TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN CAO SANH ẢNH HƯỞNG CỦA LEVAMISOLE LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU
HUYẾT HỌC VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
ẢNH HƯỞNG CỦA LEVAMISOLE LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU HUYẾT HỌC
VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus)
Nguyễn Cao Sanh
1
và Nguyễn Thanh Phương
1
1
Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
TÓM TẮT
Nghiên cứu ảnh hưởng của Levamosole đến các chỉ tiêu huyết học và tăng trưởng
của các tra được tiến hành trong giai (1x1x2,5 m) có kích cỡ mắc lưới 5 mm. Cá có khối
lượng trung bình 30,21±0,52 g/con. Gồm 4 nghiệm thức: đối chứng, 150 mg/kg thức ăn
cho ăn gián đoạn trong các tuần 1, 2, 5, 6, 9, 10; 150 mg/kg thức ăn cho ăn liên tục trong
12 tuần và 250 mg/kg thức ăn cho ăn gián đoạn trong các tuần 1, 2, 5, 6, 9, 10; mỗi
nghiệm thức lặp lại 3 lần. Mẫu được thu để phân tích các chỉ tiêu hồng cầu, bạch cầu,
hematorit, hemoglobin và các chỉ tiêu tăng trưởng thành 5 đợt tại các thời điểm bắt đầu thí
nghiệm 0 ngày, 14 ngày, 28 ngày, 56 ngày và 84 ngày của từng nghiệm thức. Kết quả thí
nghiệm cho thấy ở các nghiệm thức 150 mg/kg thức ăn cho ăn gián đoạn, 150 mg/kg thức
ăn cho ăn liên tục và 250 mg/kg thức ăn cho ăn gián đoạn đều làm tăng các chỉ tiêu huyết
học và tăng trưởng so với đối chứng. Đặc biệt ở nồng độ 250 mg/kg cho ăn gián đoạn vào
ngày 56 đều làm tăng cao nhất mật độ hồng cầu (3,05x10
6
tế bào/mm
3
), bạch cầu
(0,28x10
6
tế bào/mm
3
cells/mm
3
),
hemoglobin (12.89 mmol/L), hematocrit (36.61%), survival rate (87.22%), standard
growth rate per day about weight 0.9 g/day), specific growth rate (1.49 %/day), the fish
growth after each sampling (81.54 g) and significantly different compare to control
treatment (p<0.05). However, FCR was highest at control treatment and lowest at
treatment 250 mg/kg feed with interrupted feeding compare to control treatment (p<0.05).
Through experiments show that the addition of levamisole to interrupt eating food will
contribute to enhance the survival and growth of fish in intensive culture.
2
Keywords: catfish, Levamisole, hematology, growth.
1. Giới thiệu
Cá tra (Pangasianodon hypophthamus) là đối tượng nuôi quan trọng và có giá
trị kinh tế cao ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Ở Việt Nam cá tra hiện nay là
đối tượng nuôi quan trọng nhất. Theo Hiệp hội cá Tra Việt Nam năm 2013 diện tích
nuôi cá tra tại đồng bằng sông Cửu Long là khoảng 4.679 ha, bằng 87% so cùng kỳ
năm 2012 (Trích dẫn từ Hiệp hội cá Tra Việt Nam, 2013). Tuy nhiên trong những
năm gần đây, nghề nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long gặp nhiều khó khăn.
Trước thực trạng này, các địa phương trong khu vực đã đưa ra giải pháp cũng như
hướng dẫn nông dân thực hiện quy trình nuôi cá bền vững đạt chất lượng cao theo
tiêu chuẩn tiên tiến như Global GAP, ASC, … Với mục đích đưa ra sản phẩm cá tra
chất lượng, giảm thiểu dịch bệnh và sử dụng thuốc trong quá trình nuôi nên đưa áp
dụng Levamisole vào trong nuôi thâm canh, Levamisole là chất kích thích miễn
dịch, theo Vũ Triệu An and Homber (2001) thì Levamisole cũng là một chất làm hồi
phục miễn dịch ở những trường hợp thiếu hụt miễn dịch tế bào và làm tăng hoạt tính
của tế bào lympho T trong điều kiện thực nghiệm. Trong điều kiện in-vitro cho thấy
rõ vai trò của Levamisole cũng làm tăng sức đề kháng miễn dịch. Levamisole kích
thích sự hình thành kháng thể với các kháng nguyên khác nhau, làm tăng đáp ứng tế
2.2.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của Levamisole đến các chỉ tiêu huyết học của
cá tra
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức: đối chứng,
150 mg Levamisole/kg thức ăn cho ăn gián đoạn trong các tuần 1, 2, 5, 6, 9, 10; 150
mg Levamisole /kg thức ăn cho ăn liên tục trong 12 tuần và 250 mg Levamisole /kg
thức ăn cho ăn gián đoạn trong các tuần 1, 2, 5, 6, 9, 10; mỗi nghiệm thức lặp lại 3
lần với mật độ là 100 con/giai. Thời gian thí nghiệm là 84 ngày, cá được cho ăn 3%
khối lượng thân và cho ăn 2 lần/ngày, thức ăn thừa được vớt ra khỏi giai sau khi cho
ăn 30 phút.
Suốt quá trình thí nghiệm mẫu máu cá được thu để phân tích các chỉ tiêu hồng
cầu, bạch cầu, hematorit, hemoglobin. Mẫu được thu bao gồm 5 đợt tại các thời
điểm ngày 0, 14 ngày, 28 ngày, 56 ngày và 84 ngày sau khi cho cá ăn đã bổ sung
Levamisole vào thức ăn. Mỗi lần thu 6 con/bể. Máu được thu bằng kim tiêm 1 mL
đã tráng qua heparin, khoảng 0,5-0,7 mL/mẫu và chứa trong ống ependoff 1,5 mL
được ký hiệu riêng cho từng nghiệm thức. Mẫu được giữ lạnh bằng nước đá trong
suốt thời gian lấy mẫu, chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích mẫu.
2.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của Levamisole đến tăng trưởng của cá tra
Thí nghiệm cũng gồm 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần với các
nồng độ Levamisole tương tự như thí nghiệm 1. Mật độ cá thí nghiệm là 60
con/giai. Thời gian thí nghiệm là 84 ngày, cá được cho ăn 3% khối lượng thân và
cho ăn 2 lần/ngày, thức ăn thừa được vớt ra khỏi giai sau khi cho ăn 30 phút.
Thu mẫu tăng trưởng được thực hiện 4 đợt tại các thời điểm ngày 0, 28 ngày,
56 ngày và 84 ngày của từng nghiệm thức. Mỗi lần thu 30 con/giai, cân khối lượng
của từng con, toàn bộ cá và đếm cá còn lại trong giai.
2.3 Phương pháp phân tích mẫu
2.3.1 Chỉ tiêu huyết học của cá
a) Phương pháp đếm hồng cầu
Hồng cầu được đếm bằng buồng đếm hồng cầu neubauer, đếm số lượng hồng
cầu trong 5 ô của buồng đếm hồng cầu, đếm 2 lần ở 2 vị trí đếm trên buồng đếm và
lấy trung bình của 2 lần đếm.
cầu xác định được từ buồng đếm Neubauer (tế bào/mm
3
).
c) Phương pháp đo hàm lượng Hb
Phương pháp đo hàm lượng Hb, pha loãng 10 µl máu cá với 2,5 mL thuốc thử
Drabkin trong cuvet, sau đó dùng máy so màu quang phổ (Thermo Spectronic) đo
mức độ hấp thụ ánh sáng của dung dịch ở bước sóng 540 nm và nhiệt độ 20ºC -
25ºC.
Số lượng huyết sắc tố được tính theo công thức: Số lượng huyết sắc tố mol/L
(A) = (0,019 + 37,74 x a) x 0,621 (trong đó: a là mức độ hấp thụ ánh sáng) Hb
(g/100 mL) = A x 1,6125.
d) Phương pháp đo Hematocrit (tỉ lệ huyết sắc tố %)
Phương pháp đo Hematocrit (tỉ lệ huyết sắc tố, %), máu thu được cho vào ống
thủy tinh (hematocrit tube) để đo tỉ lệ huyết sắc tố, ly tâm hematocrit tube bằng máy
ly tâm chuyên biệt trong 3 phút với tốc độ 12.000 vòng/phút. Dùng thước đo có chia
vạch từ 0 – 20 cm, đo chiều dài huyết cầu và chiều dài huyết tương để xác định tỉ lệ
huyết cầu.
2.3.2 Các chỉ tiêu tăng trưởng
a) Tỉ lệ sống (SR)(%) = (số cá thể cuối thí nghiệm/số cá thể ban đầu) x 100
b) Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trên ngày về khối lượng (DWG):
DWG (g/ngày) = (W
t
-W
o
)/t
c) Tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) (%/ngày) = 100 x [Ln(Wt) – Ln(Wo)]/t
Trong đó: W
o
: Khối lượng (KL) cá ban đầu.
5
1,41±0,06
a
1,34±0,05
a
2,32±0,17
a
2,47±0,20
a
2,01±0,15
a
(10
6
150 mg/kg GĐ
1,39±0,54
a
1,45±0,07
ab
2,39±0,13
a
2,57±0,16
a
2,49±0,15
a
3,05±0,22
a
2,38±0,11
a
Bạch cầu
ĐC
0,12±0,02
a
0,12±0,03
a
0,19±0,06
a
0,22±0,12
a
0,18±0,04
a
(10
6
150 mg/kg GĐ
0,11±0,02
a
a250 mg/kg GĐ
0,11±0,02
a
0,20±0,05
c
0,23±0,08
a
0,28±0,11
a
0,20±0,06
a
Hemoglobin
ĐC
8,07±,0,55
a
8,36±0,44
a
9,88±1,20
a
11,10±0,73
a
10,87±0,86
ab
7,18±1,07
a250 mg/kg GĐ
9,92±0,98
a
10,27±0,36
b
11,12±1,07
a
12,89±0,68
b
10,06±1,18
ab
Hematocrit
ĐC
28,57±1,23
a
150 mg/kg LT
27,99±1,52
a
30,28±1,28
b
35,29±0,64
c
27,84±1,12
a
25,78±0,86
a250 mg/kg GĐ
26,08±1,27
a
35,29±1,27
c
35,51±0,98
c
36,61±1,27
b
máu và khác biệt không có ý nghĩa
thống kê giữa các nghiệm thức
(p>0,05). Ở lần thu mẫu 14 và 28 ngày mật độ hồng
cầu ở nghiệm thức 250 mg/kg thức ăn cho ăn gián đoạn tăng cao nhất và khác biệt
không có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (p>0,05). Đến lần thu mẫu
56 ngày mật độ hồng cầu đạt cao nhất ở nghiệm thức 250 mg/kg thức ăn cho ăn
gián đoạn (3,03x10
6
tế bào/mm
3
máu) và thấp nhất ở nghiệm thức đối chứng và
nghiệm thức 150 mg/kg thức ăn cho ăn liên tục (2,47x10
6
tế bào/mm
3
máu)
(p>0,05). Nhưng đến lần thu mẫu 84 ngày thì mật độ hồng giảm so với lần thu mẫu
56 ngày ở các nghiệm thức bổ sung Levamisole cao hơn so với nghiệm thức đối
chứng (p>0,05) đều này cho thấy khi bổ sung lượng Levamisole cho ăn trong thời
gian dài sẽ làm giảm mật độ hồng cầu trong máu cá. Số lượng hồng cầu biến động
theo tình trạng, sinh lý của cá, theo giống loài, theo chế độ dinh dưỡng, theo giới
tính, theo tuổi, … Số lượng hồng cầu trong máu cá thay đổi rất lớn. Ở cá nước ngọt
số lượng hồng cầu dao động trong khoảng 1-3,5 triệu tế bào/mm
3
(Đỗ Thị Thanh
Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010).
Cũng qua bảng 2, hàm lượng hemoglobin ở nghiệm thức đối chứng và 150
mg/kg thức ăn cho ăn liên tục đều không khác biệt có ý nghĩa thống kê qua các lần
thu mẫu (p>0,05). Nhưng nghiệm thức 150 mg/kg cho ăn gián đoạn ở lần thu mẫu
mẫu ngày 0 (p<0,05) và 2 lần thu mẫu 14, 28 ngày khác biệt có ý nghĩa thống kê so
với lần thu mẫu 56 và 84 ngày (p<0,05).
Khi phân tích chỉ số hematocrit ở lần thu mẫu đầu tiên dao động trong khoảng
27,52–28,57% và khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức
(p>0,05). Nhưng bắt đầu từ lần thu mẫu thứ ngày 14 và 28 sau khi bổ sung
Levamisol vào thức ăn thì chỉ số này ở các nghiệm thức đều cao hơn nghiệm thức
đối chứng và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p<0,05).
Đến lần thu mẫu thứ 56 thì chỉ số hematocrit ở nghiệm thức 150 mg/kg thức ăn cho
ăn liên tục đạt thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức
(p<0,05). Chỉ số hematocrit vào ngày 84 đạt cao nhất ở nghiệm thức 150 mg/kg
thức ăn cho ăn gián đoạn (p<0,05). Tỉ lệ huyết cầu thông thường trong khoảng 20-
35%, tuy nhiên cũng có một số loài cá trích (Clupea harengus) chiếm 54% và cá
tuyết (Gadus morhua) 32% (Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010).
Đã có một số nghiên cứu ảnh hưởng của Levamosole lên các chỉ tiêu sinh lý
máu của động vật thủy sản. Theo nghiên cứu của Sajid Maqsood et al., (2009) bổ
sung Levamisole trong thức ăn ở 4 nghiệm thức (đối chứng, 125 mg, 250 mg, 500
mg/kg thức ăn) trên cá chép giống (Cyprinus carpio). Kết quả thí nghiệm cho thấy
tổng số lượng hồng cầu, hemoglobin, giá trị hematocrit tăng cao và khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức so với đối chứng (p<0,05). Điều này phù hợp
với kết quả của thí nghiệm hàm lượng lượng hồng cầu, hemoglobin, giá trị
hematocrit, tăng cao so với đối chứng.
8
Nghiên cứu của Lê Thị Mai Anh, (2013) thì sau khi bổ sung FOS
(Fructoligosaccharide) với các nồng độ (đối chứng, 0,5%, 1,%, 1,5%, 2%). Kết quả
cho thấy số lượng hồng cầu, hàm lượng hemoglobin, chỉ số hematocrit đạt cao nhất
ở nghiệm thức 0,5% và 1% và thấp nhất ở nghiệm thức đối chứng và 2%, khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Chỉ số hematocrit vào ngày 90 ở hai nghiệm thức trên
tương ứng là 51,8% và 52,3%. Qua thí nghiệm trên ngoài Levamisole thì FOS tác
trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella) ở giai đoạn cá giống, tắm hàng ngày với liều 3,
5 và 10 mg/kg và liều đối chứng trong 15 phút. Kết quả thí nghiệm sau 18 ngày, cho
thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) về số lượng bạch cầu trung tính
trong máu cá ở liều 5 và 10 mg/L. Tới lần thu mẫu ngày 35 thì số lượng bạch cầu
trung tính trong máu cá đạt cao nhất ở liều 3mg/L, (p<0,05). Tương tự như nghiên
cứu của Wijendra and Pathiratne, (2007) trên cá chép Ấn Độ (Labeo rohita) khi bổ
sung Levamisole vào thức ăn với liều 5 mg/kg trọng lượng cơ thể vào 0 giờ, ngày
thứ 3, 6, 9, 12, 15 của thí nghiệm thì số lượng tổng bạch cầu cũng như từng loại
bạch cầu đã tăng đáng kể vào ngày 12 và 15 ngày sau khi sử dụng Levamisole. Qua
9
đó cũng cho thấy được khi bổ sung Levamisole vào thức ăn với hàm lượng nhỏ
cũng làm tăng mật độ bạch cầu.
Ngoài phương pháp bổ sung vào thức ăn, nghiên cứu của Pereca & Pathiratne
(2008) đã sử dụng Levamisole tắm cá thát lát (Catla catla) với nồng độ 1,25 hoặc
2,5 mg/L trong 2 giờ và thu mẫu vào ngày thứ 14, 21, 28, 42 và 56 ngày. Kết quả
cho thấy tổng bạch cầu tăng đáng kể ở các nghiệm thức có sử dụng Levamisole so
với các nghiệm thức đối chứng (p>0,05).
Như vậy so với kết quả của các nghiên cứu trên, kết quả của thí nghiệm này
cũng chỉ ra rằng levamisole có ảnh hưởng đến chỉ tiêu sinh lý máu cá tra. Khi bổ
sung Levamisole vào thức ăn ở nồng độ 250 mg/kg thức ăn cho ăn gián đoạn đều
làm tăng mật độ hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng hemoglobin và chỉ số hematocrit và
khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng p<0,05) và kết quả này cho thấy khi
bổ sung lượng Levamisole vào thức ăn ở nồng độ 150 mg/kg thức ăn cho ăn liên tục
trong thời gian dài sẽ làm giảm mật độ hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng hemoglobin
và chỉ số hematocrit trong máu cá.
3.2 Ảnh hưởng của Levamisole lên tăng trưởng của cá tra
Nhìn chung, các chỉ tiêu tăng trưởng như: tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng tuyệt
đối trên ngày về khối lượng, tốc độ tăng trưởng tương đối của cá tra giống với ảnh
hưởng của Levamisole được thể hiện qua bảng 3 và 4. Tương tự như kết quả về chỉ
102,41±1,00
b
150 mg/kg LT
29,94±0,38
a
52,18±0,58
b
74,40±1,32
a
98,54±1,57
a
250 mg/kg GĐ
30,18±0,14
a
54,55±0,34
c
81,54±0,40
b
105,77±0,42
c
1,61±0,00
c
150 mg/kg GĐ
82,22±1,11
b
0,86±0,01
bc
1,46±0,02
b
1,51±0,008
a
150 mg/kg LT
80,00±0,96
b
0,81±0,02
ab
1,41±0,03
ab
1,55±0,00
b
250 mg/kg GĐ
Nghiên cứu về ảnh hưởng của Levamisole đã được tiến hành trên một số đối
tượng thủy sản. Theo nghiên cứu của Sajid Maqsood et al., (2009) bổ sung
Levamisole trong thức ăn ở 4 nghiệm thức (đối chứng, 125 mg, 250 mg, 500 mg/kg
thức ăn) ở cá giống Cyprinus carpio. Kết quả thí nghiệm cho thấy tốc độ tăng
trưởng (SGR) ở nghiệm thức 250 mg/kg thức ăn tăng cao nhất (2,67%) và thấp nhất
ở nghiệm thức đối chứng (1,82%). Hệ số FCR tốt nhất ở nghiệm thức 250 mg/kg
thức ăn (1,81), tiếp theo là 500 mg/kg (1.85), 100 mg/kg (2,02) và nhóm đối chứng
(2,32), khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức với nhau (p<0,05). So
với kết quả này thì thì kết quả thí nghiệm của đề tài cũng tương tự, bổ sung
Levamisole ở nghiệm thức 250 mg/kg thức ăn cho ăn gián đoạn thì các chỉ tiêu tăng
trưởng đạt cao hơn so với các nghiệm thức khác.
Hiện nay có một số nghiên cứu giữa levamisole và hợp chất khác lên động
vật thủy sản. Theo nghiên cứu của Milad Kasiri et al., (2011) ảnh hưởng của
11
Levamisole và Echinacea purpurea trong thức ăn trên cá (Pterophyllum scalare)
gồm 3 chế độ cho ăn (đối chứng, bổ sung 0,25 ppt Levamisole (T1), bổ sung 0,25
ppt Echinacea purpurea chiết xuất (T2)). Tăng trưởng của cá ở chế độ cho ăn bổ
sung 0,25 ppt Levamisole (T1), bổ sung 0,25 ppt Echinacea purpurea chiết xuất (T2)
là cao hơn so với nghiệm thức đối chứng, (p>0,05). Tương tự như nghiên cứu của
Ayyaru and Arul (2006) về sự ảnh hưởng của chitin (10 g/kg thức ăn), chitosan (10
g/kg thức ăn) và Levamisole (0,25 g/kg thức ăn) lên sự tăng trưởng của cá cho kết
quả tăng trưởng khi bổ sung Levamisole vào thức ăn tương đối cao, chỉ sau
chitosan. Ngoài ra, ở ngày 45 của thí nghiệm trên, nghiệm thức sử dụng Levamisole
cho tỉ lệ sống là khá cao (66,7%) khi cảm nhiễm vi khuẩn A. hydrophila gây bệnh
xuất huyết.
Ngoài Levamisole thì có hợp chất FOS cũng làm tăng các chỉ tiêu tăng
trưởng của cá tra. Như theo nghiên cứu của Lê Thị Mai Anh, (2013) bổ sung FOS
vào thức ăn ở 5 nghiệm thức (đối chứng, 0,5%, 1,0%, 1,5%, 2%) kết quả thí nghiêm
cho thấy các chỉ tiêu tăng trưởng khi bổ sung FOS với nồng độ 0,5% và 1,0% cao
Azarakhsh Shahidi, Vahabzade H, Zamini A, Sadeghpour A., 2011 The Effect of
Levamisole on the Immune Response of Fingerling Grass Carp (Ctenopharyngodon
idella) International Conference on Medical, Biological and Pharmaceutical
Sciences (ICMBPS'2011) Pattaya Dec.: 511- 514.
Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010. Một số vấn đề về sinh lý cá và giáp xác.
NXB Nông nghiệp. 152 trang.
Findlay, V.L. and B.L. Munday, 2000. The immunomodulatory effects of levamisole on
the nonspecific immune system of Atlantic salmon, Salmo salar L. Journal of Fish
Disease, 23: 369-378.
Milad Kasiri, Farahi A., Sudagar M., 2011 Effects of supplemented diets by levamisole
and Echinacea purpurea extract on growth and reproductive parameters in angelfish
(Pterophyllum scalare). AACL Bioflux 4(1):46-51.
Mulero, V., M.A. Esteban, J. Munoz and J. Meseguer, 1998. Dietary intake of levamisole
enhances the immune responses and disease resistance of the marine teleost
gilthead seabream (Sparus aurata L.). Fish Shellfish Immunolo, 8: 49-62.
Lê Thị Mai Anh, 2013. Ảnh hưởng của Fructcoligo Saccharide trong thức ăn lên một số
chỉ têu sinh lý và tăng trưởng của cá tra giống (Pangasianodon hypophthamus).
Luận văn tốt nghiệp cao học ngành Nuôi trồng thủy sản. Đại học Cần Thơ. Cần
Thơ.
Perera, H.A.C.C. and A. Pathiratne, 2008. Enhancement of immune responses in Indian
carp, Catla catla, following adistration of levamisole by immersion, pp. 129-142.
In: M.G.Bondad-Reantaso, C.V. Mohan, M. Crumlish and R.P. Subasinghe
(Editors). Diseases in Asian Aquaculture VI. Fish Health Section, Asian Fisheries
Society, Manila, Philippines. 505 pp.
Sajid Maqsood, Samoon M. H., Singh B., 2009 Immunomodulatory and growth
promoting effect of dietary levamisole in Cyprinus carpio fingerlings against the
challenge of Aeromonas hydrophila. Turkish Journal of Fisheries and Aquatic
Sciences 9:111-120.
Sakai, M., 1999. Current research status of fish immunostimulants. Aquaculture, 172: 63-
92.