0
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
DƯƠNG THỊ THANH TUYỀN
ẢNH HƯỞNG THUỐC TRỪ SÂU CYPERMETHRIN LÊN
TĂNG TRƯỞNG CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon) GIAI
ĐOẠN TÔM GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGs. Ts ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG 2014
1
o
C, 28
o
C and 32
o
C), the volume of shrimp
increased in all treatments. In the same temperature, the survival rate of shrimp inversely
proportional to the concentration of the drug, the survival rate decreased from levels 0
µg/L to 0,17 µg/L. In terms of temperature, the survival rate of shrimp the higher at
temperatures 28
o
C (80,83 ± 5,57%), followed by 22
o
C (40,83 ± 7,63%) and lowest in 32
o
C
(36,67 ± 13,87%). Cycle molting of shrimp average in all treatments 0 µg/L, 0,017 µg/L,
0.086 µg/L and 0.17 µg/L equal 8,56 ± 0,31, 8,67 ± 0,47, 8,57 ± 0,2 and 8,61 ± 0,22 days.
At a temperature of 28
o
C and 32
o
C molting cycle were similar (8,49 ± 0,23 and 8,44 ±
0,27 days) and at a temperature of 22
o
C have the molting longest cycle (8,88 ± 0,21
days). Thus, in this experiment cypermethrin concentrations are inversely proportional to
the survival rate of shrimp, unknown effect on growth and molting cycle of prawn. Weight
gain of shrimp proportional to temperature and molting cycle of prawn shorter when the
temperature rises.
o
C) thì khối lượng tôm
cũng tăng ở tất cả các nghiệm thức. Trong cùng nhiệt độ thì tỷ lệ sống của tôm giảm tỉ
lệ nghịch với nồng độ thuốc, tỷ lệ sống giảm dần từ nồng độ 0
g/L đến 0,17
g/L. Xét
2
về nhiệt độ thì tỷ lệ sống của tôm cao ở nhiệt độ 28
o
C (80,83±5,57%), kế đến là 22
o
C
(40,83±7,63%) và thấp nhất là ở 32
o
C (36,67±13,87%). Chu kỳ lột xác của tôm trung bình ở
các nghiệm thức 0,0
g/L, 0,017
g/L, 0,086
g/L và 0,17
g/L tương đương nhau 8,56±0,31,
8,67±0,47, 8,57±0,2 và 8,61±0,22 ngày. Ở nhiệt độ 28
o
C và 32
giống" để xác định nồng độ nào của cypermethrin ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, chu kỳ
lột xác và tỉ lệ sống của tôm sú.
3 2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Địa điểm
Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được thực hiện tại bộ môn Dinh dưỡng và Chế
biến thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014.
2.2. Đối tượng thí nghiệm
Tôm 45-60 ngày tuổi có nguồn gốc từ trại sản xuất giống tại thành phố Cần Thơ,
khối lượng trung bình 0,09-0,1 g. Tôm mua về được thuần dưỡng trong bể có thể tích
2.000 lít khoảng 5-10 ngày để tôm ổn định và quen với điều kiện sống trong bể trước khi
bố trí thí nghiệm. Trong thời gian thuần hóa tôm được cho ăn 3 lần/ngày bằng thức ăn
viên công nghiệp (khoảng 3% trọng lượng thân). Tôm được chọn bố trí thí nghiệm có
kích cỡ đồng đều, khỏe và hoạt động mạnh.
Thuốc trừ sâu sử dụng là thuốc gốc cúc tổng hợp có tên thương mại là Cyperan
10 EC (hoạt chất cypermethrin) và có nồng độ hoạt chất là 100 g/L do Công ty cổ phần
BVTV An Giang sản xuất.
2.3. Phương pháp nghiên cứu:
Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của giá trị LC50-96 giờ lên tăng trưởng, tỉ
lệ sống và chu kỳ lột xác của tôm sú
Thí nghiệm được bố trí trong bể kính 180 L với 60 L nước mật độ bố trí khoảng
15-20 con/bể. Tôm sau khi dưỡng thì được thuần nhiệt. Giảm nhiệt độ của nước thí
nghiệm 2
o
C mỗi giờ đến khi đúng nhiệt độ yêu cầu thí nghiệm, để khoảng 2-3 ngày cho
tôm ổn định thì tiến hành cho thuốc vào các nghiệm thức. Sử dụng hệ thống làm lạnh ở
22
Trong thời gian thí nghiệm bể có sục khí và cho tôm ăn thức ăn viên công nghiệp
của công ty CP (35% đạm), cho ăn thỏa mãn theo nhu cầu, thức ăn thừa được vớt ra để
tránh làm dơ nước. Trong thời gian thí nghiệm thay nước hàng ngày khoảng 30% (nước
có pha thuốc). Theo dõi các hoạt động hàng ngày ở các bể thí nghiệm. Ghi nhận số
lượng và thời gian tôm chết, tôm chết sẽ được lấy ra để tránh làm ảnh hưởng đến môi
4
trường nước trong bể thí nghiệm. Sau 60 ngày, ghi nhận số tôm còn lại trong bể để tính
tỉ lệ sống, tổng khối lượng tôm của mỗi bể. Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, DO
đo 2 lần/tuần bằng máy đo (lúc 8
h
và 14
h
), độ mặn, NO
2
-
, NO
3
-
và NH
3
đo định kỳ 10
ngày/lần phân tích trong phòng thí nghiệm và đo trước khi cho thuốc vào bể.
Các chỉ tiêu theo dõi
Chu kỳ lột xác
Bố trí trong túi lưới 1 con/túi khoảng 5 túi trong 1 bể. Theo dõi và ghi nhận số
tôm lột xác hàng ngày trong suốt quá trình thí nghiệm, chu kỳ lột xác được tính từ thời
gian lột xác lần đầu cho tới khi lột xác lần kế tiếp.
Tỉ lệ sống (%):Tỉ lệ sống = (số tôm còn lại sau thí nghiệm/ số tôm ban đầu) x
100.
được theo dõi trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả các yếu tố môi trường (bảng 2)
đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng của tôm, và không có sự khác biệt
lớn giữa các bể thí nghiệm, pH:7,67±0,14-7,93±0,13, DO: 5,9±0,5-7,9±0,7 mg/L, NH
3
:
0,007±0,003-0,01±0,04 mg/L, NO
2
: 0,63±0,20-1,19±0,16 mg/L, NO
3
: 0,08±0,03-
5
0,27±0,04 mg/L đều nằm trong khoảng thích hợp (Boyd, 1992) không làm ảnh hưởng đến
kết quả thí nghiệm. Bảng 2: Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm
Nhiệt độ Nghiệm thức NO
2
(mg/L) NO
3
(mg/L) NH
3
(mg/L) pH
Oxy
(mg/L)
22
o
C
NT 1
7,80±0,21
7,8±0,7
NT 4
0,74±0,23
0,11±0,04
0,009±0,003
7,83±0,2
7,9±0,7
28
o
C
NT 5
0,74±0,18
0,14±0,06
0,008±0,004
7,83±0,21
0,14±0,02
0,008±0,003
7,79±0,23
6,3±0,4
32
o
C
NT 9
0,95±0,24
0,27±0,04
0,009±0,003
7,84±0,17
5,9±0,5
NT 10
0,98±0,27
0,26±0,01
0,01±0,04
3.2.1. Ảnh hưởng của cypermethrin đến tỉ lệ sống
Từ bảng 3 thì sau 60 ngày thí nghiệm tôm ở nghiệm thức đối chứng hoạt động
bình thường và có tỉ lệ sống cao hơn so với các nghiệm thức có thuốc. Ngoài ra, ở thí
nghiệm này có sự tương tác giữa nhiệt độ và nồng độ thuốc trừ sâu. Ở các mức nhiệt độ
22
o
C, 28
o
C và 32
o
C thì tỷ lệ sống cao nhất là NT đối chứng và thấp nhất là NT 0,17
μg/L.
6
Bảng 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ và nồng độ thuốc cypermethrin lên tỉ lệ
sống của tôm sú giai đoạn giống
Nhiệt độ Nồng độ Tỉ lệ sống (%)
22
o
C
0,0 μg/L 48,33±2,89
e
0,017 μg/L 35,00±5,00
c
0,086 μg/L 28,33±2,89
ab
0,17 μg/L 25,00±0,00
a
N
ồ
ng đ
ộ
Nhiệt độ
Nồng độ (x) nhiệt độ
P<0,01
P<0,01
P<0,01
Các giá trị trung bình trong cùng một cột theo sau bởi các chữ cái in thường khác nhau thì khác biệt
có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Như vậy, nồng độ thuốc tỉ lệ nghịch với tỉ lệ sống của tôm nuôi trong thời gian
thí nghiệm. Theo Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Anh Tuấn (1997) thì ĐVTS khi tiếp
xúc với các mức nồng độ độc chất khác nhau dưới ngưỡng gây chết khi đó ĐVTS sẽ
tăng cường hô hấp thông qua việc hấp thu oxy vào máu và qua đó độc tố của thuốc cũng
được hấp thu vào cơ thể nhiều hơn. Thí nghiệm của Nguyễn Thanh Phương và ctv
(2010) về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thuộc nhóm cúc tổng hợp chứa hoạt chất
deltamethrin lên tôm sú cũng cho kết quả tương tự, tỉ lệ chết của tôm ở nồng độ 50%
LC
các hoạt động hô hấp và trao đổi chất của tôm sẽ diễn ra nhanh hơn, từ đó làm tăng khả
năng hấp thu độc chất vào cơ thể (Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010).
Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2009) cho rằng nhiệt độ trong ao nuôi
cần giữ giới hạn từ 25-30
o
C và nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến tôm như nhiệt độ cao
kích thích tôm ăn nhiều và cơ thể hoạt động mạnh và nếu nhiệt độ thấp thì tôm giảm ăn,
hoạt động cơ thể yếu và giảm ăn nếu nhiệt độ dưới 24
o
C. Tuy nhiên, nhiệt độ cũng có
ảnh hưởng khác như làm biến đổi hoạt tính của hoá chất và các chỉ tiêu lý hóa học của
môi trường thí nghiệm dễ bị thay đổi. Như vậy cùng với nồng độ thuốc thì nhiệt độ sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ sống của tôm, ở nhiệt độ cao và nồng độ thuốc cao thì tỉ lệ
sống của tôm là thấp nhất, nhưng ở nhiệt độ thấp và nồng độ cao thì tỉ lệ sống của tôm
cũng thấp hơn ở nhiệt độ bình thường.
3.2.2. Ảnh hưởng của cypermethrin đến tăng trọng của tôm
Khối lượng trung bình ban đầu của tôm bố trí ở các nghiệm thức dao động trong
khoảng 0,10-0,14 g/con và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Sau 60
ngày thí nghiệm thì khối lượng trung bình của tôm dao động từ 0,57-1,92 g/con được thể
hiện ở hình 1 và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Trong cùng nhiệt độ 22
o
C ở
nồng độ 0,17 µg/L (50% LC
50
-96h) tôm có độ tăng trọng cao nhất (0,963±0,06 g) và ở 2
nghiệm thức 25% và 5% tôm có độ tăng trọng tương đương nhau, tương ứng là 0,52 g và
0,45 g và tương đương với nghiệm thức đối chứng và sự khác biệt này cũng không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05). Ở thí nghiệm 28
o
C thì nghiệm thức có nồng độ 0,017 µg/L có
(p<0,05). Trong khi đó, nghiên cứu của Đỗ Thị Thanh Hương (1999) về ảnh hưởng của
của Basudin 40EC (40% hoạt chất diazinon) ở nồng độ dưới ngưỡng gây chết làm giảm
tăng trọng của 3 loài cá chép, rô phi, mè vinh và tốc độ sinh trưởng của 3 loài cá càng
giảm theo sự gia tăng của nồng độ. Hoạt chất này cũng làm tốc độ tăng trưởng của tôm
càng xanh bị giảm ở nồng độ 50% LC
50
-96 giờ (195 µg/L) so với đối chứng (Ngô Thanh
Toàn, 2009. Tuy nhiên có thể do đây là các loại thuốc trừ sâu này không cùng một nhóm
và tác động lên các loài tôm, cá khác nhau nên kết quả không giống nhau. Có thể hoat
chất cypermethrin này khi vào trong nước chuyển hóa thành dang hoạt chất khác, hoặc
chất này tồn lưu bám vào đất hoặc các giá thể vì vậy sẽ giảm ảnh hưởng đén tôm ở giai
đoạn này.
9
Hình 2. Tăng trọng của tôm qua các mức nhiệt độ
Khi xét về nhiệt độ, nghiệm thức đối chứng (0 µg/L) ở nhiệt độ 22
o
C có mức
tăng trọng thấp nhất (0,49±0,11 g), kế đến là nhiệt độ 28
o
C (1,16±0,47 g), mức tăng
trọng cao nhất là ở nhiệt độ 32
o
C (1,61±0,15 g). Ở các nghiệm thức có thuốc thì độ tăng
trọng của tôm tăng dần theo sự gia tăng của nhiệt độ (hình 2), ở 22
o
C có mức tăng trọng
thấp nhất (0,61±0,23 g), kế đến là nhiệt độ 28
o
. Do đó mật độ nuôi cũng là một trong những
nhân tố ảnh hưởng đến tăng trọng của tôm trong thí nghiệm này. Mặc dù sự thay đổi
nhiệt độ không ảnh hưởng đến kết quả của nồng độ thí nghiệm và ngược lại. Tuy nhiên,
qua hình 2 cho thấy rằng ở nhiệt độ thấp và nồng độ thấp thì tăng trọng của tôm thấp (ở
22
o
C nghiệm thức 0 µg/L là 0,49 g) và ở nồng độ cao và nhiệt độ cao thì tôm có độ tăng
trọng cao hơn (ở 32
o
C nghiệm thức 0,17 µg/L là 1,79 g). Nhưng do tôm nuôi có sự phân
đàn lớn nên không thấy tương tác giữa nhiệt độ và nồng độ.
3.2.3. Ảnh hưởng của cypermethrin đến chu kỳ lột xác của tôm
Sau 60 ngày thí nghiệm, tôm có hơn 5 lần lột xác, trung bình dao động từ
5,67±0,03 lần ở nghiệm thức 22
o
C+0,017 μg/L, và cao nhất ở nghiệm thức 28
o
C+0,086
μg/L là 5,98±0,05 lần. Số lần lột xác của tôm tỉ lệ nghịch với chu kỳ lột xác, nghĩa là số
lần lột xác càng cao thì chu kỳ lột xác càng ngắn và ngược lại. Trung bình chu kỳ lột xác
của tôm ở lần 1 dao động từ 3,25 đến 3,89 ngày, lần thứ 2 từ 5,42 đến 6,11 ngày, lần thứ
3 từ 7,48 đến 9,00 ngày, lần thứ 4 từ 10,33 đến 12,67 và lần thứ 5 từ 14,78 đến 15,94
ngày.
Chu kỳ lột xác của tôm phụ thuốc rất nhiều vào điều kiện dinh dưỡng và môi
trường nước. Càng về sau chu kỳ lột xác của tôm càng dài ra, cũng phù hợp với qui luật
sinh trưởng của tôm là chu kỳ lột xác sẽ ngắn ở giai đoạn tôm con và kéo dài khi tôm
10
càng lớn (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2009). Chu kỳ lột xác của tôm ở các nghiệm
thức được trình bày trong hình 3 trung bình chu kỳ lột xác dao động từ 8,33±0,11 ngày ở
quả tương tự.
Về nhiệt độ, trung bình chu kỳ lột xác của tôm ở các ngiệm thức có mức nhiệt độ
28 và 32
o
C tương đương nhau (8,49±0,23 và 8,44±0,27 ngày) và không có sự khác biệt
ngoại trừ trung bình của các nghiệm thức ở nhiệt độ 22
o
C có chu kỳ lột xác dài nhất
(8,88±0,21 ngày) và có sự khác biệt với 2 nghiệm thức trên.
11 Bảng 4. Ảnh hưởng của nhiệt độ và nồng độ cypermethrin lên chu kỳ lột xác
của tôm sú
Nhân tố Chu kỳ lột xác (ngày
Nồng độ
Đối chứng 8,56±0,31
a
0,017 μg/L 8,67±0,47
a
0,086 μg/L 8,57±0,2
a
0,17 μg/L 8,61±0,22
a
Nhiệt độ
thích tôm tăng trưởng nhanh hơn, còn tôm ở nghiệm thức đối chứng mặc dù có lột xác
nhưng tôm chậm phát triển. Sự tăng hay giảm nồng độ không làm ảnh hưởng đến kết
quả của chu kỳ lột xác ở các nghiệm thức nhiệt độ và ngược lại.
4. Kết luận và đề xuất
4.1. Kết luận
Tỷ lệ sống của tôm giảm dần khi nồng độ cypermethrin tăng (0; 0,017; 0,086;
0,17 µg/L). Tỷ lệ sống của các nghiệm thức có cùng nhiệt độ giảm dần theo mức nhiệt
độ 28, 22, 32
o
C tương ứng là 88,83; 40,83 và 36,67%.Tăng trọng của tôm tăng dần theo
sự gia tăng của nhiệt độ. Nồng độ cypermethrin dưới ngưỡng gây chết (50% LC
50
-96h)
không ảnh hưởng đến tăng trọng của tôm.Kết quả của nghiên cứu không thấy rõ ảnh
hưởng của cypermethrin lên chu kỳ lột xác của tôm thí nghiệm nhưng chu kỳ lột xác
ngắn khi nhiệt độ tăng.
4.2. Đề xuất
12
Cần tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của cypermethrin kết hợp với các yếu tố môi
trường khác như: pH và các độ mặn khác nhau nhằm đưa ra những khuyến cáo chính
xác hơn cho từng vùng nuôi (có độ mặn khác nhau).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Berg H (2001). Pesticide use in rice and rice-fish farms in the Mekong Delta, Vietnam.
Crop Protection20: p 897-905
Boyd, C.E. 1990. Water quality in ponds for aquaculture. Auburn, Alabama, USA,
Alabama Agricultural Experiment Station.
Cao Thành Trung, Nguyễn Văn Hảo và Lê Hồng Phước (2011). Thực trạng sử dụng
thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học trong ao nuôi thâm canh, vấn đề tôm bệnh
trên diện rộng ở các mô hình trang trại ở Mỹ Thanh, Sóc Trăng. Viện NTTS II.
hưởng của cypermethrin ở các nồng độ khác nhau lên tỉ lệ sống và hiện tượng hoại
tử cơ quan gan tụy trên tôm sú nuôi trong điều kiện thực nghiệm trong nhà kín. Kỷ
yếu hội nghị khoa học Thủy sản Toàn quốc. Đại học Nông Lâm TPHCM, 2011.
trang 278-285.
13
Ostiz SB and Khan SU (1994). Nonextractable (bound). residues of cypermethrin in
soils. Bull Environ Contam Toxicol, 53:907-912
Trần Văn Hòa và Tần văn Đởm (2001), Kỹ thuật thâm canh tôm sú công nghiệp. Nxb trẻ
Trương Quốc Phú, Nguyễn Lê Hoàng Yên và Huỳnh Trường Giang (2006). Giáo trình
quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản. Đại Học Cần Thơ. 199 trang.
World Health Organization (WHO) (1989). Cypermethrin. Environmental Health
Criteria 82. Geneva, Switzerland: United Nations Environment Programme,
International Labor Organization, and WHO.