THỰC TRẠNG THỰC TẬP SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐHNN-ĐHQG HÀ NỘI
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực tập sư phạm (TTSP) là một hoạt động đặc biệt quan trọng không chỉ
đối với sinh viên sư phạm mà còn đối với các chính bản thân các trường sư
phạm. Thông qua TTSP, nhà trường sư phạm có được những đánh giá tương
đối khách quan về sản phẩm đào tạo của mình; nhờ đó, họ có được cơ sở để
nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi của xã hội với ngành
giáo dục. Đối với sinh viên các trường sư phạm, TTSP là cơ hội để đem các
kiến thức đã tích lũy được trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm vận dụng
vào công tác giảng dạy và giáo dục. Cũng thông qua TTSP, sinh viên được tiếp
tục hoàn thiện trình độ, năng lực cũng như là nhân cách của một người giáo
viên. Thời điểm TTSP cũng là thời điểm sinh viên hình thành rõ nhất tình cảm
và thái độ đối với nghề giáo.
Mặc dù TTSP có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với cả giáo
sinh thực tập và các trường sư phạm, hiện nay, trong trường ĐHNN-ĐHQG Hà
Nội chưa có một đề tài nghiên cứu chính thức nào đánh giá lại thực trạng TTSP
nói chung và hiệu quả TTSP của sinh viên trong trường nói riêng. Chính vì
vậy, việc đưa ra các đề xuất nâng cao hiệu quả TTSP trong trường có thể nói là
còn thiếu một cơ sở lý luận và thực tiễn cần thiết. Đứng trước vấn đề này,
chúng tôi quyết định chọn đề tài “Thực trạng thực tập sư phạm của sinh viên
năm thứ 4 năm học 2003-2004 trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội” làm đề tài
nghiên cứu khoa học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ hướng vào các mục tiêu nghiên cứu cụ
thể như sau:
1
Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về thực tập sư phạm, vai trò,
nhiệm vụ và nội dung cơ bản mà thực tập sư phạm cần đạt được.
Khảo sát thực tiễn công tác thực tập sư phạm của sinh viên trường
4.4. Phương pháp thống kê
Các kết quả điều tra thu được sẽ được xử lý bằng phương pháp thống kê.
Phần nội dung
Chương i. Cơ sở lý luận
Theo Nguyễn Đình Chỉnh và Phạm Trung Thanh, TTSP là “một công
đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo người giáo viên, là thời gian người
giáo sinh được tiếp xúc trực tiếp với thế giới sinh động của hoạt động nghề
nghiệp, nhằm giúp giáo sinh củng cố, mở rộng, nâng cao…những gì đã được
học ở trường đại học” (Trg 16, 1996). TTSP có vị trí, vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình đào tạo giáo viên ở trường sư phạm. Có thể nói một cách
khái quát về vai trò của TTSP như sau: “Thực tập sư phạm là điều kiện cần
thiết để hình thành khuynh hướng nghề nghiệp-sư phạm, hình thành nhân cách
của người giáo viên tương lai, đó cũng là điều kiện để giúp trường sư phạm có
khả năng kiểm tra mức độ khuynh hướng nghề nghiệp của sinh viên.” (Điều I.
Quy chế thực tập sư phạm – Bộ giáo dục và đào tạo, ngày 10/4/1986).
TTSP, theo Nguyễn Đình Chỉnh (1991), phải thực hiện được bốn chức
năng chính: (1) chức năng học tập; (2) chức năng giáo dục; (3) chức năng phát
triển giáo dục và (4) chức năng thăm dò, chẩn đoán. TTSP muốn có hiệu quả
thì cần phải đảm bảo các nguyên tắc (1) tính hệ thống, liên tục; (2) tính nghề
nghiệp; (3) tính vừa sức với sinh viên và (4) tính giáo dục tư tưởng. Hai hình
thức TTSP chính là (1) hình thức TTSP có trưởng đoàn và giáo viên hướng dẫn
và (2) hình thức TTSP có trưởng đoàn và không có giáo viên hướng dẫn. Đề tài
đã khái quát lại những ưu và nhược điểm của cả hai hình thức này.
Trong đề tài NCKH này, chúng tôi cũng đã khái quát lại những nội dung
thực tập mà sinh viên sư phạm cần phải hoàn thành, đó là: Thực tập giảng dạy,
thực tập chủ nhiệm và thực tập tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Đồng
3
thời, đề tài cũng nêu cụ thể những yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả thực tập
sư phạm, sự hoàn thiện tri thức, nghiệp vụ sư phạm cũng như là thái độ, tình
cảm nghề nghiệp của giáo sinh. Đó là các yếu tố khách quan (học sinh, nội
Một số PP được xem là rất hiệu quả trong dạy học ít được sinh viên áp
dụng như PP phân vai, PP hợp tác, và đặc biệt là PP Project. 80% sinh viên
được hỏi không bao giờ hoặc hiếm khi sử dụng PP Project. Điều này có thể lý
giải được bởi các PP này đòi hỏi rất nhiều thời gian chuẩn bị (đặc biệt là PP
Project) và kinh nghiệm ứng phó với các tình huống bất ngờ (đặc biệt là PP
Phân vai). Vì thế, cũng khó có thể đòi hỏi sinh viên trong vòng 6 tuần thực tập
lại có thể thực hiện được điều này.
I. 3. Thực trạng sử dụng các phương tiện dạy học
Bảng phấn vẫn là phương tiện dạy học phổ biến nhất (79,26% tổng số
sinh viên “rất thường xuyên” sử dụng). Tiếp theo bảng phấn là băng đài, video,
tài liệu phát tay, và tranh ảnh cũng được sinh viên sử dụng ở mức cao (48%;
57% và 64% tương ứng cho mức “rất thường xuyên” và “thường xuyên”).
Trong khi đó, chỉ có 3,1% sinh viên có sử dụng máy chiếu với các tờ trong, và
tuyệt đối không một sinh viên nào lựa chọn máy chiếu với phần mền
Powerpoint. Điều này có thể lý giải được bởi không phải trường phổ thông nào
cũng có các phương tiện hỗ trợ cho việc sử dụng máy chiếu, và cũng không
phải sinh viên nào cũng có đủ trình độ kỹ thuật về vi tính để sử dụng các trang
thiết bị trên.
I. 4. Những thuận lợi, khó khăn trong công tác dạy học đối với giáo sinh
I.4.1. Các thuận lợi
Có thể thấy yếu tố thuận lợi lớn nhất và cũng là nguồn động viên lớn nhất
với các giáo sinh trong quá trình thực tập là sự ủng hộ của học sinh. 33,7%
tổng số sinh viên được hỏi cho rằng sự ủng hộ của học sinh đã tạo thuận lợi rất
nhiều cho họ trong quá trình dạy học và 42,8% nhận thấy những thuận lợi họ
có được từ sự ủng hộ của học sinh là nhiều. Có thể nói, những con số trên là
5
một đấu hiệu đáng mừng về một đợt thực tập rất có kết quả và ý nghĩa với các
giáo sinh.
Tiếp sau sự ủng hộ của học sinh, một thuận lợi không nhỏ khác nữa đối
với các giáo sinh thực tâp là sự hướng dẫn và ủng hộ nhiệt tình của giáo viên
Tuy nhiên năng lực học ngoại ngữ của học sinh phổ thông có vẻ như gây khó
khăn hơn so với tình cảm của chúng. 15% sinh viên cảm thấy đây là khó khăn
rất lớn đối với họ, và 23% cho rằng đây là khó khăn lớn.
Giáo viên hướng dẫn nhìn chung không phải là trở ngại lớn đối với
sinh viên. Việc thiếu nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn thực tập chỉ thấy ở
18% trong số họ, và việc không ủng hộ áp dụng PPDH mới cũng chỉ là vấn đề
lớn với 15% sinh viên. Số còn lại chỉ dừng ở mức vừa phải, ít, hay không bao
giờ.
II. Thực trạng thực tập chủ nhiệm
II.1. Kiến thức Tâm lý học (TLH) và Giáo dục học (GDH) với thực tập
chủ nhiệm
Cũng như thực tập dạy học, sinh viên có những đánh giá khá cao về sự
hỗ trợ của bộ môn TLH và GDH trong quá trình thực tập chủ nhiệm. 13% tổng
số sinh viên cho rằng họ được hỗ trợ rất nhiều và 30% cho rằng họ được hỗ trợ
nhiều bởi kiến thức của bộ môn này trong công tác thực tập chủ nhiệm. Tuy
nhiên, vẫn cần phải lưu lý 12% sinh viên cho rằng hai môn này chỉ có tác dụng
ít và 1% cho rằng hai môn không có tác dụng gì.
II.2. Học sinh
Nhìn chung, học sinh là yếu tố đặc biệt có ảnh hưởng đến thái độ, tình
cảm sư phạm của giáo sinh thực tập. Sự tin tưởng và thái độ tích cực của học
sinh có tác dụng to lớn đối với 90% tổng số giáo sinh thực tập được hỏi; tuy
nhiên, vẫn có tới 10% cho rằng sự thờ ơ của học sinh làm họ nản lòng.
II.3. Giáo viên hướng dẫn và nhà trường phổ thông
Phần lớn sinh viên gặp thuận lợi trong với giáo viên hướng dẫn và nhà
trường phổ thông. Biểu hiện là phần lớn trong số họ nhận được sự chỉ dẫn rất
7
nhiều, nhiều, hoặc vừa phải từ giáo viên hướng dẫn với các con số tương ứng là
10,15%, 36.96%, và 26,86%. Trường phổ thông cũng tạo điều kiện tốt cho giáo
sinh trong thực tập sư phạm. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng còn tồn tại
một số cản trở nhỏ trong công tác chủ nhiệm của các giáo sinh thực tập. Đó là
‘rất thường xuyên’ hoặc ‘thường xuyên’ sử dụng PP diễn giảng. Khoa Pháp là
khoa có số lượng không bao giờ sử dụng các PP tích cực ít nhất. Như vậy, ta có
thể thấy sự trênh lệch ở mức độ sử dụng các PPDH giữa các khoa, và điều dễ
nhận thấy là sinh viên khoa Anh và Trung (là khoa mà sinh viên được đánh giá
nói chung là năng động hơn) đã chứng tỏ sự nhanh nhạy hơn trong việc áp
dụng các PP mới.
II. Về phương tiện dạy học (PTDH)
PTDH cũng là một tiêu chí có sự khác biệt giữa các khoa. Có thể thấy,
khoa Anh vẫn là khoa có số lượng sử dụng các PTDH “hiện đại” cao nhất.
Trong khi đó, khoa Trung lại là khoa đi muộn nhất trong việc sử dụng các
PTDH hiện đại.
III. Những thuận lợi trong quá trình thực tập
Nhìn chung sinh viên các khoa đều tương đối thuận lợi trong quá trình
thực tập sư phạm, phần lớn sinh viên có rất nhiều, và nhiều thuận lợi với những
tỉ lệ rất cao. Tuy nhiên vẫn có một chút khác biệt giữa các khoa. Sinh viên khoa
Pháp may mắn hơn cả, 28% và 40% sinh viên khoa này gặp rất nhiều, và nhiều,
chiếm 68% tổng số sinh viên. Sinh viên khoa Anh lại là những người kém may
mắn nhất. Chỉ có 53% tổng số sinh viên khoa này gặp rất nhiều và nhiều thuận
lợi trong khi đó con số sinh viên không may mắn lên đến 16%.
IV. Các khó khăn trong quá trình thực tập
Sinh viên khoa Anh có vẻ tự tin hơn cả trong việc khẳng định mình, họ
cho biết họ gặp ít khó khăn hơn sinh viên các khoa khác với các vấn đề về năng
lực của chính mình. Trong khi đó, sinh viên khoa Pháp gặp nhiều khó khăn
nhất. Tương tự với các khó khăn do tình cảm của học sinh tạo ra, sinh viên
9
khoa Trung may mắn nhất với tỉ số đó là 0,25; tiếp sau khoa Trung là khoa Anh
với tỉ số 0,76; và sau khoa Nga với 0,81 là khoa Pháp với tỉ số rất lớn là 1,86.
Những khác biệt trong tình cảm và năng lực học ngoại ngữ của học
sinh với các môn ngoại ngữ là điều hoàn toàn rõ ràng phản ảnh xu thế học
ngoại ngữ hiện nay. Tiếng Anh đã không còn là môn ngoại ngữ độc tôn, thay
ĐHQG Hà Nội là cơ sở đào tạo giáo viên ngoại ngữ hàng đầu của cả nước.
Trong hơn 50 năm xây dựng và phát triển, trường gặt hái được những thành tựu
hết sức quan trọng trong công tác đào tạo giáo viên. Trong đó, ta không thể
không kể đến nỗ lực của nhà trường trong công tác tổ chức thực tập sư phạm.
Nhìn chung, sinh viên đi thực tập đánh giá khá cao công tác thực tập sư
phạm; phần lớn sinh viên cho rằng sau đợt thực tập sư phạm, các kỹ năng giảng
dạy, tổ chức lớp… đều tăng lên đáng kể và họ đều có thái độ tích cực đối với
nghề dạy học sau đợt thực tập sư phạm. Tuy nhiên, sinh viên cũng gặp phải
một số vấn đề không nhỏ trong quá trình thực tập sư phạm của mình. Những
khó khăn đó có thể xuất phát từ các lý do khách quan (từ phía học sinh, nội
dung chương trình giảng dạy phổ thông, giáo viên hướng dẫn,…) hay các lý do
chủ quan (như giáo sinh chưa được trang bị kỹ càng các kiến thức, kỹ năng dạy
học…). Dù là nguyên nhân gì, thì nó cũng có ảnh hưởng đến kết quả thực tập
sư phạm của sinh viên. Vì thế, chúng tôi đã đưa ra một số đề xuất nhằm ở mức
có thể, tăng cường hiệu quả của thực tập sư phạm ở trường ĐHNN-ĐHQG.
11