GÓP PHẦN RÈN LUYỆN SỰ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT SỐ 2 TP LÀO CAI TRONG GIỜ ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC - Pdf 24

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT SỐ 2 THÀNH PHỐ LÀO CAI
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
GÓP PHẦN RÈN LUYỆN SỰ SÁNG TẠO CHO
HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT SỐ 2 TP LÀO CAI
TRONG GIỜ ĐỌC - HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC.
Họ tên Giáo viên: Nguyễn Thị Thu Hà
Đơn v ị : Tổ Văn - Sử - GDCD
Trường : THPT Số 2 TP Lào Cai
Năm học: 2011 – 2012
1
Đ ề tài: GÓP PHẦN RÈN LUYỆN SỰ SÁNG TẠO CHO
HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT S Ố 2 TP LÀO CAI
TRONG GIỜ ĐỌC - HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC.
PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ
I.Phạm vi đề tài:
Trong nhiều năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều cải cách quan trọng từ
giáo dục ở bậc tiểu học cho đến đào tạo đại học và sau đại học. Riêng ở phổ thông
trung học, sự đổi mới thể hiện trên nhiều phương diện, rõ nhất là về chương trình,
sách giáo khoa và đặc biệt là phương pháp dạy học.
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ
thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp
dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận
dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn, tạo
niềm tin, niềm vui hứng thú trong học tập.
Từ mục đích của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, tôi xin trao đổi
kinh nghiệm của bản thân về một số giải pháp nhằm góp phần rèn luyện sự sáng
tạo cho học sinh trong giờ đọc - hiểu tác phẩm văn học ở chương trình ngữ văn bậc
THPT.
II. Phương pháp nghiên cứu:

tạo khi tiếp xúc tác phẩm văn chương.
b. Thị trường sách hiện nay: Sách in ấn nhiều, giảng giải cụ thể tác phẩm,
học sinh mua về chép lại một cách máy móc mà không suy nghĩ, sáng tạo do đó
dẫn đến tình trạng mù kiến thức.
c. Hiện tượng ít tập trung suy nghĩ, ít tìm tòi ở học sinh phải được khắc phục
dần qua những giờ dạy của giáo viên ở trên lớp và cách học của học sinh.
d. Khi tiếp xúc với tác phẩm văn học, học sinh chỉ hiểu theo một chiều, ít
chịu khó phát hiện, vốn từ ngữ nghèo, diễn đạt kém. Vì vậy, không đạt hiệu quả
cao khi cảm nhận tác phẩm văn chương.
PHẦN HAI: NỘI DUNG.
I. Phát huy sự sáng tạo cho học sinh trong giờ đọc hiểu tác phẩm.
Như chúng ta đã biết tiếp nhận văn học là một hoạt động nhằm chiếm lĩnh
giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học. Thông qua quá trình đầu tiên
là tiếp xúc, cảm thụ văn bản ngôn từ đến việc cảm nhận, hiểu ra chân giá trị của
hình tượng nghệ thuật và cảm hứng của nhà văn, tài năng diễn tả của nhà văn để
4
làm nên tác phẩm đó. Và cuối cùng là quá trình kết thúc sự tiếp nhận ở người đọc
qua việc hiểu, rung cảm, có được những rung cảm, những ấn tượng và chịu ảnh
hưởng của tác phẩm, của hình tượng nghệ thuật trong đời sống cá nhân.
Quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học đã giúp cho con người có được những
thói quen, những tình cảm lành mạnh, những suy ngẫm để tự rèn luyện, tự điều
chỉnh bản thân bởi vì chức năng tiếp nhận văn học không chỉ đơn thuần là quá trình
người đọc tiếp xúc với tác phẩm văn học mà nó còn diễn ra quá trình nhận thức ở
họ khi người đọc và người học có ý thức cao về những vấn đề trong tác phẩm văn
học. Quá trình học văn ở trường THPT đối với lứa tuổi học sinh chính là quá trình
thầy cô giúp các em tiếp xúc tác phẩm, hiểu ra cái đúng, cái hay của nó và bằng tài
năng của mình người thầy phải cảm thụ, cảm nhận một cách toàn diện để sau đó
từng bước đưa học sinh bước vào tác phẩm mà phân tích, cảm thụ và hiểu tác phẩm
một cách đầy đủ, đúng đắn.
Trong khi cảm nhận tác phẩm văn học, người đọc phải dùng liên tưởng,

thái độ căm thù, giọng đọc nhẹ nhàng ấm áp khi diễn tả tình cảm yêu thương
hoặc có thể đó còn là một hệ thống câu hỏi phù hợp, đúng lúc gõ vào trí tuệ học
sinh, bắt buộc học sinh phải suy nghĩ, phải căng thẳng chút ít để phán đoán mở
hướng hiểu, cách khai thác vấn đề.
Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn văn ở trường THPT, tôi thấy rằng để có
được một giờ giảng văn trọn vẹn quả thật là khó bởi vì đó là cả một nghệ thuật. Giờ
giảng văn đòi hỏi học sinh phải liên tưởng, tưởng tượng mới có sự sáng tạo trong
phát hiện tìm tòi trong khi đó thời gian rất eo hẹp. Đã thế lớp học có ít nhất 40 học
sinh, thầy chỉ có một mà trò thì quá nhiều, sự liên tưởng, tưởng tượng không đồng
đều ở học sinh. Tất cả chừng ấy yếu tố cũng đủ để chúng ta hiểu rằng khó có thể
6
cầu toàn đối với một giờ giảng văn. Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là
chúng ta hoàn toàn không thể có được những giờ dạy, bài giảng thành công. Với
những gì đã làm, đã học tập ở đồng nghiệp và tiếp xúc với nhiều khoá học sinh, tôi
thấy rằng: Chúng ta có thể giúp cho học sinh có điều kiện rèn luyện tư duy sáng tạo
khi tiếp xúc với tác phẩm văn chương qua một số vấn đề, một số thao tác sau đây:
1. Trong giờ giảng văn, trước khi giảng giáo viên có thể dùng lời kể hoặc lời
dẫn kết hợp với một số hình ảnh, đoạn phim, bài hát, câu thơ minh hoạ để tạo tâm
thế thoải mái, giúp học sinh có điều kiện thâm nhập được vào tác phẩm, vào bài
dạy một cách hứng thú.
Ví dụ:
- Giảng bài “ Ai đã dặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta
có thể dẫn dắt học sinh bằng lời giới thiệu, lời dẫn về con sông Hương của Huế ở
vẻ đẹp tự nhiên, văn hoá, lịch sử; hoặc cho học sinh nghe đoạn nhạc “Dòng sông ai
đã đặt tên?” kết hợp một số hình ảnh về sông Hương, xứ Huế và hỏi cảm nhận của
học sinh về dòng Hương Giang.
- Giảng bài “ Sóng ” của Xuân Quỳnh, ta có thể bắt đầu bằng một đoạn bài
hát về biển, một bài thơ có cùng chủ đề hoặc một trò chơi từ đó gợi dẫn về vấn đề
cơ bản cần tìm hiểu trong tác phẩm.
2. Phải khơi gợi ở học sinh sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú từ những

8
4. Trong giờ đọc hiểu, để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh, giáo viên
còn phải cố gắng tập cho học sinh có thói quen rèn luyện và thao tác cần thiết khi
chuẩn bị bài ở nhà và khi học giờ giảng văn ở lớp. Theo tôi đó có thể là những thói
quen sau:
- Thói quen đọc tác phẩm cẩn thận, kỹ càng, đọc đúng đọc, diễn cảm để tự
cảm nhận tác phẩm, đồng thời với việc đọc có suy nghĩ là thói quen gạch chân và
ghi lại những đoạn hay của tác phẩm.
- Thói quen đọc thuộc tác phẩm, ghi nhớ, suy ngẫm tác phẩm, những câu
đoạn mà mình tâm đắc nhất.
- Thói quen liên tưởng, liên hệ với những vấn đề, những tác phẩm khác có
liên quan đến những giá trị cơ bản trong tác phẩm đang học.
- Thói quen lật đi lật lại những vấn đề quan trọng khi cảm nhận phân tích tác
phẩm.
- Thói quen cảm nhận tác phẩm theo nhiều chiều, nhiều khía cạnh không
máy móc thụ động; phải tập trung suy nghĩ, phát hiện những điều mới lạ ở tac
phẩm khi cảm nhận nó qua sự dẫn dắt gợi ý của thầy cô, có nghĩa là phải có sự cảm
nhận của riêng mình.
- Phải biết và có thói quen cảm nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại, đặc
trưng thi pháp.
5. Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh ở giờ giảng văn không chỉ dừng
lại ở những thao tác trên mà nó còn đòi hỏi ở cả thầy lẫn trò một cách học, cách dạy
hợp lý, khoa học, linh hoạt, không phải bài nào cũng giảng và liên tưởng theo một
cách, không phải tác giả tác phẩm nào cũng một dạng lời bình mà phải tùy thuộc
vào hoàn cảnh, tác phẩm cụ thể để hướng dẫn học sinh cách cảm thụ, cách phát
9
hiện. Về phía học sinh, theo tôi nếu cầu toàn 100% học sinh đều cảm thụ tốt tác
phẩm văn học bằng tư duy của các em thì khó mà đạt được. Vì vậy phải tùy đối
tượng, tùy năng lực cảm thụ văn học của từng đối tượng mà hướng dẫn chỉ đạo các
em phát hiện sáng tạo phù hợp: Hệ thống câu hỏi đặt ra phải linh hoạt, phải có sự

tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
- Thấy được một số đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm.
B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG:
1/Kiến thức:
- Phẩm chất tốt đẹp của con người trong gia đình Việt, nhất là Chiến và Việt.
- Nghệ thuật trần thuật đặc sắc, nghệ thuật xây dựng tính cách miêu tả tâm lí nhân
vật, ngôn ngữ phong phú, góc cạnh, đậm chất hiện thực và màu sắc ở Nam Bộ
2/Kĩ năng:
Đọc- hiểu truyện ngắn hiện đại theo đặc trưng thể loại
C. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN:
- Sách giáo khoa, Chuẩn kiến thức kĩ năng, sách tham khảo.
- Thiết kế giáo án
D. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN:
Diễn giảng, phát vấn, thảo luận, gợi mở, đàm thoại.
E. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP:
1. Ổn định lớp – kiểm tra bài cũ: Tóm tắt truyện Những đứa trong gia đình của Nguyễn
Thi.
2. Bài mới:
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung bài học
11
Hoạt động 1: Giới thiệu
bài mới
Tiết 1
Lắng nghe, tạo tâm
thế vào bài
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả : SGK
Hoạt động 2: Hướng dẫn
học sinh tìm hiểu phần tiểu
dẫn trong SGK

kỳ kháng chiến chống Mỹ
Hoạt động 3: Hướng dẫn
học sinh đọc, tìm hiểu văn
bản
GV hướng dẫn HS đọc văn
bản
Hs đọc văn bản theo
hướng dẫn của GV
II. Đọc, hiểu văn bản
1. Đọc và giải nghĩa từ khó
Tiếp tục hướng dẫn HS tìm
hiểu văn bản.
2. Cảm nhận chung
12
H Hãy đề xuất hướng tìm
hiểu văn bản/?
H. Truyện "Những đứa
con trong gia đình" được
trần thuật chủ yếu từ điểm
nhìn của nhân vật nào?
Nhân vật được đặt trong
tình huống như thế nào?
Hãy nêu tác dụng của cách
trần thuận đó đối với kết
cấu truyện và việc khắc
họa tính cách nhân vật./?
Hs thảo luận trả lời
HS suy nghĩ trả lời
- Kể chuyện: tự sự qua dòng hồi tưởng của
Việt khi bị trọng thương nằm lại 1 mình ở

GV bổ sung, giảng giải,
kết luận.
Đại diện nhóm, trả
lời
giết giặc.
+ Giàu tình nghĩa, rất mực thủy chung son
sắt với quê hương, Cách mạng.

truyền thống gia đình trong mối quan hệ
với truyền thống Cách mạng, dân tộc tạo
nên 1 dòng sông truyền thống.
b. Nét riêng tiêu biểu từng thành viên
H. Tìm những chi tiết
trong tác phẩm đề cập đến
hình tượng chú Năm?
Trong số những chi tiết ấy
em ấn tượng với chi tiết
nào nhất? Vì sao?
GV bình chi tiết tiếng hò
Từ đó nêu những nhận xét
khái quát của em về nhân
vật này?
GV nhận xét, bổ sung
HS hệ thống, trả lời
Hs lắng nghe
HS thảo luận trả lời.
b1. Chú Năm:
- Hay kể về sự tích gia đình, tác giả của
cuốn biên niên sử gia đình.
- Dặn dò các cháu

phần trước.
dân Nam Bộ thời chống Mỹ
H. So với mẹ, chị Chiến có
những điểm nào giống và
khác? Nguyễn Thi có dụng
ý như thế nào trong việc
xây dựng hình tượng chị
Chiến?
HS tìm những chi
tiết tiêu biểu, nhận
xét
b3. Chị Chiến:
- Giống mẹ: + Vóc dáng
+ Đức tính: gan góc, đảm đang

kế thừa
- Tính cách

Vừa trẻ con: tranh công bắt ếch, tranh đi
tòng quân, tranh công bắt tàu giặc

Vừa ý thức là chị:
+ thương em , lo cho em, nhường nhịn
em

1 cô bé hồn nhiên, vô tư ở tuổi mới lớn
- Khác mẹ
+ trẻ trung, thích làm dáng
+ có điều kiện trực tiếp cầm súng đánh
giặc trả thù nhà, thực hiện lời thề sắt đá.

+ Luôn ý thức phải sống và chiến đấu để trả
thù nhà, đền nợ nước xứng đáng với truyền
thống gia đình.
+ Can đảm chịu đựng khi bị thương.
+ Tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu dù đang
bị kiệt sức.

Một con sóng vươn xa nhất trong dòng
sông truyền thống, người tiêu biểu cho tinh
thần tiến công cách mạng.
H. Em có kết luận như thế
nào về "những đứa con
trong gia đình"?
HS thảo luận theo
nhóm, đại diện trả
lời
* Tiểu kết:
Mỗi con người trong gia đình là một khúc
sông trong dòng sông truyền thống. Mỗi
khúc sông có một đặc điểm riêng nhưng họ
vẫn hướng về tô đậm hơn, phát huy hơn
truyền thống gia đình gắn chặt trong mối
tình đất nước thời kháng chiến chống Mỹ
H. Khái quát những nét cơ
bản về ngôn ngữ nghệ
thuật của tác phẩm?
HS suy nghĩ trả lời 2. Ngôn ngữ nghệ thuật:
- Xây dựng nhân vật bằng chi tiết cụ thể,
làm rõ góc cạnh của cuộc sống, tạo nên
không khí chân thực và có linh hồn.

- Tính huống truyện : Việt - một chiến sĩ
Quân giải phóng - bị thương phải nằm lại
trên chiến trường. Truyện kể theo dòng nội
tâm của Việt khi liền mạch (lúc tỉnh), khi
gián đoạn (lúc ngất) của "người trong cuộc"
làm câu truyện trở nên chân thật hơn ; có
thể thay đổi đối tượng, không gian, thời
gian, đan xen tự sự và trữ tình.
- Chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu
ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh. Ngôn ngữ
bình dị, phong phú, giàu tính tạo hình và
đậm sắc thái Nam Bộ.
- Giọng văn chân thật tự nhiên, nhiều đoạn
gây xúc động mạnh.
2) Ý nghĩa văn bản:
Qua câu truyện về những con người trong
một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền
thống yêu nước, căm thù giặc, thuỷ chung
với quê hương, với cách mạng, nhà văn
khẳng định : sự hoà quyện giữa tình cảm
gia đinh và tình yêu nước, giữa truyền
thống và truyền thống dân tộc đã tạo nên
17
sức mạnh tính thần to lớn của con người
Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc
kháng chiến chống Mĩ cứu nước
- Tìm đọc trọn vẹn tác
phẩm Những đứa con
trong gia đình.
- So sánh hai nhân vật Việt

khác nhau, tuy vậy vẫn có chỗ giống nhau trong tiếp nhận tác phẩm văn học giữa
các đối tượng: tác giả - người dạy - người học. Theo tôi để có sự gặp nhau ấy, cả
người dạy và người học phải có một trường liên tưởng, một sự tưởng tượng phong
phú, linh hoạt để từ đó người dạy có thể đưa người học vào tác phẩm bằng hệ thống
các câu hỏi, bằng lời bình, cách đọc, lời phân tích và người học tiếp nhận tác phẩm
bằng quá trình tích luỹ từ ngữ, vốn hiểu biết và khả năng cảm nhận được tác phẩm
văn chương để lĩnh hội từ người dạy những gì tâm đắc nhất, đồng thời mở rộng tầm
hiểu biết, suy nghĩ trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “ Học sinh nhớ nhiều, học nhiều
là điều đáng khuyến khích nhưng đó quyết không phải là điều chủ yếu. Điều chủ
yếu là dạy học sinh cách suy nghĩ sáng tạo. Chúng ta phải xem lại cách giảng dạy
văn trong trường phổ thông của chúng ta, không nên dạy như cũ bởi vì dạy như cũ
thì không những việc dạy văn không hay mà việc đào tạo con người cũng không có
kết quả. Vì vậy dứt khoát chúng ta phải có cách dạy khác, phải dạy cho học sinh
biết suy nghĩ, suy nghĩ bằng trí óc của mình và diễn tả suy nghĩ đó theo cách của
mình thế nào cho tốt nhất”. Thiết nghĩ dạy học sinh biết suy nghĩ sáng tạo trong giờ
đọc văn là điều cần thiết.
19
KI ẾN NGHỊ , Đ Ề XUẤT
Trên đây là một vài suy nghĩ của cá nhân tôi trong quá trình giảng dạy hướng
dẫn học sinh trong giờ đọc hiểu tác phẩm, vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót,
hạn chế. Rất mong các đồng nghiệp bổ sung để việc dạy học đạt kết quả tốt hơn.

Lào Cai, ngày 22/02/2012
Người viết

Nguy

n Th


14
PHẦN BA: KẾT LUẬN
14
KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
16
22
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status