ngiên cứu ảnh hưởng của nhịp cho ăn lên tăng trưởng bù cá lăng nha từ 25 đến 85 ngày tuổi - Pdf 24

z

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA NHỊP CHO ĂN LÊN TĂNG TRƯỞNG BÙ
CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides)
GIAI ĐOẠN TỪ 25 ĐẾN 85 NGÀY TUỔI
Sinh viên thực hiện
Lâm Thị Cẩm Tiên
MSSV: 1053040021
Lớp: NTTS K5
Cần thơ, 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA NHỊP CHO ĂN LÊN TĂNG TRƯỞNG BÙ
CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides)
GIAI ĐOẠN 25 ĐẾN 85 NGÀY TUỔI
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Ths Nguyễn Hữu Lộc Lâm Thị Cẩm Tiên
MSSV: 1053040021
Lớp: NTTS K5
Cần Thơ, 2014
i

phường Lê Bình, quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ và được tiến hành trong thời
gian 60 ngày. Cá Lăng nha sau 25 ngày tuổi có khối lượng và chiều dài trung bình
lần lượt là 0,133 – 0,149 g/con và 2,30 – 2,50 cm/con. Thí nghiệm gồm 4 nghiệm
thức và được lặp lại 3 lần: NT đối chứng, NT1: 1 (-1), NT2: 2 (-1), NT3: 2 (-2). Mật
độ 30 con/bể và ở tất cả các nghiệm thức những ngày được cho ăn, cho cá ăn theo
nhu cầu (cho ăn 3 lần/ngày), thức ăn được sử dụng là thức ăn công nghiệp dạng viên.
Sau 60 ngày thí nghiệm, các yếu tố môi trường: nhiệt độ dao động 28,0 ± 0,52
0
C –
30,0 ± 0,79
0
C và pH dao động 7,9 ± 0,20 đến 8,1 ± 0,16 đều tương đối thích hợp
cho sự phát triển của cá. Về sự tăng trưởng khối lượng và chiều dài, cá ở NT đối
chứng cao nhất (1,81± 0,28 g/con và 5,79 ± 0,32 g/con) nhưng lại không khác biệt
với NT2 (1,76 ± 0,14 g/con và 5,74 ± 0,19 g/con. Bên cạnh đó, hệ số thức ăn của cá
ở NT2 nhỏ nhất (0,64 ± 0,01) đồng thời có hiệu thời hiệu quả sử dụng thức ăn (1,56
± 0,03) cao nhất nhưng khác biệt không có ý nghĩa với nghiệm thức NT đối chứng
(1,49 ± 0,07). Như vậy, nhịp cho ăn 2 ngày và bỏ đói 2 ngày không ảnh hưởng đáng
kể đến sự tăng trưởng của cá.Tỷ lệ sống đạt cao 85,6 – 100%.
Từ khóa: cá Lăng nha, tăng trưởng bù.
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
LỜI CAM KẾT ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

4.2.2 Tăng trưởng chiều dài của cá 21
4.3 Tỷ lệ sống 25
4.4 Hệ số thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng thức ăn (FCE) 27
4.5 Chi phí thức ăn cho 1kg cá tăng trọng 28
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 29
5.1 Kết luận 29
5.2 Đề xuất 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
PHỤ LỤC A A
PHỤ LỤC B K
PHỤ LỤC C P
vi
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Hình thái cá Lăng nha 2
Hình 3.1 Bộ dụng cụ kiểm tra điều kiện môi trường 10
Hình 3.2 Cá Lăng nha thí nghiệm 11
Hình 3.2 Thức ăn thí nghiệm 12
Hình 3.3 Hệ thống bể thí nghiệm 13
Hình 4.1 Tăng trưởng khối lượng của cá Lăng nha trong suốt thời gian thí nghiệm
19
Hình 4.2 Tăng trưởng chiều dài của cá Lăng nha trong suốt thời gian thí nghiệm 22
Hình 4.3 Tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức 26
vii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1 Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm (theo nhà sản xuất) 11
Bảng 4.1 Biến động của nhiệt độ và pH trong quá trình thí nghiệm 16
Bảng 4.2 Tăng trưởng khối lượng trung bình của cá Lăng nha 18
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối của cá Lăng nha ở các nghiệm
thức 20
Bảng 4.4 Tăng trưởng chiều trung bình của cá Lăng nha 21

Theo Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn (2009), trong nuôi trồng thủy sản
muốn nuôi thành công một đối tượng cá nào đó người nuôi cần phải hiểu rõ tầm
quan trọng của nhịp cho ăn cũng như khẩu phần ăn trên đối tượng nuôi đó để mang
lại lợi nhuận cao, tránh dùng dư thừa thức ăn làm ô nhiễm môi trường gây bệnh cho
cá.
Khi các điều kiện sống phù hợp, cá có khả năng tăng trưởng bù. Đó là sự tăng
trưởng rất nhanh của cá khi bị bỏ đói trong khoảng thời gian hợp lý và được cho ăn
trở lại. Hiện tượng này được ghi nhận trên nhiều loài cá như: cá Tra, cá Chép, cá
Hồi,… Có nhiều yếu tố gây nên hiện tượng tăng trưởng bù ở cá như: chất lượng
nước, khẩu phần protein và năng lượng trong suốt thời gian cho ăn bù (Abdel et al.,
2009). Để giảm chi phí cho người nuôi, một trong những xu hướng hiện nay là lợi
dụng khả năng nhịn đói với thời gian hợp lý mà tăng trưởng của cá bị ảnh hưởng
không đáng kể. Do vậy, đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của nhịp cho ăn lên tăng
trưởng bù cá Lăng nha (Mystus wyckioides)” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra nhịp cho ăn phù hợp để giảm chi phí sản xuất và hạn chế được thức ăn dư
thừa trong ương nuôi cá Lăng nha.
1.3 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát tăng trưởng của cá Lăng nha khi cho ăn ở các nhịp cho ăn khác nhau.
Khảo sát sự ảnh hưởng của nhịp cho ăn khác nhau đến tỷ lệ sống của cá Lăng nha.
2
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá lăng nha
2.1.1 Phân loại
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá Lăng nha thuộc:
Ngành: Chordata (Ngành có dây sống)
Lớp: Osteichthyes (Lớp cá xương)
Bộ: Siluriformes (Bộ cá Nheo)
Họ: Bagridae (Họ cá Lăng)

đầu các vây khác đỏ nhạt hơn. Cá càng to màu đỏ của các vây nhất là vây đuôi càng
đậm. Màu sắc của đuôi là một trong những đặc điểm quan trọng để phân biệt loài cá
này với các loài cá Lăng khác (Bùi Thanh Loan, 2009).
2.1.3 Tập tính sống
Cá Lăng nha là loài ưa tối, cá sống thành từng đàn ở tầng đáy nơi có nước chảy nhẹ,
cá thích sống sạch, thích trú ẩn trong các bụi cây, hóc đá, nếu nuôi cá trong ao thì
chúng thích sống trên gió, ở nơi có nhiều giá thể để trú ẩn. Cá thích yên tĩnh không
thích bị quấy rối bởi các loài cá khác, cá hoạt động bắt mồi về đêm, không tranh ăn
với các loài cá khác khi sống chung. Cá sinh trưởng tốt ở vùng nước ngọt và lợ nhẹ
có độ mặn 5 – 7
0
/
00
, cá sống và phát triển tốt ở vùng nước có độ pH 6,5 – 8,0 nhưng
pH thích hợp nhất là 6,5 – 7,5. Nhiệt độ thích hợp 28 – 32
0
C, tốt nhất là 28 – 30
0
C.
Do cá không có cơ quan hô hấp phụ nên đòi hỏi hàm lượng oxy hòa tan phải cao từ
3 mg/l trở lên, cá nuôi bè phát triển tốt hơn cá nuôi ao (Ngô Văn Ngọc, 2009).
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cũng như nhiều loài cá khác, ở thời kì đầu noãn hoàng là nguồn vật chất dinh
dưỡng chính cung cấp năng lượng cho quá trình phát triển và được cá Lăng nha tiêu
thụ chủ yếu. Sau khi noãn hoàng tiêu biến thì cá chuyển sang ăn thức ăn ngoài. Khi
cá còn nhỏ thức ăn của cá là các côn trùng có trong nước như: ấu trùng muỗi, côn
4
trùng nước, giun ít tơ, rễ cây, Khi cá lớn thức ăn chủ yếu là tôm, cua, cá con,…
(Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2001).
Cá Lăng nha có thể thay đổi thức ăn khi môi trường thiếu thức ăn thích hợp của loài.

ương là 88 – 90%, chiều dài cá đạt 1,9 – 2 cm/con và khối lượng đạt 0,11 – 0,12
g/con.
5
Theo Ngô Văn Ngọc, Trần Thị Thanh Trúc và ctv., (2010), tiến hành nghiên cứu
xác định mật độ và tần số cho ăn trong ương cá Lăng nha từ 3 đến 30 ngày tuổi. Kết
quả tần số cho ăn và mật độ ương khác nhau đã ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của
cá Lăng nha giai đoạn 3 đến 30 ngày tuổi nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và
tỷ lệ phân hóa sinh trưởng của cá. Ở nghiệm thức với tần số cho ăn 5 lần/ngày và
mật độ 4 con/lít cho tăng trưởng về chiều dài và khối lượng cao nhất lần lượt là 3,83
± 0,05cm và 0,56 ± 0,02g.
Thử nghiệm ương cá Lăng nha giai đoạn bột lên hương bằng các loại thức ăn khác
nhau, với mật độ 5 con/lít. Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức với 3 loại thức ăn khác
nhau lần lượt là cá tạp, TACB + cá tạp, TACB. TACB dùng trong thí nghiệm là
thức ăn dạng miễn của Công ty Cargill. Sau 30 ngày ương, ở nghiệm thức cho cá ăn
bằng TACB có tỷ lệ sống cao nhất 94,7%, đạt tăng trưởng về khối lượng và chiều
dài lần lượt là 632,99 mg/con, 29 mm/con (Lê Văn Đức, 2012).
2.3 Cơ sở sinh lý của tăng trưởng bù (compensatory growth) ở động vật thủy
sản
Tăng trưởng bù ở một số loài cá là giai đoạn tăng trưởng rất nhanh, xuất hiện sau
khi cá được cho ăn trở lại sau một giai đoạn bị bỏ đói, kèm theo sự tăng trưởng bù
là gia tăng sự thèm ăn bất thường trên cá (hyperphagia). Hiện tượng hyperphagia
này đã được ghi nhận trên nhiều loài cá như cá Hồi, cá Chép, cá Tra… Tăng trưởng
bù của cá liên quan đến nhiều yếu tố như chất lượng nước, sự phân đàn, khẩu phần
protein và năng lượng trong suốt thời gian cho ăn bù (Abdel et al., 2009).
Những loài cá khác nhau có những biểu hiện tăng trưởng bù khác nhau. Tùy vào
khả năng phục hồi của cá mà sự tăng trưởng bù được phân thành 3 loại:
Một là tăng trưởng bù một phần (Partial compensation): sau khi bị bỏ đói cá được
cho ăn bù, chúng tăng tưởng nhanh hơn nhưng không đạt kích cỡ bằng cá được cho
ăn liên tục (Weatherley et al., 1987; Paul et al., 1995; trích bởi Nguyễn Thanh Tâm
và ctv., 2009).

2.4 Một số nghiên cứu về khẩu phần ăn và phương pháp cho ăn ở một số loài

Trong nuôi trồng thủy sản, dưới bất kỳ hình thức nào, thức ăn luôn đóng vai trò
quan trọng đối với sự thành công và lợi nhuận. Việc quản lý thức ăn không hiệu quả
như cho ăn dư thừa không những làm lãng phí thức ăn, tăng chi phí sản xuất mà còn
làm ô nhiễm môi trường nuôi. Ngược lại, nếu người nuôi cung cấp lượng thức ăn
không đủ sẽ làm giảm tăng trưởng và có thể gây chết cho đối tượng nuôi. Quản lý
thức ăn tốt sẽ giảm thiểu hao hụt thức ăn, FCR ăn giảm, các ảnh hưởng của điều
kiện môi trường được hạn chế nhưng vẫn đảm bảo tăng trưởng tốt nhất cho đối
tượng nuôi và góp phần làm giảm chi phí cho thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền và ctv.,
2009). Có nhiều yếu tố tác động đến việc quản lý thức ăn, trong đó xác định nhịp
cho ăn thích hợp cho vật nuôi đang được nghiên cứu và áp dụng cho nhiều đối
tượng thủy sản.
Theo Silva et al., (1995) xác định tần số cho ăn tối ưu cho đối tượng nuôi là bước
quan trọng trong chiến lược cho ăn nhằm mục đích đạt được FCR cực tiểu và khối
lượng sinh vật nuôi đạt cực đại. Tần số cho ăn là số lần cho cá ăn trong ngày, nó
7
ảnh hưởng đến tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của chúng (Trần Thị Thanh
Hiền và ctv., 2009).
Tần số cho ăn ở mỗi loài cá, mỗi giai đoạn và trong từng điều kiện nuôi là khác
nhau. Đối với cá Hồi (Oncorhynchus mykiss), tần số cho ăn cho ăn ở giai đoạn cá
bột tốt nhất là 9 lần/ngày và giảm dần theo sự phát triển của cơ thể. Đến giai đoạn
cá đạt trên 45 con/g tần số cho ăn tôt nhất là 2 lần/ngày (Piper et al., 1982; trích bởi
Silva et al., 1995). Đối với các loài cá da trơn, tần số cho ăn tối ưu là 8 – 10
lần/ngày lúc bắt đầu ăn ngoài sau đó giảm xuống 3 lần/ ngày khi chiều dài cá đạt
khoảng 7cm, tần số cho ăn tốt nhất ở giai đoạn cá giống là 2 lần/ngày (Silva et al.,
1995).
Khi các điều kiện sống phù hợp được khôi phục sau giai đoạn gián đoạn tăng trưởng,
ở cá xuất hiện tăng trưởng nhanh chống, khi đó cá xảy ra hiện tượng tăng trưởng bù
(Wootton và ctv., 2003).

quả khối lượng như cá ở nghiệm thức được cho ăn hằng ngày và tăng trưởng cao
hơn các nghiệm thức còn lại.
Cá Pikeperch được nuôi với các chế độ cho ăn hàng ngày, cho ăn 1 ngày và không
cho ăn 1 ngày, cho ăn 1 ngày và không cho ăn 3 ngày, cho ăn 1 ngày và không cho
ăn 6 ngày. Kết quả ở nghiệm thức cho ăn 1 ngày và không cho ăn 1 ngày đạt tăng
trưởng bù hoàn toàn so với nghiệm cho ăn hàng ngày, hai nghiệm thức còn lại chỉ
tăng trưởng bù 1 phần (Jaakaro et al., 2009; trích bởi Dương Hải Toàn, 2010).
Theo Singh et al., (2005) thí nghiệm trong 8 tuần trên cá Chép Ấn Độ (Cirrhinus
mrigala) ở giai đoạn giống, so sánh tăng trưởng và thành phần cở thể của cá giữa
các chế độ cho ăn: cá được cho ăn hàng ngày (2 lần) và cá cho ăn gián đoạn 1, 2 và
4 tuần sau đó được cho ăn trở lại theo nhu cầu của cá. Kết quả cá cho ăn gián đoạn
2 tuần có trọng lượng cở thể cao hơn và FCR thấp hơn cá được cho ăn hàng ngày.
Các thành phần chất đạm, chất béo, tro, độ ẩm sau khi kết thúc thí nghiệm không có
sự khác nhau giữa các chế độ cho ăn (trừ thành phần chất đạm ở nghiệm thức cho
ăn gián đoạn 4 tuần thì thấp hơn).
Nghiên cứu về cho cá ăn gián đoạn trên bể được thực hiện bởi Chatakondi et al.,
(2001) với cá Nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) giai đoạn giống, cá được cho ăn hằng
ngày (đối chứng) theo nhu cầu và so sánh tăng trưởng với cá được cho ăn gián đoạn
1, 2 và 3 ngày sau đó cho ăn trở lại thì tiêu thụ thức ăn cao hơn cá được cho ăn hàng
ngày. Sau 10 tuần thí nghiệm, nhịp độ tăng trưởng trung bình của cá ở các nghiệm
thức cho ăn gián đoạn là 40%, 180% và 191% tương ứng với các nghiệm thức cho
ăn gián đoạn 1, 2 và 3 ngày, cao hơn cá trong nghiệm thức đối chứng. Hơn nữa,
khối lượng cuối của cá chu kì gián đoạn cho ăn 3 ngày cao hơn so với các nghiệm
thức khác và các nghiệm thức có hiệu quả sử dụng thức ăn cao hơn nghiệm thức đối
chứng. Như vậy, thí nghiệm cho cá ăn gián đoạn trong ao làm gia tăng sản lượng,
hiệu quả sử dụng thức ăn tăng thì người nuôi có thể giảm chi phí thức ăn và những
vấn đề về chất lượng nước.
Tóm lại, những nghiên cứu trên đã cho thấy khả năng tăng trưởng nhanh hơn ở cá
(giai đoạn giống) được phóng thích sau giai đoạn ức chế lượng thức ăn ăn vào. Theo
Ali et al., (2003) cho rằng khả năng trên có được là do sự thay đổi quá trình trao đổi

qua nước muối với nồng độ 2 – 3% khoảng 30 phút. Sau đó cá được ương lên trong
bể composite có thể tích 500lít trong 20 ngày và cá được tập cho ăn thức ăn công
nghiệp dạng viên.
Trước khi tiến hành thí nghiệm, bỏ đói cá 1 ngày để cá tiêu hóa hết thức ăn cũ. Tiến
hành chọn 360 con cá từ đàn cá ban đầu, lựa chọn những con cá không mất nhớt,
đuôi và râu không bạc màu, không dị tật, bơi lội khỏe. Cân và đo ngẫu nhiên 50 cá
để xác định khối lượng và chiều dài cá ban đầu. Lúc bố trí thí nghiệm cá có khối
lượng và chiều dài lần lượt là 0,1326 – 0,1490 g/con và 2,30 – 2,50 cm/con. Sau đó,
cá được bố trí ngẫu nhiên vào bể với mật độ 30 con/bể, để tiến hành đánh giá tăng
trưởng về khối lượng, chiều dài, tỷ lệ sống, hệ số thức ăn qua 4 nghiệm thức cho ăn
ở các nhịp khác nhau.
Hình 3.2 Cá Lăng nha thí nghiệm
3.4.1.2 Bể thí nghiệm
Bể thí nghiệm là 12 bể có tổng thể tích là 60 lít/bể, mỗi bể chứa 40lít nước. Các bể
được đánh số từ 1 đến 12 để bố trí thí nghiệm và để tiện theo dõi. Trước khi thí
nghiệm, các bể được vệ sinh sạch sẽ bằng chlorine và xà phòng rồi rửa lại bằng
12
nước sạch. Sau đó, bể được lắp đặt ống sục khí và cho nước vào (nước cấp cho bể là
nước máy được lọc qua túi lọc) và sục khí 1 tuần cho bay hết chlorine.
3.4.1.3 Thức ăn thí nghiệm
Thức ăn trong thí nghiệm là thức ăn công nghiệp dạng viên dùng cho cá da trơn với
độ đạm 35% cho suốt thời gian thí nghiệm.
Bảng 3.1 Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm (theo nhà sản xuất)
Chỉ tiêu dinh dưỡng Chỉ tiêu dinh dưỡng
Protein tối thiểu (%) 35
Lipid tối thiểu (%) 6
Độ ẩm tối đa (%) 11
Tro tối đa (%) 14
Xơ tối đa (%) 6
Năng lượng (KJ/kg) 2.800

trở lại.

Trích đoạn Tăng trưởng chiều dài của cá Hệ số thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng thức ăn (FCE)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status