ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM SANGROVIT
LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TÌNH
TRẠNG SỨC KHỎE CỦA CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus
Lê Hồng Ngọc* và Nguyễn Như Trí
Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá tác dụng của của việc bổ sung chế phẩm Sangrovit
®
, sản phẩm
thương mại có chứa hoạt chất isoquinoline alkaloid sanguinarine vào khẩu phần ăn lên tăng trưởng, hiệu quả sử
dụng thức ăn và khả năng kháng bệnh của cá tra. Sangrovit
®
được bổ sung vào khẩu phần ăn của cá tra trong 16
tuần ở các nồng độ 25, 50, 75 và 100 ppm. Kết quả cho thấy rằng FCR của nghiệm thức bổ sung 75 và 100 ppm
trong khẩu phần ăn thấp hơn so với nghiệm thức đối chứng với sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05).
Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR) ở nghiệm thức bổ sung 75 ppm, hoạt lực lysozyme ở nghiệm thức bổ sung 75 và
100 ppm cũng được cải thiện với mức có nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại. Số lượng
bạch cầu không có sự khác biệt về mặt thống kê ở tất cả các nghiệm thức. Cá sau khi nuôi 16 tuần được gây cảm
nhiễm với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri. Tỷ lệ sống sau 14 ngày cảm nhiễm giữa các nghiệm thức không có sự
khác biệt về mặt thống kê, tuy nhiên có xu hướng tăng ở những nghiệm thức có bổ sung Sangrovit
®
. Những kết quả
trên cho thấy Sangrovit
®
có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng và gia tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra khi bổ
sung vào khẩu phần thức ăn.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hơn một thập kỷ qua, nghề nuôi cá tra phát triển rất nhanh, đạt 683 ngàn tấn, có giá trị
xuất khẩu 645 triệu USD (Lam và ctv, 2009) vào năm 2007 và đến 2010 đạt trên 1 triệu tấn, có
giá trị xuất khẩu trên 1,4 tỷ USD, giải quyết việc làm cho 180.000 lao động nghèo ở nông thôn
phenanthridine alkaloid bậc 4 như là sanguinarine, chelerythrine, với hàm lượng sanguinarine là
1,5 % (Zdarilova và ctv, 2008). Hiện nay Sangrovit
®
được dùng làm chất bổ sung trong thức ăn
cho lợn, bò, gia cầm và cá (Juskiewicz và ctv, 2010; Vieira và ctv, 2008).
Xuất phát từ những yêu cầu nâng cao tỷ lệ sống, cải thiện tăng trưởng, giảm chi phí thức
ăn của cá tra trong nuôi thâm canh, việc thử nghiệm và đánh giá tác dụng của hoạt chất
sanguinarine là rất cần thiết. Do đó nghiên cứu “Ảnh hưởng của sản phẩm Sangrovit
®
lên tăng
trưởng và tình trạng sức khỏe của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)” được tiến hành.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Chế phẩm Sangrovit
®
Chế phẩm Sangrovit
®
được cung cấp bởi công ty Phytobiotic Việt Nam. Chế phẩm được
phối trộn vào thức ăn trong quá trình ép đùn tại công ty Cargill Việt Nam với các hàm lượng: 0;
25; 50; 75 và 100 g/tấn thức ăn.
Cá thí nghiệm
Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giống khỏe mạnh, sạch bệnh, có trọng lượng trung
bình từ 9,8 ± 0,1 g và chiều dài trung bình là 8,1 ± 0,5 cm. Cá có nguồn gốc từ trại cá giống Củ
Chi. Cá trước thí nghiệm được nuôi trong giai và cho ăn thức ăn công nghiệp trong vòng 15 ngày
để cá thích nghi với điều kiện môi trường và ổn định sức khỏe, sau đó chọn những con khỏe
mạnh, không dị tật, đồng đều về kích cỡ, trọng lượng để bố trí thí nghiệm.
Thí nghiệm 1: Đánh giá ảnh hưởng của Sangrovit
®
lên tăng trưởng, hiệu quả sử dụng
thức ăn và đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu của cá tra
Thí nghiệm này được thiết lập để so sánh ảnh hưởng của Sangrovit
5
CFU/ml. Sau
khi ngâm theo dõi tỉ lệ chết trong vòng 14 ngày. Trong suốt thời gian thí nghiệm, nhiệt độ nước
trong các bể được điều chỉnh ở 26
o
C để vi khuẩn phát triển tốt nhất. Bắt đầu từ ngày thứ 4 tiến
hành thay nước cho các bể thí nghiệm.
Tiến hành thu mẫu cá có biểu hiện lờ đờ hoặc vừa mới chết ở các nghiệm thức. Quan sát
và ghi nhận các biểu hiện bên ngoài của cá, sau đó tiến hành giải phẫu cá bệnh, quan sát bằng
mắt thường các nội quan và phân lập vi khuẩn từ các cơ quan (gan, thận, lách) trên môi trường
BHIA, ủ trong tủ ấm nhiệt độ 30
o
C. Sau 48 giờ quan sát và ghi nhận sự phát triển khuẩn lạc của
vi khuẩn. Vi khuẩn được định danh bằng bộ test định danh IDS 14GNR của công ty Nam Khoa.
Phân tích thống kê
Tất cả dữ liệu thu được về tăng trọng (WG, SGR), hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), tỉ lệ
sống được phân tích bằng phần mềm Excel và Minitab 16. Sử dụng trắc nghiệm Tukey để so
sánh sự khác nhau có ý nghĩa giữa các nghiệm thức.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thí nghiệm 1
Bảng 1. Tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ sống của cá
Nghiệm thức ĐC 1 2 3 4
W
1
(g/cá) 9,77 ± 0,1
a
9,78 ± 0,02
a
9,72 ± 0,01
a
1,60 ± 0,01
ab
1,51 ± 0,05
b
1,49 ± 0,11
b
Tỷ lệ sống 93,33 ± 5,20
a
92,50 ± 2,50
a
90,83 ± 2,88
a
94,17 ± 5,20
a
90,83 ± 1,44
a
Ghi chú: W
1
: trọng lượng cá trung bình lúc bố trí (g/cá); W
2
: trọng lượng cá trung bình cuối thí
nghiệm (g/cá); SGR: tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ngày); FCR: hệ số chuyển đổi thức ăn. Các
giá trị trên cùng một hàng nếu các ký tự giống nhau thì sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt
thống kê (P > 0,05).
Kết quả ở bảng 1 cho thấy, trọng lượng cá ban đầu ở các nghiệm thức (NT) khá đồng đều
và không có sự khác biệt về mặt thống kê (P > 0,05). Sau 10 tuần thí nghiệm trọng lượng cuối
của cá ở các nghiệm thức có sự chênh lệch lớn và có xu hướng tăng ở những nghiệm thức có bổ
sung Sangrovit
®
. Trọng lượng trung bình của cá ở NT 3 là lớn nhất (92,96 g/con) và thấp nhất ở
®
lên tăng trưởng. Vieira và ctv (2008) báo cáo rằng có sự cải thiện về tăng trưởng trên
gà giò khi bổ sung Sangrovit
®
vào khẩu phần ăn (25-50 mg/kg) trong 42 ngày (P < 0,05). Tuy
nhiên, một số nghiên cứu khác cho thấy Sangrovit
®
không có ảnh hưởng lên tăng trưởng trên gà
giò (Kosina và ctv, 2004; Psotova và ctv, 2006). Nghiên cứu của Lindermayer (2005) báo cáo
rằng sanguinarine có tác dụng ức chế các enzyme phân giải acid amin đồng thời tăng độ khả
dụng của lysine và tryptophan (trích bởi Viena và ctv, 2007), điều này có thể đúng ở trên cá tra
khi có tác dụng làm giảm FCR.
Về tỷ lệ sống, không có sự chênh lệch lớn giữa các nghiệm thức sau 16 tuần thí nghiệm
và không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa tất cả các nghiệm thức (P > 0,05).
Hoạt lực lysozyme
Cá sau khi nuôi 16 tuần được gây cảm nhiễm với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri nhằm
kích thích hệ thống miễn dịch của cá tra tăng cường hoạt động, từ đó đánh giá các chỉ tiêu về
phản ứng miễn dịch không đặc hiệu (bạch cầu, lysozyme) chính xác hơn. Phân tích lysozyme
huyết thanh cá được thực hiện theo phương pháp của Ellis (1990). Trong phân tích này, chúng
tôi dựa trên sự tiêu giảm vi khuẩn Gram dương nhạy với lysozyme là Micrococcus lysodeikticus,
từ đó làm giảm mật độ quang khi đo bằng máy so màu sau 1 phút và 5 phút ở bước sóng 530 nm.
Hoạt lực của lysozyme huyết thanh của cá ở các nghiệm thức được trình bày chi tiết ở bảng 2.
Bảng 2: Hoạt lực lysozyme huyết thanh (unit/ml) theo thời gian sau khi cảm nhiễm
Nghiệ
m thức
ĐC 1 2 3 4
0 giờ 128,3 ± 35,3
a
126,7 ± 30,6
a
nghiệm thức có bổ sung Sangrovit
®
. Sau 72 giờ cảm nhiễm hoạt lực lysozyme đã có khác biệt về
mặt thống kê (P < 0,05) giữa nghiệm thức đối chứng (161,7 unit/ml) với hai nghiệm thức 3
(381,7 unit/ml) và 4 (339,2 unit/ml). Họat lực lysozyme tăng dần theo thời gian sau khi gây cảm
nhiễm, điều này thấy rõ hơn ở biểu đồ 1.
Biểu đồ 1: Hoạt lực lysozyme thay đổi theo thời gian sau khi cảm nhiễm
với vi khuẩn E. ictaluri
Trước khi ngâm vi khuẩn, hoạt lực của lysozyme không có sự khác biệt lớn giữa các
nghiệm thức. Điều này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của Rawling và ctv (2009), hoạt
lực lysozyme của cá rô phi sau 10 tuần nuôi có bổ sung Sangrovit
®
trong khẩu phần ăn không có
khác biệt về mặt thống kê. Trong nghiên cứu của chúng tôi, hoạt lực của lysozyme huyết thanh
gia tăng đáng kể sau khi gây cảm nhiễm ở các nghiệm thức có bổ sung Sangrovit
®
, đặc biệt là
nghiệm thức 3 và 4 trong khi đó hoạt lực của lysozyme ở nghiệm thức đối chứng không có sự
chênh lệch đáng kể sau khi cảm nhiễm ở các thời điểm 0, 24 và 72 giờ. Điều này cho thấy
Sangrovit
®
có khả năng tăng cường hoạt tính của lysozyme huyết thanh sau khi cơ thể cá bị
nhiễm khuẩn. Đối với động vật trên cạn, Gudev và ctv (2004) đã chứng minh rằng Sangrovit
®
làm gia tăng hàm lượng lysozyme trong huyết thanh trên heo ở cả 2 giai đoạn heo sữa (20 kg) và
heo thịt (50 kg).
Lysozyme hoạt động chống lại vi khuẩn (đặc biệt là vi khuẩn Gram dương). Chất nền đặc
trưng của lysozyme là β-(1,4) liên kết N-acetyl-D-glucosamine, N-acetyl-muramic acid
peptidoglycan. Nó tạo nên vách tế bào vi khuẩn, và khi lysozyme hoạt động sẽ cắt đứt liên kết
này và phá vỡ vách tế bào vi khuẩn (Saurabh và Sahoo, 2008).
24 giờ 93,61 ± 30,18
a
102,57 ± 27,39
a
118,70 ± 35,35
a
125,75 ± 23,06
a
116,17 ± 30,99
a
72 giờ 9,96 ± 4,77
a
15,20 ± 3,56
a
12,80 ± 1,92
a
13,10 ± 4,35
a
14,93 ± 2,29
a
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một hàng nếu có các ký tự giống nhau thì khác nhau không có ý
nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).
Dựa vào kết quả ở bảng 2 ta nhận thấy mật độ bạch cầu của cá tra trong các nghiệm thức
không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nghiệm thức sau 0 giờ và sau khi ngâm vi khuẩn
24 giờ, tuy nhiên vẫn có xu hướng gia tăng ở những nghiệm thức có bổ sung chế phẩm Sangrovit
®
trong khẩu phần ăn. Mật độ bạch cầu gia tăng sau 24 giờ gây cảm nhiễm và giảm dần theo thời
gian, sau 72 giờ mật độ bạch cầu giảm xuống rất thấp có thể là do vi khuẩn tăng sinh trong cơ thể
cá quá nhiều và tiêu diệt hầu hết bạch cầu, đồng thời tình trạng sức khỏe của cá đã xuống rất thấp
nên không thể sản xuất một lượng lớn bạch cầu để chống lại vi khuẩn. Sự thay đổi mật độ bạch cầu
3 22,22 ± 3,85
a
4 20,00 ± 6,67
a
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột nếu có các ký tự giống nhau thì khác nhau không có ý
nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).
Tỷ lệ sống của cá kết thúc thí nghiệm cảm nhiễm với E. ictaluri (Bảng 4) có xu hướng
tăng theo liều bổ sung Sangrovit
®
, thấp nhất ở NT đối chứng (11,11%), cao nhất là 22,22% thuộc
NT 3. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các NT là không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05), điều
này chứng minh việc bổ sung Sangrovit
®
trong khẩu phần ăn không cải thiện tỷ lệ sống của cá tra
sau khi gây nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri.
4. KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ
Nghiên cứu này chứng minh rằng thức ăn được bổ sung Sangrovit
®
có ảnh hưởng tích
cực đến tăng trưởng của cá tra, giúp làm giảm FCR và cải thiện đáp ứng miễn dịch không đặc
hiệu (tăng cường hoạt lực của lysozyme). Việc bổ sung Sangrovit
®
vào thức ăn không có tác
dụng rõ ràng lên mật độ bạch cầu và tỉ lệ sống của cá tra sau khi gây cảm nhiễm với vi khuẩn E.
ictaluri.
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy cần thiết thực hiện nghiên cứu trên cá tra
ngoài thực tế sản xuất đối với chế phẩm Sangrovit
®
. Nên tiến nghiên cứu trên những loài thủy
sản khác (cá rô đồng, cá mú, tôm,…) nhằm đánh giá đầy đủ hơn về tác dụng của Sangrovit
Assessment of safety on pigs in ninety days feeding experiment. Food and Chemical
Toxicology 42(1): 85-91
10. Lam T. P., Tam M. B., Thuy T. T. N., Geoff J. G., Brett A. I., Hao V. N., Phuong T. N.,
Sena S. D., 2009. Current status of farming practices of striped catfish, Pangasianodon
hypophthalmus in the Mekong Delta, Vietnam. Aquaculture 296 (3-4): 227-236.
11. Lenfeld J., Kroutil M., Marsalek F., Slavik J., Preininger V. and Simanek V., 1981. Anti-
inflammatory activity of quaternary benzophenanthridine alkaloids from Chelidonium majus.
Planta Med. 43:161–165.
12. Mackraj I., Govender T. and Gathiram P., 2008. Sanguinarine. Cardiovascular Therapeutics
26: 75–83.
13. Psotova J., Vecera R., Zdarilova A., Anzenbacherova E., Kosina P., Svobodova A., Hrbac,J.,
Jirovsky D., Stiborova M., Lichnovsky V., Vicar J., Simanek V., Ulrichova J., 2006. Safety
assessment of sanguiritrin, alkaloid fraction Macleaya cordata in rats. Vet.Med. 51: 1–11.
14. Saurabh S., Sahoo P. K., 2008. Lysozyme: an important defence molecule of fish innate
immune system. Aquaculture Research 39: 223 – 239.
15. Rawling M.D., Merrifield D.L. and Davies S.J., 2009. Preliminary assessment of dietary
supplementation of Sangrovit
®
on Nile tilapia (Oreochromis niloticus) growth performance
and health. Aquaculture 294: 118–122.
ABSTRACT
A preliminary study was conducted to evaluate the effect of graded dietary supplementation of Sangrovit
®
, a
commercial product containing the isoquinoline alkaloid sanguinarine, on tra catfish (Pangasianodon
hypophthalmus) growth performance, non-specific immune parameters and disease resistance. Sangrovit
®
was
incorporated into the diets with graded concentrations: 25, 50, 75 and 100 ppm and fed to catfish for 16 weeks. The
results showed that, FCR of tra catfish significantly (P < 0,05) decreased in groups fed 75 and 100 ppm Sangrovit