Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1. Lí do chọn đề tài:
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của để tài:
I.3. Đối tượng nghiên cứu:
I.4. Giới hạn, phạm vi áp dụng của đề tài:
I.5. Phương pháp nghiên cứu:
II. PHẦN NỘI DUNG:
II.1. Cơ sở lý luận:
II.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
II.3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp.
d. Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu.
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của
vấn đề nghiên cứu.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
III.1. Kết luận
III.2. Kiến nghị:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 1
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1. Lí do chọn đề tài:
M. Gorki đã nói: “ Học văn là học để làm người”, chừng ấy đủ
để cho ta thấy vai trò to lớn của môn Văn trong việc giáo dục và
tạo lập một văn bản chuẩn mực. Sở dĩ có tình trạng trên là vì các
em không chịu tiếp xúc tác phẩm, không chuẩn bị bài, có chăng
chỉ đối phó cho qua chuyện. Sau khi học xong các em về nhà
cũng không học lại bài cũ chủ yếu đi chơi hoặc tham gia lao động
giúp gia đình. Về phía phụ huynh cũng không quan tâm phó mặc
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 2
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
cho nhà trường và giáo viên. Vì thế chất lượng học tập của các em
về môn Ngữ văn nói riêng và các môn học khác nói chung còn rất
thấp.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn đưa ra một vài
kinh nghiệm nhỏ trong quá trình dạy học của mình, để bạn bè
đồng nghiệp cùng trao đổi nhằm nâng cao chất lượng dạy học
môn Ngữ văn tại những trường mà đa số học sinh là người đồng
bào dân tộc như Trường THCS Đinh Tiên Hoàng, huyện CưM'gar
của chúng ta. Đây có thể chưa phải là “ sáng kiến” nhưng là những
kinh nghiệm - điều tôi tâm đắc và đúc rút trong quá trình dạy học
của mình. Tôi kính mong quý cấp lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp
cùng chia sẻ và góp ý giúp tôi hoàn thiện hơn nữa trong công tác
giảng dạy của bản thân.
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Qua đề tài nghiên cứu này có thể giúp người giáo viên có
những định hướng, dẫn dắt học sinh cảm thụ, bình giá được nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm, có hệ thống gợi mở, phát huy
tích tích cực, chủ động, sáng tạo và say mê chiếm lĩnh tri thức
trong mỗi tiết học Ngữ văn.
Dạy Ngữ văn là một công việc hết sức khó khăn, vất vả. Nó đòi
hỏi cả người dạy và người học phải kiên trì, nhẫn nại và có lòng
đam mê. Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra các giải pháp và
thành, phát triển và hòa thiện nhân cách cho học sinh. Từ việc
khám phá ý nghĩa của các tác phẩm học sinh có thể tự ý thức về
mình, sống có nhân cách, trong sạch và cao thượng. Bộ môn Ngữ
văn bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước, lòng tự
hào dân tộc, yêu lao động và những đức tính tốt đẹp cần có ở con
người thời đại mới.
Đối với các em học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số thì
việc nói và viết tiếng Việt đã là một việc khó khăn còn để khám
phá vẻ đẹp lấp lánh của các áng văn chương cũng như để tạo
được một văn bản hoàn chỉnh truyền tải được một nội dung cụ thể
thì thật quả là một vấn đề không nhỏ. Môn Ngữ văn sẽ giúp các
em có vốn từ phong phú, đồng thời rèn các kĩ năng nghe, nói, đọc,
viết; rèn luyện năng lực ngôn ngữ và tư duy như một công cụ để
học tập các môn học khác. Từ đó các em có thể tự tin trong mọi
hoàn cảnh giao tiếp của cuộc sống.
II.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
Hai lớp 9 do tôi trực tiếp giảng dạy gồm 77 em thuộc các xã
CuôrĐăng, Adrơng – vùng đồng bào dân tộc Êđê chiếm đa số
(80%). Đời sống kinh tế hết sức khó khăn, gia đình ít quan tâm
nên ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em. Rất ít học sinh
có ý thức tự giác, say mê khám phá khoa học. Đặc biệt là những
môn thuộc khoa học xã hội, vì theo các em nó dài, vừa khó học lại
khó nhớ mà bản thân các em là người đồng bào nên tính kiên trì
nhẫn nại gần như không có. Đặc biệt môn học mang tính tư duy
trừu tượng như môn Ngữ văn thì đối với các em lại càng khó khăn.
Các em cho rằng môn học này là môn học khó hiểu, khó nhớ lại
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 4
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
đòi hỏi phải liên tưởng tưởng tượng. Các em thấy khá phức tạp nên
động của người học
Đặc biệt giúp các có niềm say mê, yêu thích bộ môn.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện
pháp:
b.1. Hướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà:
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 5
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy đa số các em học sinh là
người đồng bào thiếu số có tính ì, không chịu tham gia phát biểu ý
kiến xây dựng bài. Sở dĩ có hiện tượng này là các em không chịu
soạn bài, hoặc có soạn cũng sơ sài đối phó, cho qua chuyện. Đến
lớp nghe cô giảng bài cũng như lần đầu tiên đọc tới bài học, tất cả
đều mới mẻ xa lạ. Như vậy làm sao có thể phát huy tính chủ động,
tích cực, nâng cao chất lượng bộ môn. Để phần nào khắc phục tình
trạng này tôi coi trọng việc hướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà.
Đối với phần văn bản, trước hết xác định cho các em thấy rõ
việc tiếp xúc với văn bản là hết sức cần thiết và quan trọng. Vì đọc
là hành động đánh thức tác phẩm với đầy đủ ý nghĩa của nó. Đọc
văn là bước khởi động để đi vào thế giới tác phẩm. Đọc để hiểu để
cảm thụ tác phẩm. Cần phải đọc chậm, vừa đọc vừa ngẫm nghĩ.
Không chỉ đọc văn bản mà còn đọc cả tiểu sử của tác giả, tác
phẩm. Giáo viên cần thường xuyên nhấn mạnh cho học sinh thấy
tác dụng to lớn của việc làm này để giúp các em bước đầu tự do
cảm thụ văn bản. Từ việc cảm thụ sẽ dẫn dắt các em đến việc
hiểu ý nghĩa của bài văn. Khi ít nhiều có sự hiểu biết về bài văn
rồi, các em chuyển sang giai đoạn thứ hai là suy nghĩ các câu hỏi
trong phần đọc hiểu văn bản ở SGK. Sau đó trả lời các câu hỏi ấy
theo cách hiểu của bản thân.
Đối với phần Tiếng Việt và Tập làm văn cũng vậy, nếu khâu
- Trong tác phẩm, em có ấn tượng nhất với chi tiết (sự việc)
nào?
- Tác phẩm gợi cho em những suy nghĩ gì?
VD: khi dạy hướng dẫn học sinh chuẩn bị soạn các bài: “ Mùa
xuân nho nhỏ, Viếng lăng Bác” ngoài các câu hỏi trong SGK giáo
viên có thể gợi ý thêm các câu hỏi khác như: Thanh Hải sáng tác
bài thơ Mùa xuân nho nhỏ trong hoàn cảnh nào? Hoàn cảnh ấy có
tác dụng gì khi thể hiện chủ đề, tư tưởng của bài thơ?
Tác giả Viễn Phương sáng tác bài thơ Viếng lăng Bác vào thời
gian nào? Hoàn cảnh ra sao? Hoàn cảnh ấy tác động đến cảm xúc
của tác giả như thế nào?
Còn đối với phần Tập làm văn và phần Tiếng Việt nếu giáo viên
không hướng dẫn các em soạn bài trước thì với 45 phút không đủ
để các em nắm được kiến thức và vận dụng nó vào thực hành. Vì
vậy với bất kì tiết học nào cũng cần hướng dẫn cho học sinh xem
trước và soạn bài ở nhà. Đồng thời chúng ta cần kiểm tra việc
chuẩn bị của các em qua khâu kiểm tra bài cũ.
b.2. Cách thức ổn định tổ chức và kiểm tra bài cũ:
Khi bắt đầu tiết học giáo viên thường hỏi: “ Lớp hôm nay vắng
mấy, lớp trưởng? Đó là những bạn nào?” Theo tôi thay vì hỏi như
vậy người giáo viên khi đã nhận lớp một vài tuần hãy cố gắng nhớ
tên từng học sinh, kết hợp với sơ đồ chỗ ngồi có thể kiểm tra sĩ số
bằng việc quan sát lớp nêu tên học sinh vắng và tìm hiểu nguyên
nhân về sự vắng mặt của các em rồi ghi lại vào sổ theo dõi của
mình để tiết học sau có thể nhắc nhở các em đi học chuyên cần
hơn. Đối với học sinh là người đồng bào dân tộc thì việc các em
vắng học, bỏ tiết là chuyện rất thường tình. Các em học yếu,
không thích những nội quy gò bó nên thường trốn học. Nếu giáo
viên mà la mắng, bắt phạt thì các em bỏ học luôn. Với đặc thù
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
Tôi lầy ví dụ khi kiểm tra bài cũ tiết 16, 17 bài Chuyện người
con gái Nam Xương ( Trích Truyện kì mạn lục – Nguyễn Dữ).
Tôi đưa ra phiếu trắc nghiệm như sau để các em có thể hệ thống
lại kiến thức cũ một cách nhanh nhất và dễ nhớ, các em dễ dàng
làm được, dễ đạt điểm cao tạo tâm thế vui vẻ, ham học và tích cực
ở các em.
Đây chỉ là những câu hỏi gợi ý, còn tùy vào thời gian để giáo
viên lựa chọn bao nhiêu câu, nội dung nào cho phù hợp. Điều đó
cần sự vận dụng linh hoạt của mỗi giáo viên.
PHIẾU TRẮC NGHIỆM KIỂM TRA BÀI CŨ
Chuyện người con gái Nam Xương
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 8
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
( Trích Truyện kì mạn lục – Nguyễn Dữ)
1. Em hiểu thế nào về tên tác phẩm "Truyền kì mạn
lục" của Nguyễn Dữ ?
A. Những câu chuyện hoang đường.
B. Ghi chép lại những câu chuyện kì lạ.
C. Ghi chép lại những câu chuyện kì lạ được lưu
truyền.
D. Ghi chép tản mạn những chuyện kì lạ được lưu
truyền (trong dân gian).
2. "Truyền kì mạn lục" được viết bằng:
A. Chữ Hán.
B. Chữ Nôm.
C. Chữ Quốc ngữ.
3. Ý kiến nào là xác đáng, trong 4 ý kiến cho rằng
"Truyền kì mạn lục" là tập truyện có đặc điểm:
A. Văn xuôi cổ viết bằng chữ Hán.
D. Phan Lang và Linh Phi.
6. Phần 2 của "Chuyện người con gái Nam Xương" có ý
nghĩa gì về nội dung và nghệ thuật ?
A. Câu chuyện có hậu , cái kết có hậu.
B. Làm nổi bật chất thần kì của câu chuyện.
C. Khắc hoạ, tô đậm, hoàn chỉnh vẻ đẹp nhân cách
của Vũ Nương.
D. Thể hiện tính bi kịch và giá trị nhân đạo của tác
phẩm.
E. Tất cả A, B, C, D đều đúng.
7. Trong các câu văn sau, câu nào nói lên được vẻ đẹp
tâm hồn, vẻ đẹp nhan sắc của Vũ Nương - mẫu người phụ
nữ lí tưởng ngày xưa ?
A. Chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ
đem trăm lạng vàng cưới về.
B. Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính
đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.
C. Có lẽ không thể giữ hình ẩn bóng ở đây, để mang
tiếng xấu xa. Vả chăng, ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việt
đậu cành nam. Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày.
D. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm
phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén
gót.
8. Câu này nói lên ước mong gì của Vũ Nương khi tiễn
chồng lên đường ra trận ?
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 10
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
"Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn
phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang
đặc sắc gì của Nguyễn Dữ ?
- ngõ liễu tường hoa
- bình rơi trâm gãy
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 11
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
- sen rủ trong ao, liễu tàn trước gió
- khóc tuyết bông hoa rụng cuống
- kêu xuân cái én lìa đàn.
A. Hình ảnh so sánh, ẩn dụ.
B. Hình ảnh tượng trưng.
C. Điển tích.
D. Thi liệu, văn liệu (cổ điển).
12. Ý kiến nào chính xác nhất nói lên giá trị nội dung
tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm "Chuyện
người con gái Nam Xương" ?
A. Giàu giá trị nhân đạo
B. Cốt truyện li kì, hấp dẫn, chặt chẽ.
C. Kết hợp hài hoà yếu tố tự sự và trữ tình.
D. Khắc hoạ tâm lí nhân vật sâu sắc làm nổi bật bi
kịch điển hình về người phụ nữ thời loạn lạc.
E. Tất cả A, B, C, D đều đúng.
Đáp án
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Trả lời D A D C B E B C C A D E
Ta cũng có thể sử dụng câu hỏi tự luận nhưng nên sử dụng
những câu có vấn đề để học sinh suy nghĩ liên hệ, xâu chuỗi dựa
trên những hiểu biết, cảm nhận của mình để trả lời theo cách hiểu
của các em. Các câu hỏi như:
Qua bài thơ “ Con cò” em cảm nhận những điều cao đẹp nào
hình thức “quảng cáo, tiếp thị”. Nếu làm tốt sẽ tạo được hứng thú,
gợi trí tò mò và gợi cảm xúc cho học sinh. Các em sẽ khát khao
háo hức giờ học đề tìm đến với những điều kì diệu, bí ẩn, cái hay
cái hưu ích.
VD: Khi dạy bài “Mùa xuân nho nhỏ” hay bài “ Viếng lăng Bác”
chúng ta nên cho các em nghe bài hát đã được phổ nhạc từ hai bài
thơ này. Từ cảm xúc dạt dào đó ta có thể dẫn dắt vào bài bằng
cách giới thiệu hoàn cảnh sáng tác bài thơ Hoặc khi dạy bài “
Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” ta có thể treo hai bức tranh
chụp lại hai thành phố của Nhật Bản là Hi-rô-xi-ma và Na-ga-xa-ki
bị Mĩ ném hai quả bom nguyên tử cho học sinh quan sát:
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 13
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
Hirosima – 1945: 140.000 người chết
Đám mây hình nấm do quả bom nguyên tử Fat Man ném
xuống Nagasaki, Nhật Bản cao đến 18 km – Hơn 70.000
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 14
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
người chết
Và đặt các câu hỏi:
Em có biết hai bức tranh này không?
Nhờ đâu mà em biết? (có thể qua tivi, đài, báo )
Nó gợi cho em những suy nghĩ gì?
Từ đó ta có thể giới thiệu: đầu tháng 8 năm 1945 Mĩ đã ném
hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố của Nhật Bản là Hi-
rô-xi-ma và Na-ga-xa-ki làm hơn hai triệu người dân Nhật Bản thiệt
mạng và còn di họa đến bây giờ. Thế kỉ XX, thế giới phát minh ra
nguyên tử hạt nhân đồng thời cũng phát minh ra vũ khí hủy diệt,
Đối với trường tôi đối tượng học sinh phần đa là người đồng
bào thiếu số tôi thấy các em đều đọc chưa thông còn sai dấu và
lủng củng vì vậy các em ngại đứng đọc trước lớp. Đọc lí nhí, không
tự tin. Em bàn trên đọc thì em bàn dưới không nghe thấy, em cuối
lớp đọc thì bản thân tôi không nghe được gì. Khi các em đọc những
chỗ sai dấu, sai chữ thì một vài em người kinh ở trong lớp lại cười ồ
lên. Và vì đọc sai nên các em học sinh người đồng bào rất hay viết
sai. Qua việc chấm bài của các em tôi thấy 100% học sinh viết sai
lỗi chính tả. Như vậy làm sao có thế cảm thụ được văn bản, giờ
học làm sao có hiệu quả.
Tôi tìm hiểu nguyên nhân thực chất của hiện tượng này và để
tìm ra một vài giải pháp để từng bước khắc phục nó. Do các em là
người đồng bào thiếu số vốn phát âm chưa chuẩn lại đọc chậm
nên giáo viên ngại gọi các em đọc trước lớp vì sợ mất thời gian sợ
ảnh hưởng đến tiết học. Để khắc phục tình trạng trên tôi phải
thường xuyên gọi các em đứng dậy đọc trước lớp. Ban đầu tôi cho
các em đọc đoạn ngắn, đọc chậm, to để uốn nắn, sửa chữa chỗ
đọc sai, hướng dẫn các em đọc lại cho đúng. Các em đọc nhỏ là do
chưa mạnh dạn. Đối với những học sinh này tôi khuyến khích các
em tính mạnh dạn, tự tin trước lớp bằng cách cộng điểm cho các
em những lần các em xung phong đọc bài và đọc trôi chảy để từ
đó nhắc các em đọc to, rõ ràng và mạnh dạn hơn. Bên cạnh đó tôi
cũng hướng dẫn các em đọc thầm, cách đọc này làm tăng số
lượng người đọc trong một giờ gọc. Ví dụ tôi gọi một em đọc thì
yêu cầu các em còn lại phải đọc bằng mắt, không thành tiếng chú
ý đọc kịp với bạn đọc to, để khi tôi gọi bất kì em nào cũng có thế
đọc tiếp đựơc. Việc này nghe có vẻ rất cũ và nhỏ nhặt nhưng đối
với cá nhân tôi thì lúc nào cũng chú trọng thực hiện và không bao
giờ quên nhắc các em vì đối tượng học sinh của tôi là những đứa
trẻ rất e ngại việc học tập và rèn luyện. Các em thường ít chú ý,
9 tập 2 trang 76, 77. Đây là một văn bản hay, giàu cảm xúc, hình
ảnh. Nếu đọc tốt các em đã cảm nhận được vẻ đẹp lấp lánh của
một bài nghị luận văn hoc. Và từ đó kích thích sự tò mò khám phá
ở các em và chúng ta dễ dàng dẫn dắt học trò đi vào tìm hiểu các
đơn vị kiến thức khác như: Khái niệm nghị luận về một đoạn thơ,
bài thơ; yêu cầu về nội dung và hình thức của bài nghị luận về một
đoạn thơ, bài thơ
Học sinh là thế - đặc biệt là học sinh người đồng bào, việc gì
các em thích thú các em mới tự giác và tích cực. Do vậy nhờ giọng
đọc chuẩn mực, diễn cảm và sự nhiệt tình hướng dẫn các em đọc
tốt chắc chắn giờ học Ngữ văn sẽ trở nên hấp dẫn thú vị, lôi cuốn
học sinh. Bên cạnh đó muốn giờ học thật sự có chất lượng đòi hỏi
người giáo viên cần chuẩn bị được hệ thống câu hỏi phát triển tư
duy cho các em.
b.5. Đưa hệ thống câu hỏi để phát triển tư duy cho học
sinh:
Tư duy có tư duy bậc thấp và tư duy bậc cao.
Tư duy bậc thấp gồm biết và hiểu:
- Biết: Là khả năng nhận biết và nhớ lại thông tin.
- Hiểu: Là khả năng hiểu được ý nghiã của các khái niệm, hiện
tượng…
Tư duy bậc cao: Gồm
- Vận dụng : Sử dụng khái niệm trong các tình huống mới.
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 17
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
- Phân tích: Chia nhỏ thông tin thành các phần có liên quan với
nhau
- Tổng hợp: sắp xếp thông tin để tạo ra một tổng thể mới.
- Đánh giá: Định giá trị dựa trên các tiêu chí.
hiệu quả, giúp học sinh tích cực tham gia vào hoạt động học tập
sôi nổi có hứng thú. Các bước chuẩn bị cũng rất quan trọng nhưng
tiết học có thành công, hiệu quả hay không phụ thuộc chủ yếu vào
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 18
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
hệ thống câu hỏi mà giáo viên đặt ra để học sinh tìm tòi khám phá
tri thức.
Ví dụ khi dạy truyện ngắn “ Làng” của Kim Lân để học sinh
cảm nhận được tình yêu làng quê thống nhất với tình yêu nước ở
nhân vật ông Hai thì giáo viên cần có hệ thống từ thấp đến cao, từ
cụ thể đến khái quát, vừa có thêm câu hỏi gợi mở:
Thuật lại diễn biến tâm trạng và hành động của ông Hai từ lúc
nghe tin làng mình theo giạc cho đến khi kết thúc truyện?
Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc thì thái độ, tâm trạng của
ông Hai như thế nào? ( Câu hỏi tái hiện)
Tại sao ông Hai lại có tâm trạng như vậy? (Câu hỏi có tính
chất suy luận)
Vì sao ông Hai lại trò chuyện với đứa con út? Qua những lời trò
chuyện ấy em cảm nhận được gì ở tấm lòng ông vi làng quê đất
nước, với cuộc kháng chiến? (câu hỏi, bài tập phân tích đánh giá,
khái quát các vấn đề)
Tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở ông Hai có quan hệ như
thế nào?
Em có nhận xét gì về nghệ thuật xây dựng nhân vật, bút pháp
viết truyện ngắn của nhà văn Kim Lân? ( Câu hỏi sáng tạo)
Em học được gì qua nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật ông
Hai của nhà văn. (câu hỏi vận dụng)
Đến phần luyện tập có thể đưa thêm câu hỏi sáng tạo: Nêu
những nét riêng của tình cảm đối với quê hương trong truyện ngắn
Phần I. Tìm hiểu chung:
1 Em hiểu như thế nào
về nhan đề: Viếng lăng
Bác
Nhan đề ngắn gọn, dùng
động từ viếng mang sắc
thái trân trọng, thành
kính, trang nghiêm mà
xúc động.
Tích hợp
Tiếng
Việt
2 Phương thức biểu đạt
của văn bản này là gì?
Tác dụng nghệ thuật
của phương thức ấy?
Kết hợp miêu tả với biểu
cảm.
Biểu cảm là phương thức
chính
-> Giúp nhân vật trữ tình
tự bộc lộ cảm xúc.
Tích hợp
TLV
3 Giữa nhà thơ và nhân
vật trữ tình có mối
quan hệ như thế nào?
Dựa vào đâu mà em
biết
Nhân vật trữ tình là tác
Ý nghĩa của từ “Ôi”
trong lời thơ này?
Bộc lộ trực tiếp cảm xúc
thương mến, tự hào đối
với đất nước, dân tộc
Tích hợp
Tiếng
Việt
7 Em có nhận xét gì về
giọng điệu của khổ thơ
này? Tác dụng của nó?
Giọng điệu thành kính,
trang trọng thể hiện
được cảm xúc dồn nén
chất chứa.
Tích hợp
TLV
8 Khổ thơ thứ hai tác giả
sử dụng biện pháp
nghệ thuật gì? Ý
nghĩa?
Ẩn dụ
Ý nghĩa: Ca ngợi sự
trường tồn, vĩnh hằng
của hình ảnh Bác. Con
người Bác với những biểu
hiện sáng chói về tư
tưởng yêu nước và lòng
nhân ái mênh mông có
sức tỏa sáng mãi mãi.
“trời xanh là mãi mãi”
-> Công đức của Bác đối
với mọi người là cao đẹp,
vĩnh hằng.
Tích hợp
Tiếng
Việt
11
Từ nào trong câu “ Mà
sao nghe nhói ở trong
tim” có sức biểu cảm
trực tiếp? Tác dụng của
nó?
Động từ “nhói”
-> đau đột ngột, quặn
thắt.
Tác giả cảm thấy đau
đớn, mất mát về sự ra đi
của Bác
Tích hợp
Tiếng
Việt
12 Giọng điệu của đoạn
thơ này là gì? Nó thể
hiện nỗi niềm nào của
tác giả
Giọng điệu trầm lắng,
nghẹn ngào thể hiện
niềm tiếc thương vô hạn,
sự xót xa đau đớn
tượng trưng
Tích hợp
TLV
15 Ngoài bài thơ này em
còn biết tác phẩm nào
viết về Bác Hồ nữa
không?
“ Đêm nay Bác không
ngủ”
“ Phong cách Hồ Chí
Tích hợp
ngang,
dọc
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 22
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
Em đã học được gì ở
Bác qua các văn bản
viết về Người?
Minh”
“Đức tính giản dị của Bác
Hồ”
->Sống giản dị, cống
hiến, hi sinh và có lí
tưởng cao đẹp…
Tích hợp
giáo dục
kĩ năng
sống,
giáo dục
Bác Hồ thǎm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958)
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 24
Một số kinh nghiệm dạy Ngữ văn cho học sinh là người đồng bào thiểu số
Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân (1957)
Bụi tre bên Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Người viết: Đinh Thị Hiền – Trường THCS Đinh Tiên Hoàng -
CưM'gar 25