SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TỔ CHỨC CỦNG CỐ BÀI HỌC THEO SƠ
ĐỒ VÀ CÁC HÌNH THỨC LUYỆN TẬP
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG GIỜ
HỌC PHẦN VĂN BẢN – MÔN NGỮ VĂN
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ.
Tác phẩm văn học- một bài thơ, một áng văn, một thiên truyện là một công
trình nghệ thuật, thể hiện những nghiền ngẫm, tìm tòi của nhà văn, nhà thơ về
cuộc sống, về con người được diễn tả bằng những hình thức nghệ thuật ngôn từ
tinh tế, đặc sắc. Mỗi tác phẩm văn học thực sự có giá trị thường mang nhiều ý
nghĩa và cả
ảnh hưởng lâu dài, sâu sắc trong nhận thức tư tưởng, tình cảm của
người đọc.
Dạy học tác phẩm văn chương là một loại hình dạy học đặc thù, đòi hỏi sự nỗ
lực từ cả hai phía: giáo viên và học sinh; lấy giá trị của tác phẩm làm điểm xuât
phát để hướng tới một mục đích. Con đường và cách thức dạy học tác phẩm văn
chươ
Với những yêu cầu đổi mới trong phương pháp dạy học ngày càng đòi hỏi có
những thành tựu mới, nhằm từng bước khắc phục tình trạng thụ động trong l
ĩnh
hội kiến thức, khẳng định vai trò chủ động sáng tạo của học sinh. Tư duy sáng tạo
thể hiện qua hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của học sinh không phải là hoạt
động mang tính đơn nhất trong quá trình tiếp nhận văn học. Vì vậy rèn luyện tư
duy sáng tạo cho học sinh trong giờ văn là rất quan trọng, góp phần khắc phục
những bất cập của phương pháp dạ
y học văn theo lối truyền thụ một chiều. Đó là
cách thức vật chất hoá các hình thức hoạt động hướng nội, kích thích năng lực
sáng tạo tự thân của học sinh để quá trình dạy học văn trở thành quá trình học
sinh tự phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách và bồi dưỡng tâm hồn cho các em.
Chương trình dạy học văn trong nhà trường đã trải qua những cải cách lớn,
từng thu được không ít k
ết quả, song đến nay vẫn có thể nói: câu hỏi về chất
lượng dạy học văn vẫn là mối quan tâm sâu sắc của toàn xã hội. Việc đổi mới
phương pháp dạy học văn ngay từ thực tiễn cũng như bình diện lí luận, hướng đi,
cơ chế, cách thức tiến hành đang là vấn đề còn nhiều bức xúc.
3. Thực trạng cần cải tiến :
Việc đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh là một
việc làm cần thiết trong dạy học văn ở nhà trường. Nó phải được thực hiện một
cách có ý thức và liên tục trong suốt giờ học văn. Giờ dạy học văn bao gồm các
khâu: đọc, tìm hiểu tác giả, tác phẩm, phân tích tác phẩm, tổng kết và củng cố
luyện tập. Theo tinh thần đổi mới phươ
ng pháp và thiết kế bài dạy thì khâu củng cố và luyện tập đã được đặt ra song khi tiến hành vẫn chưa được coi trọng. Phần
vì học sinh quá chú trọng vào phần phân tích, phần vì việc phân bố thời gian chưa
hợp lí nên thời gian cho khâu củng cố và luyện tập vẫn bị hạn chế. Mặc dù khâu
về hình tượng văn học vẫn tiếp tục lung linh phát triển và “nổ vỡ lặng im” trong tâm hồn các em. Chính trong phần củng cố luyện tập, nhiều học sinh đã có những
phát hiện khá lí thú, độc đáo và sáng tạo. Thiết nghĩ trong xu thế đổi mới phương
pháp dạy học văn, cần phải trả giờ văn chương lại cho bản chất giao tiếp nghệ
thuật, định hướng sư phạm cải tiến phải tạo nhiều thời gian cho học sinh tiếp xúc
với bài v
ăn trước, trong và sau khi học để “cuộc giao tiếp im lặng thực sự diễn ra
trong giao tiếp văn chương”.
Đa dạng các hình thức củng cố và luyện tập sáng tạo cho học sinh trong giờ
văn còn để kích thích những rung động tâm hồn, niềm hứng khởi sáng tạo và khát
khao mạnh mẽ của học sinh trước sức hấp dẫn kì diệu mà thế giới nghệ thuật gợi
nên.
Kết thúc phầ
n củng cố luyện tập nhưng suy nghĩ về tác phẩm không đóng lại
mà những vấn đề xung quanh tác phẩm còn mở ra để tạo được “dư âm”, “dư vị”
tiếp tục
Có những vấn đề, các em chỉ giải quyết được phần nào ở lớp hoặc giải quyết
xong cả nhưng những ám ảnh của nó thì không thể chấm dứt ngay trong suy nghĩ
của các em. Ví dụ như
câu hỏi: Ai có lỗi trong đau khổ của Ximông? (Bố của
Ximông – Guyđơ Môpaxăng). Hay: Hãy tưởng tượng và cho biết những tình cảm
của em với người bạn lâu ngày gặp lại sẽ như thế nào sau khi học bài thơ Bạn đến
chơi nhà của Nguyễn Đình Chiểu ?
Phát huy tính sáng tạo cho học sinh qua các hình thức củng cố và luyện tập
trong giờ dạy học văn là rất quan trọng cầ
n thiết nhưng giáo viên phải biết định
hướng sự tiếp nhận văn học của học sinh. Dù sáng tạo hay đến mấy, độc đáo đến
mấy vẫn phải tuân thủ tính giới hạn, dựa trên lôgíc và cấu trúc đặc trưng của hình
n cảm toàn bộ đoạn trích, tác phẩm hoặc đọc phân vai.
- Tái hiện lại một tình huống then chốt trong tác phẩm hoặc toàn bộ tác phẩm.
- Hình dung, dự đoán kết thúc tác phẩm.
- Đặt lại tên tác phẩm.
- Xây dựng lời đối thoại hay lời tâm sự với nhân vật (hoặc trao đổi với nhà văn).
- Tập so sánh, khái quát lập bảng biểu sơ đồ để khái quát kiến th
ức cho nội dung
bài học. III/ CÁCH THỨC THỰC HIỆN .
A> CỦNG CỐ BÀI HỌC THEO SƠ ĐỒ:
Trên thực tế dạy học cho thấy học sinh có nắm vững mở rộng và khái quát
được kiến thức hay không một phần lớn phụ thuộc vào bước củng cố của tiết học.
Nếu thầy coi nhẹ bước này, học sinh sẽ không thể nhớ lâu, rất khó vận dụng vào
việc làm các bài tập . Ngược lại th
ầy coi trọng, kiến thức sẽ đọng lại và ám ảnh
mãi trong các em, tạo nên mối liên hệ kích thích tìm tòi trong sự vận dụng làm
các bài tập ở phần luện tập được tốt hơn. Để củng cố bài học đạt được hiệu quả
cao chúng ta có thể vận dụng nhiều cách khác nhau như: Đặt câu hỏi mang tính
khái quát để học sinh tổng quát lại giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cũng như ý
ngh
ĩa của bài học… Song tôi thiết nghĩ có một biện pháp đạt hiệu quả cao hơn cả
đó là dùng bảng phụ có tính Tổng hợp – so sánh. Cái khó của biện pháp này là
thầy cần phải dành thời gian nghiên cứu kĩ lưỡng để mỗi bài học đưa ra được một
sơ đồ có tính Tổng hợp – so sánh, khái quát toàn bộ kiến thức của bài học. Và để
thực hiện được cách làm này thì giáo viên ơhair chuẩn bị trước vào b
ảng phụ hoặc
thiết kế vào máy (nếu có), chỉ đến bước củng cố mới đưa ra xử dụng. Để phat huy
tối đa tác dụng của bảng phụ này thầy có thể dùng kết hợp các biện pháp: hỏi –
Bi kịch gia đình : Hạnh phúc tan vỡ, con mất mẹ…
Bài học đắt giá, trả bằng cuộc đời, dằn vặt, đau đớn, hối hận đã
muộn với kẻ đa nghi, hồ đồ…
2. Văn bản Hoàng Lê nhất thống chí (ngữ Văn 9 – Tập 1).
HOÀNG LÊ NHÁT THỐNG CHÍ
- Lối văn trần thuạt, kết hợp miêu tả sinh động.
- Nghệ thuật so sánh đối lập độc đáo.
- Niềm tự hào dân tộc, chiến thắng lẫy lừng của chính nghĩa …
- Vẻ đẹp hào hùng của người anh hùng …
- Nhục nhã, thảm hại, đớn hèn của kẻ phi nghĩa phản bội
* Bại tướng Tôn Sĩ Nghị:
- Hồ đồ thiển cận…
- Lúng túng khi nghe cấp báo…
- Nông cạn, mù mờ trước tình hình…
- Chân dung khắc hoạ sắc nét…
- Tín hiệu nghệ thuật báo trước số phận.
4. Văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du (ngữ Văn 9 – Tập 1).
KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH
- Bức tranh phong phú, sinh động về miêu tả ngoại cảnh để biểu
đạt tâm cảnh… - Tả cảnh ngụ tình, sử dụng sáng tạo ngôn ngữ văn học: Đọc thoại,
điệp ngữ…
* Chân dung Thuý Kiều
- Đẹp sắc sảo, hoa ghen, liễu hờn,
tuyệt thế giai nhân…
- Tài hoa thông minh “đủ mùi ca
ngâm”…
- Dự báo từ thông điệp nghệ thuật:
Bi kịch hồng nhan, bạc mênh, chìm
nổi…
* Chân dung Thuý Vân
- Đẹp thuỳ mị, đoan trang, phúc hậu,
- Giầu cảm xúc, ngôn ngữ bình dị, dân dã… - Tô đậm nhân cách cao đẹp …
- Lên án cái ác…
- Quý trọng, tin yêu đối với nhân dân lao động…
Trên đây mới chỉ có năm bảng phụ có tính tổng hợp so sánh phục vụ cho củng
cố để khái quát kiến thức, rèn kĩ năng tổng hợp, nhớ lâu. Vì vậy vẫn không thể
tránh được những thiếu sót tôi mông các đồng chí cùng góp ý để tiết dạu đạt hiệu
quả cao.
B> CÁC HÌNH THỨC LUYỆN TẬP SÁNG TẠO
1- Đọc:
Đọc ở giai đoạn này không phải để xác định lớp nghĩa ban đầu, cũng không
phải để minh hoạ hay “cộng hưởng cảm xúc” cho công việc phân tích hay là căn
cứ để so sánh nữa; đó là công việc nhằm khẳng định một hiệu quả tiếp nhận văn
học, để tái hiện toàn bộ hệ thống hình tượng của tác phẩm, xác định giọng điệu
c
ủa nhà văn và khắc sâu kiến thức để vận dụng được phương pháp này ta có thể
sử dụng nhiều cách đọc cụ thể như sau:
* Hình ảnh Ngư Ông – Biểu tượng
cho cái thiện
- Chân tình gặp người bị nạn thì cứu
như một nhu cầu…
ủa Trần Quốc Tuấn, học
sinh phải đọc được đúng hơi văn, mạch văn biền ngẫu:
Ta thường tới bữa quên ăn, / nửa đêm vỗ gối; // ruột đau như cắt, / nước mắt
đầm đìa; // chỉ căm tức / chưa xả thịt / lột da, / nuốt gan / uống máu quân thù. //
Dẫu cho trăm thân này/ phơi ngoài nội cỏ, //nghìn xác này/ gói trong da ngựa, /
ta cũng vui lòng
Đối v
ới bài thơ Lượm: những câu tả hình ảnh Lượm ở đoạn đầu cần đọc với
giọng vui, nhịp điệu nhanh, nhấn mạnh vào các từ tạo hình và các từ láy tượng
hình (loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh). Những câu cảm thán và
câu hỏi tu từ, tác giả đã tách riêng ra thành những khổ thơ đặc biệt, nhịp thơ chậm
lại, gãy khúc: Ra thế/ Lượm ơi! , L
ượm ơi, /còn không? cần đọc lắng xuống, chậm
lại, ngừng giữa các dòng thơ.
- Cách 4: Đối với các tác phẩm văn xuôi, các tác phẩm truyện, cho học sinh
đọc diễn cảm thể hiện đúng giọng kể, trần thuật, đối thoại. Ví dụ: Đọc truyện Lão Hạc, phải thể hiện đúng giọng của đoạn diễn tả nội dung đối thoại, có đoạn lại
xen kẽ độc thoại nội tâm, có đoạn vừa tự sự, vừa trữ tình.
- Cách 5: Đối với một số bài thơ đã được phổ nhạc như: Khúc hát ru những em
bé lớn trên lưng mẹ, Viếng lăng Bác, Mùa xuân nho nhỏ, Đồng chí có th
ể cho
học sinh hát hoặc nghe băng để giờ học sinh động hơn.
2- Tái hiện một tình huống then chốt hay toàn bộ tác phẩm:
Việc làm này trong thao tác luyện tập có ý nghĩa nhấn mạnh một phương diện
bản chất nào đó hoặc toàn bộ hình tượng tác phẩm. Một chi tiết, một hình ảnh gây
xúc động sẽ có tác dụng nhân lên những tình cảm sâu sắc trong cá nhân người tiếp
nhận, đồng thời cũng là ti
ền đề cho những tư tưởng và hành động đúng, một yếu
Dựa trên kết thúc đã có hoặc kết thúc để ngỏ của nhà văn, học sinh bằng tưởng
tượng sáng tạo của mình, có thể
trình bày dự kiến một kiểu kết thúc khác hoặc giả
định viết tiếp mạch phát triển tác phẩm. Để thực hiện được điều này, học sinh
trước hết phải nắm vững kiến thức về tác phẩm, phương thức trình bày nghệ thuật
(thể loại, loại hình nhân vật, yếu tố thời đại, ngôn ngữ ). Nếu không nắm vững
các yếu tố đó, họ
c sinh không thể thực hiện được yêu cầu này- mà biểu hiện dễ
thấy là việc dự đoán sẽ vu vơ, thiếu căn cứ hoặc xa dời tác phẩm.
Ví dụ 1, Em hãy tưởng tượng và kể thêm cho đoạn kết của câu chuyện Lặng
lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long ?
Ví dụ 2, Em thử hình dung tâm trạng (hoặc biểu hiện qua nét mặt, lời nói )
của nhân vật Giôn xi khi nghe Xiu kể cho nghe sự
thật về nguyên nhân cái chết
của cụ hoạ sĩ Bơ men trong truyện Chiếc lá cuối cùng?
Ví dụ 3, Giả sử một ngày nào đó con trai lão Hạc trở về và đứng trước nấm mồ
lão Hạc, em thử hình dung và dự đoán: người con trai đó sẽ nghĩ gì và nói gì với
bố? (Lão Hạc – Nam Cao).
Bản chất của việc làm này là đặt học sinh trước những tình huống tự
bộc lộ
khả năng liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo. Nếu không thực hiện được kết quả
tiếp nhận văn học sẽ khó tránh khỏi những hạn chế. Để kiểm tra kết quả tưởng tượng của học sinh, giáo viên có thể đặt câu hỏi:
Tại sao lại hình dung hoặc dự đoán như vậy?
4- Đặt lại tên tác phẩm:
Việc đặt lại tên tác phẩm cũng là những tình huống giả định nhằm đặt học
sinh trước yêu cầu phải suy nghĩ, tìm tòi và lựa chọn khả năng hợp lí khác trên cơ
sở lôgíc phát triển hình tượng hay xu thế củ
n đã thể
hiện khá đầy đủ, tiêu biểu và rõ nét nội dung tư tưởng cũng như hình tượng nhân
vật trong tác phẩm. Qua việc cho học sinh đặt lại tên cho tác phẩm giúp các em
cảm nhận và thấy được cái hay, cái đặc sắc cách đặt tên cho nhan đề của tác giả
trong mỗi tác phẩm.
Song, việc đặt lại tên cho tác phẩm trong phần luyện tập của bài học cũng có
tác dụng nhất định. Nó thúc đẩy quá trình học tập theo h
ướng tích cực của học
sinh và rèn luyện tư duy sáng tạo cũng như năng lực cảm thụ, đánh giá tác phẩm
của các em.
5- Xây dựng lời trao đổi, đối thoại hay tâm sự với nhà văn hoặc nhân
vật trong tác phẩm.
Đây là một trong những giải pháp hữu hiệu có khả năng bộc lộ và thanh lọc
cảm xúc thẩm mĩ, kích thích hứng thú liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo của h
ọc
sinh.
Lí thuyết tiếp nhận văn học thừa nhận: tác phẩm văn học thường được trình
bày dưới dạng “kết cấu mở” hay “kết cấu vẫy gọi” để bạn đọc có thể “lấp đầy chỗ
trống”, mỗi tác phẩm có thể có một hay nhiều đề án tiếp nhận. Mỗi người đọc có
một hình dung riêng, cách lí giải riêng. Vì thế trong quá trình tìm hiểu giá trị tác
phẩm, có nhữ
ng điều học sinh thấy nhà văn lí giải chưa thoả đáng hoặc vẫn còn
có thể lí giải theo cách khác. Trong khâu luyện tập này, học sinh sẽ trình bày “đề
án” của mình thông qua lời đối thoại (giả tưởng) để tranh luận, trao đổi với nhà
văn về một vấn đề nào đó. Hoặc học sinh cũng có thể xây dựng lời tâm sự để chia sẻ với những điều tâm đắc cùng nhà văn (về khuynh hướng, kết cấu, ngôn ngữ
hoặc nhân vật nào đó).
Ví dụ:
lĩnh hội được trong giờ học. Một vài ấn tượng riêng lẻ hay biệt lập trong từng bài
học không thể giúp học sinh có khả năng đánh giá chính xác một hiện tượng hay
vấn đề văn học. Để hình thành và phát triển khả năng này, giáo viên yêu cầu học
sinh tập trung kết nối kiến thức thành hệ thống, rút ra nhận xét ho
ặc định tính,
định danh một vấn đề văn học.
Ví dụ 1: (Câu hỏi so sánh, khái quát).
- Sau khi học các tác phẩm Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội
Châu, Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh, Khi con tu hú của Tố Hữu, Ngắm
trăng của Hồ Chí Minh . Em hãy cho biết các tác phẩm náy có những điểm chung
nào ?
- Sau khi học các tác phẩm Làng của Kim Lân, Lặng lẽ SaPa của Nguyễn Thành
Long và Bến quê của Nguyễn Minh Châu, em hãy so sánh để rút ra nhận xét về
những tìm tòi sáng tạo có tính đặc sắc riêng của mỗi tác phẩm trong việc xây
dựng tình huống truyện và thể hiện hình ảnh con người mới.
Ví dụ 2: ( Câu hỏi phát hiện, so sánh).
- Sau khi học đoạn trích Tức nước vỡ bờ (Trích Tắt đèn của Ngô Tất Tố) và xem
phim Chị Dậu, em hãy so sánh và rút ra nhận xét về hiệu quả c
ủa cách thể hiện
hình
ảnh người nông dân qua hai loại hình nghệ thuật này?
Ví dụ 3: (Câu hỏi so sánh, nhận xét về tình huống của truyện)
Với câu hỏi này, điều quan trọng là giáo viên giúp học sinh chỉ rõ được tình
huống cơ bản của các truyện ngắn đã được học – một việc làm quan trọng khi học
tác phẩm truyện.
+ Tình huống cơ bản của truyện Làng: sự căng thẳng th
ử thách ở nội tâm
nhân vật, từ đó bộc lộ đời sống bên trong, tình cảm và tư tưởng của nhân vật.
xã hội (Ví dụ: Suy nghĩ của em thân phận người phụ
nữ trong xã hội phong kiến qua các nhân vật Thuý Kiều, Vũ Nương, Kiều Nguyệt Nga trong các tác phẩm
Truyện Kiều của Nguyễn Du Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ,
Với trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu.
Cũng cần lưu ý, khi muốn so sánh, khái quát, giáo viên cần đặt tác phẩm, nhân
vật vào những mối liên hệ hợp lí để có sự so sánh đúng giúp phát triển tư duy
sáng tạo cho học sinh; tránh những so sánh không ăn khớp, khập khiễng.
PHẦN III : CÁC KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM
1. Đánh giá kết quả đạt được:
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy, tôi đã từng áp d
ụng các hình thức luyện tập
sáng tạo cho học sinh các khối lớp (từ lớp 6 đến lớp 9) với nhiều đối tượng học
sinh, có thể rút ra một số kết luận như sau.
Thông qua các hình thức luyện tập sáng tạo, học sinh thể hiện được khả năng
nhạy bén khi tri giác ngôn ngữ, khả năng tái hiện hình tượng một cách đa dạng,
sâu sắc. Học sinh thể hiện được vố
n sống, vốn hiểu biết nhất định về tác phẩm
thông qua những tưởng tượng sáng tạo trong việc bồi đắp cho nét tưởng tượng
của mình thêm phong phú. Nhiều em đã biết bám sát văn bản – tác phẩm văn học
để lấy đó làm căn cứ “xuất phát điểm” và kiểm chứng cho những tưởng tượng
sáng tạo; xu hướng liên tưởng của học sinh khá đa dạng.
Qua khảo sát, phần l
ớn học sinh thực hiện được yêu cầu của giáo viên đưa ra.
Với các hình thức như đọc diễn cảm, hình dung dự đoán kết thúc tác phẩm, đặt lại
và hình thành biểu tượng nghệ thuật.
+ Giáo viên chuẩn bị chu đáo các hình thức luyện tập trước khi lên lớp,
hướng dẫn học sinh nghiên cứu, chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
+ Mỗi năm học phải tìm cho mình nhiều biện pháp mới, thường xuyên tự
học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ hiểu biết và tiếp cận tri thứ
c mới để vận
dụng trong dạy học đạt kết quả cao.
+ Phải là người linh hoạt, tế nhị và có óc sáng tạo.
+ Biết cách tổ chức tốt các hoạt động, gợi ý, hướng dẫn học sinh chuẩn bị
lời bình trước khi đến lớp. + Sau mỗi bài giảng giáo viên nên dành khoảng thời gian 2-3 phút cuối giờ
để củng cố và dặn dò học sinh chuẩn bị bài cho tốt đặc biệt là việc chuẩn bị cho
những nội dung liên quan đến điểm bình trong văn bản nghệ thuật.
Trên đây là một sáng kiến nhỏ của riêng cá nhân tôi. Tôi mạnh dạn đưa ra để
các bạn đồng nghiệp cùng xây dựng và góp ý. Tôi hy vọng rằng trong quá trình
giảng dạy, chúng ta sẽ tiếp tục nghiên c
ứu, lựa chọn nội dung , phương pháp sao
cho phù hợp với đối tượng học sinh của mình hơn để góp phần vào việc đổi mới
phương pháp dạy học. Tôi rất mong được sự góp ý cấp trên và các bạn đồng
nghiệp để có thể hoàn chỉnh được kinh nghiệm khi dạy phần củng cố và luyện tập
cho học sinh trong phần tìm hiểu văn bản được tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn ! Hoà lộc, ngày 05 tháng 4 năm 2008
NGƯỜI VIẾT