ dàng trả lời.
-
được hạnh phúc (khỏe mạnh, tâm hồn
trong
sáng,
trái
tim
yêu
thương,
học tập,
lao
động, cống
hiến).
-
Kết bài:
Suy
nghó bản
thân.
*
Hướng dẫn cách
tìm
dẫn chứng và
đưa
dẫn chứng vào bài.
-Yêu cầu dẫn chứng của nghò luận
xã hội phải ngắn gọn, có
con
số thống k
ê,
có căn cứ v
à
nguồn
tin
từ đâu, số liệu thống
kê…
- Khi
nêu dẫn chứng vể một
tư
tưởng đạo
lí
tôi yêu cầu học
sinh tìm
người
thật việc thật tiêu
biểu
trong
đời sống để vừa có
tính
thuyết phục vừa có hiệu
quả
trong
giáo dục.
Ví
dụ nói v
ề
tấm
gương
nghò lực
có
hai
cách mở bài
trực
tiếp v
à
gián tiếp.
Trong
quá
trình
giảng
dạy,
tôi hướng dẫn học
sinh theo hai
đối tượng.
Đối với học
sinh
từ
trung bình
trở
xuống nên mở bài trực tiếp
đi
thẳng vào đề, còn đối
tượng học
sinh
khá giỏi có thể
thực hiện cả
hai
cách trực tiếp và gián tiếp.Ví dụ: Mở bài
dòng sông lớn
như
sông
MeKong,
sông Hồng
đang cạn
kiệt dần.
Thực trạng
đó đã nói lên môi
trường
sống hiện
nay đang
bò
đe
dọa nghiêm
trọng.
-
Mở bài gián
tiếp:
Nhìn
những bác nông dân với ánh mắt thất thần bên ruộng lúa cháy lá, bên
ao
cá sắp khô
cạn,
chúng
ta
lại tự hỏi điều
gì đang
xảy
ra?
đoạn
văn
hoàn
chỉnh, câu văn viết không quá dài, dẫn chứng xác đáng, thuyết
phục. Hết mỗi
y ù
có
phần
chuyển đoạn sang
y ù
khác. Giữa các
y ù
của thân
bài
cần
xuống dòng
tạo
cảm giác “thoáng”, dễ đọc đối
với
người tiếp xúc. Cuối phần thân
bài
có
về
câu, diễn đạt, lỗi
hình
thức để học
sinh
tự nhận thức
mình sai
về nhóm lỗi
nào.
+
Hướng dẫn học
sinh
cách sửa lỗi, củng cố lại
phương
pháp làm bài.
+
Sửa đề cụ thể
cho
học
sinh,
chọn bài tốt nhất
trong
các lớp
đang
dạy đọc
cho
học
sinh
tốt nghiệp của học
sinh
chưa cao,
số
lượng
học sinh
giỏi không có,
tỉ lệ
học
sinh
yếu kém vẫn
con
nhiều.
Nhưng
so
với tỉ lệ
chung
của toàn tỉnh
cao hơn 20%.
Kết quả đó cũng đã
ghi
nhận sự cố gắng nỗ
lực của cả thầy và trò.
+
Chất lượng bài viết số
1
và số
2
học
kì 1
tiến bộ rõ rệt.
Đa
số các
em
đã nắm vững dàn
y ù
chung
của bài
nghò
luận xã hội
ở cả
hai dạng tư tưởng đạo lí
và hiện
tượng
đời sống. Thói
quen
nháp, kó năng lập dàn
ý,
thói
quen
đọc sách báo,
tích
lũy vốn
sống
không còn
xa
lạ
với
kinh nghiệm
Từ những k
ết
quả đạt được,
tôi đã áp dụng
cho
tất cả các lớp
mình
dạy,
trình
bày
trong
tổ
chuyên
môn để đồng nghiệp
tham
khảo và áp
dụng.
Tôi
hy
vọng rằng
kinh
nghiệm
của
mình
có
thể góp một phần nhỏ bé vào việc
nâng cao
chất
tổ,
trong
hội đồng bộ
môn.
+ Ban
giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện
cho
giáo viên giảng
dạy.
+
Có sự nỗ lực của học
sinh.
+
Bản thân luôn cố gắng học hỏi, đầu
tư cho
công tác soạn giảng.
Ngay
từ
đầu mỗi năm học,
tôi
lên kế hoạch cụ thể giảng dạy
trong
năm, nắm bắt cụ thể
tình
hình
học tập và hoàn cảnh của học
sinh
các lớp
mình
tạo được nhiều hứng thú
cho
học
sinh trong
học tập.
3.4.
Bài học
kinh nghiệm
Muốn nâng
cao
chất lượng bài văn nghò luận xã
hội cần phải:
V
ề
phía
học
sinh:
Phải có
y ù
thức thái độ học tập đúng đắn, phải có thói
quen tích
lũy
kiến thức, vốn
sống và kó năng làm bài văn nghò
luận.
Về
phía
giáo viên: Đầu
tư
của học
sinh
một cách cẩn thận kó lưỡng. Tận tụy với nghề nghiệp
để xứng đáng mỗi thầy cô là
một
tấm
gương
đạo đức, tự học và sáng
tạo.
V
ề
phía
tổ: Thường xuyên dự giờ thăm lớp,
trao
đổi
kinh
nghiệm,
phương
pháp giữa các
giáo
viên với
nhau, chia
sẻ
những thông
tin
thiết thực cùng
đồng nghiệp. tăng cường thảo luận bàn bạc chuyên môn
để có
cao
chất lượng môn ngữ văn
là một
trong
những yêu cầu cấp bách
nhằm góp phần
nâng cao
hiệu quả đào tạo. Để làm tốt
nhiệm vụ này,
đòi hỏi chúng
ta
phải thực hiện đồng bộ
nhiều giải pháp.
Ơ Û
đây
tôi chỉ
xin
nêu
ra
một giải pháp nhỏ mà
mình
đã thực hiện
trong hai
năm học vừa
qua
với
mong
muốn
trao